Tải bản đầy đủ
IV. Các thiết bị phụ trợ

IV. Các thiết bị phụ trợ

Tải bản đầy đủ

nhằm đảm bảo cho thao tác xuất nhập tại bồn chứa xăng dầu được thuận tiện và đảm bảo
an toàn trong việc chứa xăng dầu trong bể. Dưới đây là một số thiết bị phụ trợ thường
được sử dụng trong các bể chứa xăng dầu :
-

Cầu thang : để phục vụ cho việc đi lại lên xuống bồn chứa xăng dầu trong quá
trình thao tác tại bồn của công nhân giao nhận.

-

Lỗ ánh sáng : Được đặt trên nắp bể trụ đứng, có tác dụng để thông gió trước khi
lau chùi bồn, sửa chữa và kiểm tra bên trong bể.

-

Cửa người : Có tác dụng để đi vào trong bồn khi tiến hành lau chùi, sửa chữa, bảo
dưỡng bên trong bể.

-

Lỗ đo lường lấy mẫu : Có tác dụng để thả các thiết bị đo , thiết bị lấy mẫu trong
trường hợp xác định độ cao mức nhiên liệu và lấy mẫu nhiên liệu. Lỗ đo lường,
lấy mẫu nhiên liệu được lắp đặt trên mái bể trụ đứng.

-

Ống thông hơi : chỉ dùng trên các bể trụ đứng, để chứa dầu nhờn và DO, FO, ống
này có tác dụng điều hòa không gian hơi nhiên liệu của bể với áp suất khí quyển.

-

Ống tiếp nhận cấp phát : dùng để đấu nối với đường ống công nghệ tiếp nhận cấp
phát nhưng ống này được đặt ngay ở tầng thép thứ nhất của bể thép trụ đứng.

-

Van hô hấp và van an toàn :
 Van hô hấp : van hô hấp kiểu cơ khí dùng để điều hòa áp suất dư và chân
không trong bể chứa .
 Van hô hấp được lắp kết hợp với van ngăn tia lửa có tác dụng điều chỉnh bên
trong bể chứa trong giới hạn 2 atm đến 20 atm và ngăn tia lửa tử bên ngoài
vào trong bể.

13

 Van an toàn kiểu thủy lực : có tác dụng điều hòa áp suất dư hoặc chân không
trong bể chứa khi van hô hấp không làm việc. Dưới áp suất dư từ 5,5 – 6 atm
và chân không từ 3,5 – 4 atm.
-

Hộp ngăn tia lửa : được lắp trên bể chứa phía dưới van hô hấp loại không kết hợp
tác dụng ngăn chặn sự phát sinh ngọn lửa hoặc tia lửa bên trong bể.

-

Van bảo vệ : Có tác dụng hạn chế tổn thất mất mát nhiên liệu trong trường hợp
đường ống bị vỡ hoặc khi van 2 chiều chính của bể chứa bị hỏng hóc. Van bảo vệ
được lắp đặt ở đầu cuối ống tiếp nhận cấp phát quay vào phía trong bể chứa.

-

Bộ điều khiển của van bảo vệ : được lắp phía trên của ống tiếp nhận – cấp phát có
tác dụng để mở van bảo vệ, giữ nó ở tư thế mở và đóng van bảo vệ lại.

-

Van xi phông : có tác dụng định kỳ xả nước lắng lẫn trong bồn chứa.

-

Thiết bị đo mức nhiên liệu trong bể chứa : với mục đích tiết kiệm thời gian đo mức
nhiên liệu trong bể chứa. Đồng thời đảm bảo kiểm tra dễ dàng được mức nhiên
liệu.

-

Thiết bị cứu hỏa : phụ thuộc vào thể tích của bể chứa người ta có thể lắp đặt trên
bể đến 6 bình bọt cứu hỏa hỗn hợp và các bình bọt cố định, có tác dụng để đẩy bọt
khí cơ học vào bể khi trong bể xảy ra sự cố cháy.

-

Hệ thống tiếp địa : để tránh hiện tượng sét đánh vào bể. Trên bồn chứa thường
được hàn từ 3 – 6 cột thu lôi.

-

Hệ thống tưới mát : dùng để làm mát bể khi trời nắng to để giảm hao hụt xăng dầu
do bay hơi.

-

Hệ thống thoát nước.

1. Bơm
a. Bơm ly tâm
14

Nguyên tắc làm việc: Bơm ly tâm làm việc theo nguyên tắc ly tâm. Chất lỏng được
hút và đẩy cũng như nhận thêm năng lượng ( làm tăng áp suất ) là nhờ tác dụng của lực ly
tâm khi cánh guồng quay, khác với bơm piston làm việc nhờ sự chuyển động tịnh tiến của
piston.
Bộ phận chính của bơm là bánh guồng 1 trên có gắn những cánh có hình dạng nhất
định. Bánh guồng được đặt trong than bơm 2 ( có hình xoắn ốc ) và quay với vận tốc lớn.
Chất lỏng theo ống hút 3 vào tâm guồng theo phương thẳng góc rồi vào rãnh giữa các
cánh guồng và cùng chuyển động với guồng. Dưới tác dụng của lực ly tâm, áp suất của
chất lỏng tăng lên và văng ra khỏi guồng vào thân bơm ( phần rỗng giữa vỏ và cánh
guồng ) rồi vào ống đẩy 4 theo phương tiếp tuyến. Khi đó tâm bánh guồng tạo nên áp
suất thấp. Nhờ áp lực mặt thoáng bể chứa ( bể hở có áp suất khí quyển ) chất lỏng dâng
lên trong ống hút vào bơm. Khi guồng quay, chất lỏng được hút và đẩy liên tục, do đó
chất lỏng chuyển động đều đặn. Đầu ống hút có lưới lọc 5 để ngăn không cho rác và vật
rắn theo chất lỏng vào bơm gây tắc bơm và đường ống. Trên ống hút có van một chiều
giữ chất lỏng trên ống hút khi bơm ngừng làm việc. Trên ống đẩy có lắp van một chiều để
tránh chất lỏng khỏi bất ngờ đổ dồn về bơm gây va đập thủy lực có thể làm hỏng cánh
15

guồng và động cơ điện do bơm bất ngờ dừng lại. Ngoài ra trên ống đẩy còn lắp thêm một
van chắn để điều chỉnh lưu lượng chất lỏng theo yêu cầu.
Bơm ly tâm lúc khởi động không có khả năng hút chất lỏng, vì lực ly tâm xuất hiện
khi guồng quay chưa đủ để đuổi hết không khí ra khỏi bơm và ống hút, tạo ra độ chân
không cần thiết. Vì vậy, trước khi mở máy bơm phải mồi chất lỏng vào đầy bơm và ống
hút hoặc nếu có thể đặt bơm thấp hơn mực chất lỏng trong bể hút cho chất lỏng tự động
choán đầy thân bơm.
b. Bơm Piston

16

Bơm gồm hai phần chính:
17

-

Cơ cấu thủy lực là phần trực tiếp vận chuyển chất lỏng

-

Phần dẫn động là phần truyền năng lượng từ động cơ đến bơm, làm cho chất lỏng
chuyển động.

Nguyên lý làm việc: Trên đường ống hút và đẩy có bầu khí 2, 7 chứa không khí.
Nhờ bộ phận dẫn động, piston di động qua lại dọc theo xilanh trên một đoạn dài s gọi là
khoảng chạy cảu piston. Vị trí biên của piston về phía phải gọi là vị trí chết. Khi piston
chuyển động về phía phải làm tăng thể tích trong xilanh, nên áp suất giảm xuống thấp
hơn áp suất khí quyển. Dưới tác dụng của áp suất khí quyển lên mặt thoáng bể chứa, chất
lỏng dâng lên trong ống hút, qua van hút vào choán đầy xilanh, đó là quá trình hút. Khi
piston chuyển động ngược lại về phía trái, van hút đóng lại, van đẩy mở ra, chất lỏng
được đẩy từ xilanh vào ống đẩy, đó là quá trình đẩy.
c. Bơm cánh trượt

18

Nguyên lý của bơm cánh trượt: Cấu tạo bơm cánh trượt gồm vỏ 1, bên trong trục (rô
to) 2 có cánh xẻ rãnh theo hướng bán kính. Trong rãnh có đặt cánh trượt 3. Khi trục quay,
do sức ly tâm nên các cánh trượt văng ra phía ngoài ép sát với thành vỏ bơm, chia thân
bơm thành hai vùng hút và đẩy. Bơm cánh trượt thường có năng suất từ 2.5-60 l/s, áp suất
từ 100-200 mH2O, số vòng quay n= 500-1500 vòng/phút , hiệu suất bơm đạt từ 0.7-0.95.
Loại bơm này có ưu điểm hơn bơm piston là không có van, không có bầu khí và làm
việc ổn định, ít hư hỏng, có thể vận chuyển được chất lỏng nhớt. Ứng dụng chủ yếu để
bơm dầu và chất lỏng ở áp suất cao và các hệ thống tuần hoàn dầu bôi trơn của máy, vào
các bộ phận truyền động và dẫn động thủy lực.
d. Bơm trục vít
Bơm trục vít có lưu lượng từ 0.3 đến 800m3/h, áp lực từ 0.5-25at. Bơm này làm việc
êm, ổn định, tuổi thọ cao. Vì vậy nó được dùng rộng rãi trong công nghiệp. Nhược điểm
là khó chế tạo vì đòi hỏi độ chính xác cao, khó sửa chữa phục hồi.

Cấu tạo bơm trục vít:
a. Bơm một trục vít 1. Vỏ; 2. Giá đỡ; 3. Cửa hút; 4. Xilanh; 5. Trục vít; 6. Trục
cacđăng; 7,8. Khớp nối; 9. Hộp đệm kín; 10. Đệm kín; 11. Hộp chèn; 12. Ống lót; 13.
Thân ổ đỡ; 14. Trục chính.
b. Bơm hai trục vít: 1. Bánh dẫn động; 2. Bánh bị dẫn; 3. Thân bơm.
19

2. Van
 Van cửa:

Là một trong những loại van được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp. Van cửa
đóng dòng chảy khi chúng chắn ngang qua toàn bộ dòng chảy. Khi van được mở hoàn
toàn thì cửa của chúng không nằm trong dòng chảy của vật chất. Lúc này độ cản trở dòng
chảy của van là rất nhỏ có nghĩa là sự sụt áp hay mất năng lượng khi vật chất đi qua van
được hạn chế ở mức nhỏ nhất.
 Van cầu:

20

Dòng chảy đi qua van cửa là dòng chảy thẳng hướng. Trong van điều tiết dòng chảy
khi qua van bị chuyển hướng. Sự đổi hướng dòng chảy này tạo nên sự cuộn xoáy và áp
suất của dòng chảy qua van cũng bị giảm nhiều hơn, do đó năng lượng đòi hỏi để chuyển
chất lỏng qua van điều tiết cũng lớn hơn. Trong van điều tiết phần đáy của cửa van nằm
song song với hướng của dòng chảy. Trong van cửa, lực ma sát giữa vòng làm kín và van
chỉ được chấm dứt khi van được mở hoàn toàn. Còn trong van điều tiết cửa van không
trượt dọc theo bề mặt của vòng làm kín, do vậy mọi tiếp xúc giữa cửa van và vòng làm
kín sẽ chấm dứt khi bắt đầu có dòng chảy.
 Van màng

21

Loại van này dùng một màng ngăn bằng chất dẻo có tính đàn hồi để điều chỉnh
dòng chảy vật chất. Màng ngăn này có chốt nối với chốt đẩy. Chốt đẩy này chuyển động
22

lên xuống nhờ cần van. Khi chốt đẩy được hạ xuống thì nó sẽ nén màng ngăn chặt vào
vòng làm kín. Khi đó dòng chảy qua van sẽ chấm dứt. Nếu chốt đẩy được kéo lên thì
màng ngăn sẽ chuyển động theo và bắt đầu có dòng chảy chất lỏng đi qua van. Loại van
này có thể dùng cho cả hai mục đích là đóng và mở dòng chảy cũng như điều tiết dòng
chảy. Màng ngăn họat động như một màng làm kín để điều chỉnh dòng chẩy do sự tiếp
xúc của nó với phần chuyển động của van. Loại van này được dùng đối với các vật chất
có tính ăn mòn hay đối với các chất cần có độ sạch cao. Khi vận hành loại van này không
nên tác động những lực quá mạnh lúc đóng van vì điều này có thể làm kẹt màng ngăn ở
trong vòng làm kín và gây hư hại màng ngăn.
 Van bi

23