Tải bản đầy đủ
TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

Tải bản đầy đủ

- Số lượng bạch cầu bình thường, công thức bạch cầu không
có gì thay đổi
- Ở tuỷ xương: tế bào tuỷ bình thường, riêng mẫu tiểu cầu
tăng, nhất là những mẫu tiểu cầu đang sinh tiểu cầu (nguyên
tiểu cầu, mẫu tiểu cầu kiềm, mẫu tiểu cầu có hạt), điều này
nói lên tiểu cầu bị phá huỷ quá nhiều ở ngoại vi.
- Dấu hiệu dây thắt (+).

- Thời gian máu chảy kéo dài: thường có sự liên quan giữa
thời gian máu chảy với số lượng tiểu cầu trong máu. Do vậy,
thời gian máu chảy trở lại bình thường khi hết xuất huyết,
đồng nghĩa số lượng tiểu cầu đã tăng, tuy nhiên cũng có khi
thời gian máu chảy không tương xứng với mức độ xuất huyết.

- Thời gian co hồi cục máu kéo dài, bình thường sau 2 giờ
nhưng ở bệnh nhân này sau 4 giờ cục máu vẫn chưa co hoàn
toàn, xét nghiệm này rất có giá trị vì tỷ lệ gặp cao (92%).
- Mức độ tiêu thụ Prothrombin giảm, thường giảm <60 giây
(bình thường ≥ 60 giây)
- Đo độ đàn hồi cục máu đồ (TEG), chủ yếu là biên độ âm hẹp
(bình thường là ≥ 54mm), thường là dưới 54mm

- Thời gian Quick và phức hệ Prothrombin bình thường (12
giây và 100%).
- Kháng thể kháng tiểu cầu: bằng phương pháp đặc biệt
người ta phát hiện được kháng thể kháng tiểu cầu. Nếu phát
hiện được kháng thể này càng chắc chắn là xuất huyết tiểu
cầu tự miễn.

6. CHẨN ĐOÁN
6.1. Chẩn đoán phân biệt
Nói chung xuất huyết giảm tiểu cầu về đặc điểm đều giống các
xuất huyết có giảm tiểu cầu khác nên cần phân biệt với :
- Bệnh bạch cầu cấp: xuất huyết trong bệnh bạch cầu cấp cũng
giống như xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn nhưng ngoài xuất
huyết ra các triệu chứng như sốt, gan to, lách, hạch to đều nặng
nề hơn rất nhiều, đương nhiên khi xét nghiệm máu cũng như tuỷ
đều thấy sự thay đổi đặc trưng.

- Bệnh bạch cầu kinh thể tuỷ: trên lâm sàng ngoài xuất huyết
ra ta thấy lách rất to và xét nghiệm thấy bạch cầu tăng rất
cao và tăng tất cả các giai đoạn tăng trưởng của dòng bạch
cầu. Cần thiết làm thêm các xét nghiệm khác như P.A.L và
nhiễm sắc thể Philladelphie.
- Suy tuỷ xương: đây là bệnh khó phân định nhất. Ta phải dựa
vào tuỷ đề. Lưu ý trong suy tuỷ không có sự tăng mẫu tiểu cầu
đang sinh tiểu cầu.

6.2. Chẩn đoán xác định

• Dựa vào đặc tính xuất huyết, cách tiến triển và đặc biệt là

huyết đồ thấy giảm tiểu cầu nhưng tuỷ đồ lại tăng sinh
mẫu tiểu cầu đang sinh tiểu cầu. Chắc chắn hơn ta đi tìm
kháng thể kháng tiểu cầu

6.3. Chẩn đoán thể
Có nhiều cách phân loại thể bệnh dựa vào cách tiến triển ta
có thể phân ra một số thể sau đây:
- Thể ác tính: biểu hiện xuất huyết rầm rộ ở nhiều nơi cùng
một lúc đặc biệt là xuất huyết não, màng não gây tử vong
trong vài tuần mặc dù đã được điều trị.

- Thể cấp tính: bệnh xuất hiện lần đầu và có thể khỏi tự
nhiên trong vòng 1 tháng. Bệnh thường gặp ở trẻ em,
thường xảy ra sau khi uống một loại thuốc gì đó thường là
Sulfamid nên người ta thường nghĩ đến xuất huyết do thuốc.
- Thể bán cấp: bệnh thường tiến triển trong vòng ≥ 3 tháng

- Thể mạn tính: đây là thể hay gặp nhất bệnh tiến triển từng
đợt trong vòng 6 tháng hoặc nhiều năm.
- Thể xuất hiện từng lúc: bệnh xuất hiện từng đợt thời gian
cách nhau ngắn hay dài tuỳ ý nhưng giữa hai đợt số lượng
tiểu cầu và chất lượng trở lại hoàn toàn binh thường.

6.4. Chẩn đoán biến chứng
Thường thì bệnh tiến triển rất phức tạp khó lường trước
nhưng thường có hai biến chứng dẫn đến tử vong đó là: