Tải bản đầy đủ
Thí nghiệm được thực hiện trên môi trường dinh dưỡng PDA, đặt trong tủ định ôn có các mức nhiệt độ khác nhau. Phương pháp thí nghiệm được tiến hành như sau:

Thí nghiệm được thực hiện trên môi trường dinh dưỡng PDA, đặt trong tủ định ôn có các mức nhiệt độ khác nhau. Phương pháp thí nghiệm được tiến hành như sau:

Tải bản đầy đủ

19

Đổ môi trường dinh dưỡng PDA đã nấu vào đĩa petri được khử trùng
dầy 2 – 3 mm, để nguội cho môi trường đông cứng lại, cấy giống nấm đã
được phân lập từ 10 – 12 ngày tuổi vào chính giữa hộp lồng rồi băng lại cho
kín. Xếp các hộp lồng vào tủ định ôn có nhiệt độ: 15oC± 1; 200C ± 1; 250C ±
1; 300C ± 1; 350C ± 1, mỗi tủ đặt 2 hộp lồng. Đo đường kính của khuẩn lạc
theo hai chiều vuông góc, lấy trị số trung bình và đo ở ngày thứ 3 - 6. Thí
nghiệm được lập lại 2 lần và lấy trị số bình quân làm đại diện cho thí nghiệm.
2.5.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến tốc độ sinh trưởng và phát
triển của khuẩn lạc
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp của Both.C. Dung dịch
NaCl được pha với các nồng độ khác nhau trong bình hút ẩm tạo cho chúng
ta có được các độ ẩm như sau:
NaCl (g/lít)
RH%

0

16

32

48

64

100

90

80

70

60

Dung dịch pha xong đổ vào bình hút ẩm loại lớn, đậy nắp lại để ở
phòng thí nghiệm, trong tối có nhiệt độ không khí khoảng 23 - 270C. Sau 3
ngày trong các bình hút ẩm khác nhau sẽ có độ ẩm không khí khác nhau, phụ
thuộc vào nồng độ của NaCl, khi nồng độ của NaCl càng lớn thì độ ẩm của
môi trường càng nhỏ và ngược lại nồng độ của NaCl càng nhỏ thì độ ẩm của
môi trường càng lớn. Môi trường PDA sau khi hấp khử trùng được đổ vào
hộp lồng đã được khử trùng một lớp dày 2 - 3 mm. Cấy giống nấm đã được
phân lập từ 10 - 12 ngày tuổi vào chính giữa hộp lồng bằng que cấy.Đặt hộp
lồng vào các bình hút ẩm có độ ẩm không khí khác nhau, mỗi bình ta đặt 2
hộp. Sau 3 ngày lấy hộp lồng đo đường kính khuẩn lạc theo hai chiều vuông
góc, lấy trị số bình quân của các hộp lồng đặt trong mỗi bình hút ẩm. Thí
nghiệm được lặp lại 2 lần.

20

2.5.3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến tốc độ sinh trưởng
phát triển của khuẩn lạc
Thí nghiệm được tiến hành trên môi trường dinh dưỡng PDA có độ pH
khác nhau. Dùng máy đo pH để xác định trị số pH của môi trường. Dung dịch
gốc có pH = 6.0, dùng HCl 10% để điều chỉnh các mức pH của môi trường là:
4.0, 5.0 và NaOH để điều chỉnh pH môi trường theo các mức: 7.0, 8.0. Sau đó
nút miệng bình tam giác bằng bông sạch và quấn giấy báo phía trên, môi
trường được hấp khử trùng ở 1210C, áp suất 1 atm trong 30 phút. Đổ mỗi môi
trường có các mức pH khác nhau vào 3 hộp lồng đã được khử trùng dày 2 - 3
mm. Sau khi mặt thạch khô, đông cứng lại rồi tiến hành cấy vào chính giữa
hộp lồng 1 điểm giống nhau đúng bằng que cấy. Băng kín hộp lồng lại và để
trong tủ định ôn có nhiệt độ 250C ± 1. Đo đường kính khuẩn lạc theo hai
chiều vuông góc rồi lấy trị số trung bình, đo ở ngày thứ 3 - 7. Thí nghiệm
được lặp lại 2 lần và lấy trị số đường kính khuẩn lạc bình quân làm đại diện
cho thí nghiệm.
2.5.4. Đề xuất biện pháp phòng trừ
Biện pháp phòng trừ bệnh được tiến hành bằng biện pháp phòng trừ
tổng hợp, bao gồm các biện pháp: biện pháp kỹ thuật lâm sinh, biện pháp
sinh học và biện pháp hóa học. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh, biện pháp sinh
học được đề xuất dựa trên các tài liệu tham khảo Schmitthenner, A.F. and
R.G. Bhat. 1994; Phytophthora Technical Group, 2006 và cẩm nang chuẩn
đoán bệnh cây [60],[54],[28]. và những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh
học, sinh thái của vật gây bệnh. Biện pháp hóa học được đề xuất dựa trên thí
nghiệm xác định loại thuốc đặc hiệu được tiến hành trong phòng thí nghiệm.
Phương pháp xác định loại thuốc hóa học được thực hiện như sau:
Dựa theo một số tài liệu nghiên cứu về kiểm soát nấm Pythium bằng
thuốc hóa học theo JJ Bezuidenhout, JM Darvas &JC Toerien,1987 [50]

21

và Coffey, M D & Joseph, M C 1985[39]. Thử nghiệm trên 3 loại thuốc là:
Agri-Fos 400; Phos-inject 200; Ridomil. Nồng độ pha lần lượt như sau AgriFos 400 pha 2,5- 5ml/l; Phos-inject 200 pha 5-10ml/l; Ridomil pha 5g/l.
Mỗi loại cấy trên 3 đĩa petri và có đĩa petri đối chứng. Trước tiên đục
một lỗ thạch có đường kính 1cm ở giữa hộp lồng, cấy nấm ở ba điểm góc hộp
lồng tạo thành một tam giác. Dùng pipét hút dịch thuốc đã pha theo đúng
nồng độ cho vào lỗ đục, băng kín và để ở tủ định ôn ở nhiệt độ 25oC. Sau 24
giờ; 48h và 60h kiểm tra và đo vòng kháng nấm của thuốc so với đối chứng.
Phương pháp kiểm tra khả năng kháng nấm bằng cách đo khoảng cách
từ tâm đĩa petri cho đến đỉnh sinh trưởng của sợi nấm. Khoảng cách càng lớn
thì khả năng kháng nấm càng cao. Làm cơ sở cho việc lựa chọn và sử dụng
thuốc phòng trừ.

22

Chương 3
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
Yên Bái là tỉnh miền núi phía bắc Việt nam, nằm giữa vùng tây bắc,
đông bắc và trung du bắc bộ, có vị trí địa lý:
- Từ 21o 24' 40" đến 22o 16' 32" vĩ độ bắc
- Từ 103o 56' 26" đến 105o 03' 07" kinh độ đông.
Phía bắc giáp tỉnh Lào Cai và Hà Giang
Phía nam giáp tỉnh Phú Thọ
Phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang
Phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu
3.1.2. Địa hình - địa thế
Yên Bái là vùng chuyển tiếp từ vùng núi cao tây bắc thuộc dãy núi
Hoàng Liên Sơn - Púng Luông và dãy Con Voi xuống vùng đồi trung du Phú
Thọ đồng thời Yên Bái cũng là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi Tây Bắc và
vùng núi Đông Bắc, các dãy núi dựu chạy theo hướng tây bắc - đông nam.
Độ cao bình quân toàn tỉnh là: 600 m, nơi thấp nhất tại xã Minh quân có
cao độ 20 m. Cao nhất là đỉnh Pú Luông 2.986 m so với mặt nước biển. Do
mang đặc trưng địa hình miền núi nên địa hình rất phức tạp bị chia cắt mạnh bởi
các dãy núi cao, sông suối và thung lũng, có thể chia ra thành 4 kiểu chính sau:
* Địa hình núi trung bình và núi cao (400 - 2.800m)
Đây là kiểu địa hình chủ yếu và đặc trưng cho phần lớn đất đai của tỉnh
Yên Bái, kiểu địa hình này được phân bố chủ yếu ở các huyện: Mù Cang
Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Yên và phía tây của huyện Lục
Yên, được đặc trưng bởi 2 dãy núi chính là dãy núi Hoàng Liên Sơn và dãy

23

núi Con Voi. Phần lớn các dãy núi được sắp xếp theo hướng tây bắc - đông
nam, độ cao từ 700m trở lên, địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn.
* Địa hình núi đá vôi xen núi đất cao (400 - 800 m)
Gồm các dãy núi đá vôi vách đứng, xen lẫn với các dãy núi đất thấp và
đồi cao. Kiểu địa hình này được phân bố ở phía đông và phía đông bắc của
tỉnh chủ yếu tập trung ở vùng phía nam huyện Lục Yên và phía bắc huyện
Yên Bình.
* Kiểu địa hình đồi :
Phân bố chủ yếu ở phía đông nam của tỉnh gồm các huyện: Yên Bình,
Thành phố Yên Bái, phía nam và phía đông nam huyện Trấn yên, gồm các dải
đồi sườn thoải độ cao trung bình < 300 m, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc
không lớn mang nét đặc trưng của địa hình trung du, thuận lợi cho việc sản
xuất nông lâm nghiệp.
* Địa hình thung lũng
Nằm xen kẽ giữa kiểu địa hình núi và đồi, là các thung lũng lòng chảo đất
đai được hình thành do sản phẩm bồi đắp của phù sa sông suối, phù sa cổ, địa
hình tương đối bằng phẳng, độ dốc thấp. Điển hình cho kiểu địa hình này là các
thung lũng thuộc lưu vực sông Hồng, sông Chảy và lòng chảo Văn Chấn,
Nghĩa Lộ tạo những cánh đồng lớn tương đối độc lập nằm rải rác trong toàn
tỉnh. Lớn nhất là cánh đồng Mường Lò (Văn Chấn) rồi đến các cánh đồng
Đông Cuông, Văn Yên) là vùng có tiềm năng sản xuất lương thực lớn của tỉnh.
Ngoài ra còn phải kể tới vùng hồ Thác Bà được tạo nên từ những năm 1971
với diện tích mặt hồ rộng 23.400 ha bao gồm diện tích mặt nước là 19.050 ha và
1.330 hòn đảo lớn, nhỏ. Trong đó có nhà máy thuỷ điện Thác Bà với công suất
lắp máy 108 MW và mỗi năm sản xuất được 424 triệu KWgiờ. Ngoài ra hồ Thác
Bà có tiềm năng phát triển thuỷ sản, thuỷ cầm, phát triển du lịch và có tác dụng
tốt trong việc cải thiện điều kiện khí hậu môi trường của khu vực.

24

Tóm lại: Với nhiều dạng địa hình, Yên Bái có nhiều thuận lợi để phát
triển đa dạng các loài cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên do địa hình chia cắt
mạnh bởi dãy núi cao và hệ thống sông ngòi suối dày đặc, vào mùa mưa dễ
xẩy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở bò sông, bờ suối, gây thiệt hại đến tính mạng và
tài sản của nhân dân, khó khăn trong việc phát triển giao thông giữa các vùng,
miền, ảnh hưởng đến việc phân chia các vùng sản xuất.
3.1.3. Khí hậu thời tiết
Đặc trưng của khí hậu Yên Bái là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,
mưa nhiều, nền nhiệt cao. Do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu hình thành
2 mùa rõ rệt.
- Mùa mưa: (Nóng ẩm) từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình
25oC, tháng nóng nhất là tháng 7, có ngày nhiệt độ lên tới 37-38oC. Lượng
mưa 1500-2.200 mm, chiếm 80-85 % lượng mưa cả năm, số ngày mưa nhiều,
cường độ lớn đặc biệt trong các tháng 6,7,8 thường có mưa lớn kèm theo gió
xoáy, mưa đá, lũ ống, lũ quét ở các triền sông suối, gây thiệt hại về tài sản và
tính mạng của nhân dân, ảnh hưởng tới sản xuất nông lâm nghiệp.
- Mùa khô (lạnh) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình
180C, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ thấp nhất 10oC. Lượng mưa mùa
này ít không đủ cung cấp nước cho sản xuất, đời sống nên hay xẩy ra hạn hán.
Bên cạnh đó tình trạng sương muối, sương mù ít ánh sáng mặt trời cũng gây
ảnh hướng đến sinh trưởng phát triển của cây trồng, đặc biệt là ở 2 huyện
vùng cao: Trạm Tấu, Mù Cang Chải.
Yên Bái được chia thành các tiểu vùng khí hậu:
+ Vùng núi cao Mù Cang Chải: ở độ cao 800-1.200 m, nhiệt độ trung
bình 19,8oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,4oC, nhiệt độ cao tuyệt đối 37,1oC,
lượng mưa trung bình 1.652,6 mm, độ ẩm 81%, lượng bốc hơi 911 mm, tổng
số giờ nắng bình quân năm 1.696 giờ. Có sương muối, băng giá vào giữa mùa

25

đông, mùa hè có gió Lào. Khí hậu thích hợp cho trồng cây dược liệu quý và
chăn nuôi gia súc có sừng.
+ Vùng Lục Yên-Yên Bình: ở độ cao trung bình 100-300 m. Nhiệt độ
trung bình năm 23,5oC, lượng mưa trung bình năm 1.396,2 mm, lượng bốc
hơi 636 mm, độ ẩm 86%, tổng số giờ nắng trong năm 1.327 giờ. Đây là tiểu
vùng chịu nhiều ảnh hưởng của hồ Thác Bà, nên lượng mưa rất phong phú,
nguồn nước dồi dào, thích hợp cho cây lương thực và cây công nghiệp lâu
năm, cây ăn quả phát triển.
+ Vùng Trấn Yên - Thành phố Yên Bái: ở độ cao trung bình 100-300 m,
nhiệt độ trung bình 23,5oC, nhiệt độ thấp nhất 4,8oC, nhiệt độ cao nhất
39,6oC. Lượng mưa bình quân năm 1.396,3 mm, ẩm độ 86%, lượng bốc hơi
778 mm, tổng số giờ nắng trong năm 1.327 giờ. Tiểu vùng này thường chịu
ảnh hưởng của gió mùa đông bắc theo thung lũng sông tràn tới.
+ Vùng Văn Chấn, Trạm Tấu: Nhiệt độ trung bình 23,1oC, nhiệt độ thấp
tuyệt đối 7,4oC, nhiệt độ cao tuyệt đối 36,6oC, lượng mưa bình quân năm là
1.035,1 mm, độ ẩm bình quân 84%, tổng số giờ nắng trong năm 1.473 giờ.
Khí hậu vùng này thích hợp với cây lương thực, cây ăn quả và cây chè.
Tóm lại: Khí hậu trong vùng rất đa dạng, có nhiều tiểu vùng khí hậu
khác nhau thích hợp với việc phát triển đa dạng các loài cây trồng vật nuôi ở
vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới song cũng cần phải chú ý đến những đặc
thù của từng vùng để quy hoạch, bố trí sản xuất nông lâm nghiệp với cơ cấu
cây con, thời vụ thích hợp.
3.1.4. Đặc điểm thuỷ văn:
Yên Bái có nền địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và lượng mưa tương
đối lớn, đã tạo ra một mạng lưới sông ngòi, hồ, đầm khá dày đặc, lượng dòng
chảy phong phú.
* Hệ thống sông ngòi: Có 2 hệ thuỷ chính là: Sông Hồng và sông Chảy.

26

- Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc đông
nam. Sông Hồng chảy qua địa phận tỉnh Yên Bái với chiều dài 100 km bắt đầu
xã Lang Thíp (VănYên) đến xã Văn Tiến (Thành phố Yên Bái) có diện tích,
lưu vực là: 2.700 km2, có 48 ngòi và các phụ lưu thuộc hệ thống sông Hồng,
trong đó có 4 phụ lưu lớn là: Ngòi Thia, Ngòi Hút, Ngòi Lâu, Ngòi Lao.
- Sông Chảy bắt nguồn từ dãy núi Tây Côn Lĩnh, chảy theo hướng tây bắc
đông nam. Tổng chiều dài 300 km chảy qua địa phận Yên Bái 95 km bắt đầu từ
xã Minh Chuẩn (Lục Yên) đến xã Hán Đà (Yên bình), diện tích lưu vực là
2.200 km2, uốn khúc quanh co, lòng sông sâu, hẹp, chảy xiết, phụ lưu của sông
Chảy có 32 ngòi suối thuộc hệ thống sông Chảy với tổng chiều dài 117 km.
Hồ Thác Bà nằm trong lưu vực sông Chảy, là hồ chứa nước phục vụ trực
tiếp cho nhà máy thuỷ điện Thác Bà với diện tích mặt hồ rộng 23.400 ha. Hồ
Thác Bà có tiềm năng phát triển thuỷ sản, du lịch và có tác dụng tốt trong việc
cải thiện điều kiện khí hậu môi trường của khu vực.
Tóm lại: Mạng lưới sông suối trong vùng dự án khá dày đặc phân bố khắp
lãnh thổ, rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi cung cấp nước
phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần điều hoà khí hậu, tạo mạng
lưới giao thông đường thuỷ thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá, phát triển chăn
nuôi thuỷ sản, các ngòi suối có độ dốc lớn nên có tiềm năng phát triển thuỷ điện.
Bên cạnh những mặt thuận lợi thì về mùa lũ hệ thống sông ngòi thường gây ra lũ
ống, lũ quét, ngập úng khu vực ven sông và các phụ lưu lớn gây thiệt hại về
người và tài sản của nhân dân, ách tắc giao thông, thiệt hại đáng kể cho sản xuất
nông lâm nghiệp. Để khắc phục tình trạng trên cần tiếp tục bảo vệ tốt diện tích
rừng phòng hộ hiện có, đầu tư mở rộng diện tích rừng nhất là rừng phòng hộ ở
các khu vực rất xung yếu và xung yếu. Cải tạo, nâng cấp, làm mới các công trình
giao thông, trình thuỷ lợi...

27

3.1.5. Thực trạng về phát triển kinh tế
Tình hình sử dụng đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên: 689.949,05 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp: 533.796,28 ha chiếm 77,36 % tổng diện tích tự nhiên, trong đó.
1. Đất sản xuất nông nghiệp:78.608,81 ha
 Đất trồng cây hàng năm: 47.403,89 ha
(Trong đó: Đất trồng lúa: 28.528,22 ha;
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi: 1.932,93 ha
Đất trồng cây hàng năm khác: 16.946,74 ha)
 Đất trồng cây lâu năm: 31.204,92 ha
2. Đất sản xuất lâm nghiệp: 453.670,92 ha
 Đất rừng sản xuất: 193.163,84 ha
 Đất rừng phòng hộ : 234.137,82 ha
 Đất rừng đặc dụng : 26.369,26 ha
3. Đất nuôi trồng thuỷ sản: 1.435,91 ha
4. Đất nông nghiệp khác: 80,64 ha
- Đất phi nông nghiệp:
Đất phi nông nghiệp có 46.417,90 ha chiếm 6,72% tổng diện tích tự nhiên.
1. Đất ở:

4.456,52 ha

2. Đất chuyên dùng: 00.166,8 ha.
3. Đất tôn giáo tín ngưỡng: 23,83 ha
4. Đất nghĩa trang nghĩa địa: 617,13 ha
5. Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 11.123,68 ha
6. Đất phi nông nghiệp khác: 29,94 ha
- Đất chưa sử dụng
Đất chưa sử dụng: 109.734,87 ha, chiếm 15,9 % tổng diện tích tự nhiên,

28

Trong đó:
+ Đất bằng chưa sử dụng: 934,60 ha.
+ Đất đồi núi chưa sử dụng: 102.665,99 ha
+ Núi đá không có cây rừng: 6.134,28 ha
(Theo số liệu thống kê 1/1/2008)
3.2. Đời sống kinh tế - xã hội
3.2.1. Kinh tế:
* Nông nghiệp: Tập trung chủ yếu vào phát triển cây lương thực, cây công
nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và hình thành một số vùng
nguyên liệu. Từng bước đầu tư thâm canh, tăng vụ, đưa các loại giống mới có
năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Về sản xuất lương thực:
Các loại cây lương thực được trồng chủ yếu trong vùng là: lúa, ngô, sắn,
khoai, đậu tương... Nhiều giống lúa lai, ngô lai đã được nhân dân đưa vào trồng
thành công đạt năng suất cao. Qua số liệu thu thập ở địa phương cho thấy:
Diện tích lúa vụ đông xuân: 17.134 ha - Năng suất đạt 48,20 tạ/ha
Diện tích lúa vụ mùa: 19.662 ha - Năng suất đạt 45,64 tạ/ha
Diện tích lúa nương: 4.606 ha - năng suất đạt 10,99 tạ/ha
Diện tích ngô: 15.770 ha - Sản lượng đạt 39,865 tấn.
Diện tích sắn: 14.456 ha - Sản lượng đạt 272,524 tấn.
- Cây công nghiệp dài ngày: Chủ yếu là cây chè. Trong trong những năm
qua cây chè luôn được chú trọng phát triển, được xác định là cây phát triển
kinh tế trong các hộ gia đình. Giống chè trung du, chè nhập nội thường được
trồng ở các xã vùng thấp, chè shan trồng ở các xã vùng cao. Hiện nay toàn
vùng có tổng diện tích chè: 12.516 ha (trong đó: diện tích chè kinh doanh là
10.671,0 ha), tổng sản lượng là 70.072 tấn chè búp tươi/năm.
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Qua điều tra trong vùng hiện có: 737,0 ha
mía tập trung chủ yếu huyện Văn Yên, 1.929,0 ha lạc tập trung chủ yếu huyên

29

Lục Yên, Yên Bình; 3.329,0 ha đậu tương tập trung chủ yếu ở huyện Văn
Yên, Lục Yên. Sản lượng đạt 29.312 tấn/năm.
- Cây ăn quả: Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số vùng cây ăn
quả truyền thống có giá trị kinh tế cao như: Bưởi Đại Minh, nhãn vải, cam,
hồng, Lục Yên, dứa Văn yên… Văn Chấn.. Qua số liệu thu thập toàn tỉnh có
7.613,0 ha.
- Tình hình chăn nuôi: Thực hiện các dự án cải tạo đàn bò bằng giống lai
sind, phát triển đàn lợn theo hướng nạc hoá. Phát triển chăn nuôi theo hướng
công nghiệp và bán công nghiệp.
Qua số liệu điều tra cho thấy, trong toàn tỉnh hiện có:
Trâu: 111.720 con- bình quân ≈ 0,65 con/hộ.
Bò: 38.770 con- bình quân ≈ 0,20 con/hộ.
Lợn: 375.965 con - bình quân ≈ 2,17 con/hộ.
Ngựa: 5.123 con ; Dê: 25.142 con.
Gia cầm (gà, vịt, ngan): 2.748.360 con - bình quân ≈ 16,18 con/hộ
* Lâm nghiệp: Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã thực hiện
tốt. Qua số liệu thu thập diện tích rừng hiện có trên địa bàn là: 453.670,92 ha,
tỷ lệ che phủ đạt 65,75 %; trong đó.
- Rừng phòng hộ: 234.137,82 ha, được phân thành 3 khu vực chính: Khu
vực phòng hộ sông Chảy gồm các huyện: Lục yên, Yên Bình. Khu vực phòng
hộ sông Hồng gồm các huyện: Trấn Yên, Văn yên, Thành Phố Yên Bái . Khu
vực phòng hộ sông Đà gồm các huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu.
- Rừng sản xuất: 193.163,84 ha: Chủ yếu là rừng nguyên liệu giấy, gồm các
huyện Yên bình, trấn Yên, Lục yên, vùng thấp văn Yên và vùng ngoài Văn Chấn.
- Rừng đặc dụng: 26.369,26 ha tập trung ở huyện Văn Yên, Mù Cang Chải
* Bình quân thu nhập trên đầu người năm 2007: 6 triệu đồng.
- Bình quân lương thực quy thóc: 289 kg/người/năm.