Tải bản đầy đủ
Môi trường sinh thái là môi trường sống của các sinh vật và là nơi chúng thực hiện các hoạt động sống của mình. Nó rất quan trọng với các sinh vật nói chung và vật gây bệnh nói riêng, sự phát sinh phát triển của nấm bệnh không thể tách rời khỏi môi tr...

Môi trường sinh thái là môi trường sống của các sinh vật và là nơi chúng thực hiện các hoạt động sống của mình. Nó rất quan trọng với các sinh vật nói chung và vật gây bệnh nói riêng, sự phát sinh phát triển của nấm bệnh không thể tách rời khỏi môi tr...

Tải bản đầy đủ

41

Theo các nhà khí tượng, cứ lên cao 100 m thì nhiệt độ môi trường giảm 0.6 0C
kéo theo sự biến đổi của độ ẩm khi độ cao địa hình thay đổi. Nhiệt độ và độ
ẩm là hai yếu tố được các nhà khoa học nhận định có ảnh hưởng rất lớn tới sự
tồn tại, phát sinh và phát triển của bất cứ loại sinh vật nào trên trái đất. Đối
với nấm gây bệnh nhiệt độ luôn thay đổi làm ảnh hưởng tới sinh trưởng và
khả năng hoạt động của nấm trong một khoảng thời gian xác định, đặc biệt
nhiệt độ đóng vai trò là nhân tố quyết định trong thời kỳ ủ bệnh, trong một
phạm vi nhất định khi nhiệt độ càng cao thời kỳ ủ bệnh càng ngắn,15. Cùng
với yếu tố độ ẩm, chúng điều hoà quá trình xâm nhiễm của nấm gây bệnh và
có ý nghĩa rất lớn đối với sự nảy nầm của bào tử nấm cũng như sự phát triển
về sau của quá trình gây bệnh. Bào tử nấm nảy mầm đòi hỏi phải có giọt nước
hoặc độ ẩm bão hoà, hầu hết nấm gây bệnh yêu cầu độ ẩm không khí thường
trên 80%, nếu độ ẩm không khí tăng sẽ xúc tiến việc hình thành bào tử cũng
như ảnh hưởng tốt đến cường độ, số lượng bào tử sinh ra và ngược lại, khi độ
ẩm giảm đến một mức độ nào đó bào tử nấm sẽ ngừng sinh trưởng và phát
triển. Lượng nước ngầm và nước mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm
hiểu quy luật phát sinh, sinh trưởng và phát triển của nấm bệnh, có rất nhiều
loài nấm gây bệnh phát triển theo mùa mưa, những giọt nước làm thay đổi
hoá học một số chất như: Kali, canxi, hợp chất cacbon, chất kích thích sinh
trưởng tạo điều kiện cho bào tử nấm nảy mầm và sinh trưởng nhanh. Mặt
khác chúng cũng ảnh hưởng tới sự điều tiết nước trong cây, trong biên độ sinh
thái về nước, hàm lượng càng nhiều cây hút nước càng dễ, nước trong các tổ
chức cây chủ càng nhiều thì càng thuận lợi cho nấm bệnh phát triển, vì trong
sợi nấm có chứa 90% là nước và phương pháp dinh dưỡng của nấm là dị
dưỡng 16. Chính vì vậy, địa hình cũng không loại trừ ảnh hưởng của nó tới
sự sinh trưởng phát triển của nấm gây bệnh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
4.2.1.1. Ảnh hưởng của vị trí địa hình đến tỉ lệ bị bệnh

42

Tại khu vực nghiên cứu tiến hành lập các ô tiêu chuẩn ở 3 vị trí: Chân
đồi, sườn đồi, đỉnh đồi, thu thập số liệu về tỉ lệ bị bệnh, tính số liệu theo công
thức 2- 1 và kết quả nghiên cứu được thể hiện ở Biểu 4 – 2.
Biểu 4-2: Tỉ lệ bị bệnh tại các vị trí địa hình
Vị trí địa hình

Tỷ lệ bị bệnh (P%)

Chân đồi

8,41

Sườn đồi

6,94

Đỉnh đồi

2,61

Phân tích phương sai một nhân tố đã được sử dụng để so sánh tỉ lệ bị
bệnh có chịu sự ảnh hưởng của vị trí địa hình hay không, phương sai của biến
ngẫu nhiên Xi cần được kiểm tra có bằng nhau hay không theo tiêu chuẩn
Levene cho thấy xác xuất bằng 0.134 lớn hơn 0.05 do vậy phương sai của các
biến ngẫu nhiên là bằng nhau, điều kiện của bài toán phân tích phương sai
một nhân tố thoả mãn. Kết quả sử lý số liệu trong phân tích phương sai một
nhân tố được thể hiện Biểu 4-3 sau:
Biểu 4-3: Kết quả phân tích phương sai
Nguồn biến động
Biến động giữa các
nhóm
Biến động trong các
nhóm
Tổng

Tổng biến Bậc

Phương F tính Xác suất

động

tự do

sai

toán

Của F

236,748

2

118,374

3,731

0,032

1332,590

42

31,728

1569,338

44

Từ Biểu 4-3 cho thấy F tính toán = 3,731 với xác xuất F = 0,032 < 0,05
có nghĩa là tại các vị trí địa hình khác nhau, có tỷ lệ bị bệnh là khác nhau.
Tiến hành kiểm tra sự sai khác của từng cặp vị trí địa hình về tỉ lệ bị bệnh
theo tiêu chuẩn Bonferroni. Kết quả kiểm tra được trình bày ở Biểu 4-4

43

Biểu 4-4. Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỉ lệ bị bệnh theo địa hình
Cặp vị trí

Chênh lệch

Độ lệch

Xác suất

Địa hình so sánh

Trung bình

Chuẩn

của F

Sườn đồi

1,47000

2,05680

1,000

Đỉnh đồi

5,80308

2,25492

0,041

Chân đồi

-1,47000

2,05680

1,000

Đỉnh đồi

4,33308

2,00675

0,110

Chân đồi

-5,80308

2,25492

0,041

Sườn đồi

-4,33308

2,00675

0,110

Chân đồi
Sườn đồi
Đỉnh đồi

Qua Biểu 4-4, kiểm tra sự sai khác của từng cặp địa hình về tỷ lệ bị
bệnh theo tiêu chuẩn Bonferroni cho kết quả là cặp vị trí địa hình sườn đồi và
đỉnh đồi, cặp vị trí chân đồi và sườn đồi có xác suất F = 1,00 > 0,05 và F =
0,11 > 0,05, điều này có nghĩa rằng tỉ lệ bị bệnh của các cặp vị trí trên không
có sự sai khác. Cặp vị trí chân đồi và đỉnh đồi có sự sai nhau rất rõ rệt vì có
xác suất của F = 0,041 < 0,05.
Để tìm được vị trí địa hình có ảnh hưởng trội nhất đến tỉ lệ bị bệnh, tiến
hành so sánh tỉ lệ bị bệnh ở các vị trí địa hình khác nhau theo tiêu chuẩn
Duncan, kết quả so sánh được ghi ở Biểu 4-5.
Biểu 4-5: So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các vị trí địa hình
bằng trắc nghiệm Duncan
Vị trí địa hình

N

Đỉnh đồi
Sườn đồi
Chân đồi
Xác suất

13
20
12

Nhóm phụ với mức ý nghĩa  = 0,05
1
2
2,6069
6,9400
8,4100
1,000
0,490

44

Kết quả so sánh ở Biểu 4-5 cho thấy nhóm 2 tại vị trí sườn đồi và chân
đồi có tỉ lệ bị bệnh là gần như nhau với xác suất F = 0,490 và vị trí chân đồi
có tỉ lệ bị bệnh là lớn nhất với P = 8,41%, kết quả phân tích ở trên được thể
hiện rõ ở Hình 4-10.

Hình 4-10: Biểu đồ tỷ lệ bị bệnh ở các vị trí địa hình
Nguyên nhân dẫn đến mức chênh lệch đó là do sự khác nhau về nhiệt
độ và độ ẩm trên các dạng địa hình. Ở vị trí đỉnh đồi và sườn đồi có độ cao,
độ dốc lớn hơn, mức độ chiếu sáng ánh sáng trực xạ vào tán cây nhiều hơn
trong ngày nên nhiệt độ của môi trường tăng, độ dày tầng đất mỏng, dinh
dưỡng khoáng trong đất nghèo, lớp cây bụi thảm tươi ít và sinh trưởng yếu,
mực nước ngầm sâu. Chính vì những lí do trên đã làm độ ẩm giảm xuống, đây
là điều kiện bất lợi cho sự phát sinh, sinh trưởng và phát triển của nấm gây
bệnh. Ngoài ra do đỉnh và sườn có vị trí địa hình cao hơn so với chân đồi nên
bào tử nấm gây bệnh sau khi hình thành ở đỉnh và sườn se theo nước mưa trôi
xuống chân đồi và được giữ lại ở đó, do đó bào tử nấm ở đỉnh và sườn thấp
hơn so với ở chân đồi. Khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi hơn, các bào tử
nấm bắt đầu nảy mầm, xâm nhiễm và lập quan hệ kí sinh với cây chủ, chúng
sinh trưởng phát triển và gây bệnh. Tại vị trí chân đồi thường có độ dốc thấp,

45

quá trình xói mòn rủa trôi diễn ra chậm nên độ dày tầng đất lớn và độ màu mỡ
cao hơn ở đỉnh và sườn đồi, mực nước ngầm thấp, tán cây rậm rạp, độ tàn che
cao, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cây bụi thảm tươi, nguồn ánh sáng
trực xạ nhận được ít, ánh sáng tán xạ lớn trong ngày, lượng nước được giữ lại
ở tán cây và ở trong đất cao, nên độ ẩm tăng, nhiệt độ giảm tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh.
4.2.1.2. Ảnh hưởng của hướng phơi đến tỉ lệ bị bệnh
Cũng giống như nhân tố địa hình, hướng phơi là nhân tố có ảnh hưởng
lớn tới nhiệt độ và độ ẩm của đất, không khí. Ở các hướng phơi khác nhau sẽ
nhận được nguồn năng lượng nhiệt và ánh sáng từ mặt trời khác nhau. “Nhiệt
độ là đơn vị nhiệt lượng biến đổi theo chu kỳ ngày và đêm, theo mùa trong
năm, sự biến đổi của nhiệt độ kéo theo sự thay đổi của độ ẩm không khí và
đất từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và khả năng hoạt động của vật
gây bệnh không chỉ trên cây mà cả dưới mặt đất và trong đất” 7. Do vậy
hướng phơi đã ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình phát sinh, sinh
trưởng và phát triển của nấm bệnh.
Tại khu vực nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành lập các ô tiêu chuẩn theo
hướng phơi khác nhau, kết quả tính toán tỉ lệ bị bệnh thể hiện ở Biểu 4-6.
Biểu 4-6: Tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi
Hướng phơi

Tỉ lệ bị bệnh (P%)

Đông Bắc

4,88

Đông Nam

5,36

Tây Bắc

8,74

Tây Nam

4,15

Để thấy rõ được tỉ lệ bị bệnh có sự khác nhau hay không khi chịu ảnh
hưởng của hướng phơi, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh bằng tiêu

46

chuẩn phi tham số của Kruskal – Wallis. Kiểm định giả thuyết H0 theo tiêu
chuẩn của Kruskal – Wallis có xác suất của 2 = 0,039 < 0,05 nên giả thuyết
H0 bị bác bỏ, có nghĩa là tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi có sự khác nhau rõ rệt
hay các mẫu nghiên cứu là không thuần nhất, có nguồn gốc không phải rút ra
từ một tổng thể duy nhất. Điều này cũng được chứng minh qua phương pháp
phân tích phương sai một nhân tố, giá trị của F = 2,913 với xác suất của F =
0,046 < 0,05. Tiêu chuẩn Duncan được sử dụng trong phương pháp phân tích
phương sai một nhân tố để tìm ra hướng phơi có tỉ lệ bị bệnh lớn nhất, kết quả
so sánh được trình bày ở Biểu 4-7.
Biểu 4-7: So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi bằng trắc nghiệm Duncan
Hướng phơi

N

Nhóm phụ với mức ý nghĩa  = 0,05
1

2

Tây Nam

10

4,1500

Đông Bắc

14

4,8807

4,8807

Đông Nam

7

5,3614

5,3614

Tây Bắc

14

Xác xuất

8,7429
0,549

0,058

Kết quả so sánh từ Biểu 4-7 cho thấy ở nhóm 1 gồm các hướng phơi
Tây Nam có tỉ lệ bị bệnh nhỏ nhất, nhóm 2 có hướng phơi Tây bắc có tỷ lệ bị
bệnh lớn nhất với P = 8,74%. Các hướng phơi Đông bắc, Đông nam vừa ở
nhóm 1 và nhóm 2 mà không thể hiện rõ ràng như các hướng khác. Sự khác
nhau về tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi được thể hiện bằng biểu đồ Hình 4-11.

47

Hình 4-11: Biểu đồ tỉ lệ bị bệnh ở các hướng phơi
Hướng phơi Tây bắc có tỉ lệ bị bệnh lớn hơn các hướng Đông bắc,
Đông nam và Tây nam. Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch khác nhau này là
do biến trình của nhiệt độ không khí, đây là biến trình tuần hoàn. Thời điểm
nhiệt độ không khí đạt cực đại hàng ngày vào lúc 13h – 14h và đạt cực tiểu
vào lúc 5h – 6h (trước lúc mặt trời mọc).
Chuyển động biểu kiến của mặt trời là di chuyển từ Đông sang Tây,
nên lúc mặt trời mọc nguồn năng lượng chủ yếu cung cấp cho việc làm nóng
mặt đệm, bốc hơi các giọt sương đọng lại trên các cành lá,…làm giảm thời
gian cung cấp nhiệt vào buổi sáng cho lớp bề mặt hoạt động. Cho đến thời
điểm nhiệt độ không khí đạt cực đại lúc 13h – 14h, vào lúc này mặt trời chủ
yếu chiếu năng lượng ánh sáng cho hướng phơi Tây bắc, một phần cho hướng
Bắc, Đông bắc và Tây nam, trong khi đó hướng phơi Đông nam và Đông bị
khuất nắng, nên hướng phơi Tây bắc cũng như một số hướng khác giữ được
nguồn nhiệt lượng từ năng lượng ánh sáng mặt trời lớn tạo cho nhiệt độ không
khí cao hơn và thời gian dài hơn hướng phơi Đông, Đông nam. Chính vì vậy
làm cho tổng tích nhiệt ở hướng phơi Tây bắc cũng như hướng Bắc hay Đông

48

bắc lớn hơn hướng phơi Đông và Đông Nam. Khi nhiệt độ thay đổi đã kéo
theo sự thay đổi của độ ẩm không khí và đất, đặc biệt sự thay đổi này đã diễn
ra chậm và ổn định ở trong rừng dưới lớp bề mặt hoạt động là tán cây, khác
hẳn so với hệ sinh thái nông nghiệp hay ngoài nơi đất trống. Vì vậy đã tạo
điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh phát sinh, sinh trưởng và phát triển mạnh ở
hướng phơi Tây bắc.
4.2.1.3. Ảnh hưởng của độ dốc đến tỉ lệ bị bệnh
Tại khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành lập các ô tiêu chuẩn trên 3
cấp độ dốc khác nhau, kết quả nghiên cứu về tỉ lệ bị bệnh theo độ dốc được
thể hiện ở Biểu 4-8 sau:
Biểu 4-8: Tỷ lệ bị bệnh ở các cấp độ dốc
Độ dốc
< 200
200 - 300
> 300

Tỷ lệ bị bệnh
8,57
6,22
3,81

Phân tích phương sai một nhân tố đã được sử dụng để kiểm tra ảnh
hưởng của độ dốc đến tỉ lệ bị bệnh. Để phân tích phương sai cần tiến hành
kiểm tra điều kiện bằng nhau của các phương sai theo tiêu chuẩn Levene. Kết
quả tính toán cho thấy với xác suất = 0,665 > 0,05 có nghĩa là phương sai của
các biến ngẫu nhiên bằng nhau. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích phương sai,
kết quả phân tích được biểu hiện ở Biểu 4-9.
Biểu 4-9: Phân tích phương sai
Nguồn biến động
Biến động giữa
các nhóm
Biến động trong
các nhóm
Tổng

Tổng
Bậc tự Phương
biến động
do
sai
145,682

2

72,841

764,776

42

18,209

910,458

44

F
tính

Xác suất
của F

4,000

0,026

49

Kết quả tính toán ở Biểu 4-9. Phân tích phương sai một nhân tố có giá
trị của F = 4,000, xác suất của F < 0,05 nên giả thuyết H0 bị bác bỏ hay các
mẫu không được rút ra từ một tổng thể, có nghĩa tỉ lệ bị bệnh là khác nhau rõ
rệt ở các cấp độ dốc. Để biết được sự khác nhau về tỉ lệ bị bệnh theo độ dốc,
tiến hành kiểm tra sự sai khác của từng cặp độ dốc theo tiêu chuẩn
Bonferroni. Kết quả kiểm tra được thể hiện ở Biểu 4-10.
Biểu 4-10: Kiểm tra sự sai khác của từng cặp về tỉ lệ bị bệnh theo độ dốc
Cấp độ dốc so sánh

Chênh lệch

Độ lệch

Xác suất của

trung bình

chuẩn

F

Độ dốc

200 - 300

2,34589

1,61670

0,463

<200

Độ dốc >300

4,76206

1,69390

0,022

Độ dốc <200

-2,34589

1,61670

0,463

Độ dốc >300

2,41618

2,34589

0,326

Độ dốc

Độ dốc <200

-4,76206

4,76206

0,022

>300

200 - 300

-2,41618

-2,34589

0,326

0

20 - 30

0

Kết quả so sánh ở Biểu 4-10 có được cặp độ dốc < 200 và độ dốc > 300
có F = 0,022 < 0,05 là có sự sai khác rất rõ rệt, còn các cặp độ dốc khác
không có sự sai khác nhau vì có F > 0,05.
Tiêu chuẩn Duncan được sử dụng trong phương pháp phân tích phương
sai một nhân tố để tìm ra độ dốc có tỉ lệ bị bệnh lớn nhất, kết quả so sánh
được trình bày trong Biểu 4-11.
Biểu 4-11: So sánh tỉ lệ bị bệnh ở các cấp độ dốc bằng
trắc nghiệm Duncan
Nhóm phụ với mức ý nghĩa  = 0,05
Độ dốc
N
1
2
0
Độ dốc > 30
15
3,8107
200 - 300
19
6,2268
6,2268
Độ dốc < 200
11
8,5727
Xác suất
0,138
0,149

50

Từ kết quả tính ở Biểu 4-11 so sánh theo tiêu chuẩn Duncan cho thấy ở
nhóm 1 độ dốc từ 200 – 300 và độ dốc > 300 là có tỉ lệ bị bệnh gần như nhau,
ở nhóm 2 có độ dốc < 200 và độ dốc 20-300 cũng gần như nhau, Ở độ dốc
<200 có tỉ lệ bị bệnh lớn nhất là 8,57% .
Kết quả về tỉ lệ bị bệnh được Biểu thị bằng biểu đồ Hình 4-12.

Hình 4-12: Tỉ lệ bị bệnh ở các độ dốc khác nhau
Kết quả phân tích ở trên cho thấy tỉ lệ bị bệnh tỉ lệ nghịch với độ dốc, khi
độ dốc tăng lên thì tỉ lệ bị bệnh giảm dần. Sở dĩ có sự chênh lệch trên vì độ dốc
cũng như vị trí địa hình là yếu tố ảnh hưởng lớn tới quá trình rửa trôi và xói
mòn đất, ảnh hưởng tới quá trình điều tiết nhiệt của mặt đệm, lượng ánh sáng
mặt trời chiếu xuống, dinh dưỡng khoáng của đất, ngoài ra nó còn ảnh hưởng
lớn tới khả năng giữ nước cũng như thoát nước của đất. Ở vị trí địa hình có độ
dốc càng thấp thì quá trình đó diễn ra càng chậm do vây tạo nên tầng đất dày,
có độ phì và dinh dưỡng khoáng trong đất cao, tạo tầng thảm khô và mùn lớn
nên khả năng giữ nước tốt và độ ẩm cao hơn nhưng chính điều kiện này đã tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh. Ngược lại khi độ dốc tăng
thì quá trình xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh dần lên, độ dày tầng đất mỏng,
nghèo dinh dưỡng khoáng trong đất, độ màu mỡ và tầng mùn của lớp đất mặt

51

thấp, do vậy khả năng giữ nước kém hơn, độ ẩm môi trường thấp hơn. Cũng
nhờ có độ dốc cao thì bào tử nấm gây bệnh được sinh ra sẽ bị nước mưa cuấn
trôi tới nơi có địa hình độ dốc thấp, bào tử nấm được giữ lại ít hơn so với nơi
có địa hình độ dốc thấp. Chính vì vậy đây là những lí do làm cho nấm sinh
trưởng phát triển mạnh hơn ở những nơi có độ dốc thấp.
4.2.2. Ảnh hưởng của độ tàn che đến tỉ lệ bị bệnh
Ánh sáng cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng xâm
nhập của vật gây bệnh. Nhiều loài nấm chỉ nảy mầm dưới điều kiện ánh sáng
tán xạ, các tia sóng ngắn đều ức chế sinh trưởng phát triển của nấm. Tại khu
vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành lập các ô tiêu chuẩn có mức độ tàn che
khác nhau, sau khi tính toán kết quả thu được trình bày ở Biểu 4-12.
Biểu 4-12: Tỉ lệ bị bệnh ở các độ tàn che
Độ tàn che

Tỉ lệ bị bệnh (P%)

0 – 0,3

3,77

0,4 – 0,7

8,02

0,7 – 1

4,47

Sử dụng phương pháp so sánh bằng tiêu chuẩn phi tham số của Krukal
– Wallis để kiểm tra được tỉ lệ bị bệnh có khác nhau hay không khi chịu ảnh
hưởng của độ tàn che. Kết quả so sánh theo tiêu chuẩn phi tham số của Krukal
– Wallis có xác suất của 2 = 0,021 < 0,05 nghĩa là tỉ lệ bị bệnh ở các độ tàn
che có sự khác nhau, các mẫu nghiên cứu có nguồn gốc không phải được rút
ra từ một tổng thể duy nhất. Sự sai khác ở trên cũng được khẳng định thông
qua phương pháp phân tích phương sai một nhân tố có giá trị của F = 4,687
với xác suất của F = 0,015 < 0,05. Kết quả phân tích theo tiêu chuẩn Duncan
được thể hiện ở Biểu 4-13.