Tải bản đầy đủ
3 Đánh giá về hiệu quả hoạt động của ACB theo mô hình CAMEL

3 Đánh giá về hiệu quả hoạt động của ACB theo mô hình CAMEL

Tải bản đầy đủ

44

Bảng 2.15: CÁC GIẢI THƯỞNG ACB ĐẠT ĐƯỢC QUA CÁC NĂM
Giải thưởng

Năm

Cơ quan cấp

1997

Chứng nhận “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”

Tạp chí Euromoney

1999

Chứng nhận “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”

Tạp chí Global Finance
Magazine (USA)

2001

Một trong 500 ngân hàng hàng đầu Châu Á

Tạp chí Asiaweek

2002

Giải thưởng chất lượng Việt Nam
Hội đồng xét duyệt quốc gia
Bằng khen về thành tích nâng cao chất lượng Thủ tướng Chính Phủ
hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định và
nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

2005

Ngân hàng tốt nhất Việt Nam

Tạp chí The Banker

2006

Huân chương lao động hạng III

Chủ tịch nước

2007

Cúp Thủy tinh về Thành tựu về lãnh đạo The Asian Banker
trong ngành ngân hàng Việt Nam năm 2006

2008

Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2007

Tạp chí Euromoney

2009

Huân chương lao động hạng Nhì
Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2009

Chủ tịch nước
Tạp chí Global Finance/
Euromoney/ Asiamoney/
FinanceAsia

2010

Ngân hàng có dịch vụ thanh toán vượt trội
2010
Ngân hàng vững mạnh nhất Việt Nam 2010
Lãnh đạo ngân hàng xuất sắc nhất Việt Nam
2010
Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam 2010
Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2010

Tạp chí The Asset
Tạp chí The Asian Banker
Tạp chí The Asian Banker
Tạp chí AsiaMoney
Tạp chí Global Finance/
Finance Asia.

(Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB năm 2010)
Bên cạnh đó, công tác nâng cao hiệu quả hoạt động của ACB trong những năm qua
cũng đạt được một số kết quả cơ bản sau:
 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, hệ thống các công cụ quản trị và chất lượng dịch vụ
được nâng cao:

45

-

Cơ cấu tổ chức được xây dựng và bắt đầu chuyển đổi theo hướng tinh giản,
tập trung và sẵn sàng đã góp phần phát triển hoạt động kinh doanh hiệu quả,
tiết giảm chi phí cũng như kiểm soát được rủi ro, đảm bảo an toàn trong quá
trình vận hành.

-

Mục tiêu, chiến lược hoạt động kinh doanh được xây dựng rõ ràng, cụ thể,
phù hợp với tình hình hoạt động và phát triển của ngân hàng trước bối cảnh
chung hiện nay.

-

Hình thành đồng bộ và không ngừng hoàn thiện các công cụ và chính sách
quản trị, ban hành đầy đủ và kịp thời các quy chế, văn bản nghiệp vụ.

-

Xây dựng bộ máy KTNB ngày một lớn mạnh với các bộ phận chuyên trách,
có nhiệm vụ chức năng rõ ràng và hoạt động hiệu quả đáp ứng được sự phát
triển và mở rộng mạng lưới chi nhánh của ACB.

-

Năng suất hoạt động ngân hàng được nâng cao. Năm 2010, ACB thực hiện
chi trả lương theo hiệu suất và cải tiến cách đánh giá hiệu quả hoạt động của
các đơn vị kênh phân phối. Một số chương trình công nghệ hóa hoạt động
ngân hàng quan trọng cũng được khởi động, như: xác thực khách hàng bằng
vân tay, hệ thống thông tin quản trị (MIS), chương trình kinh doanh ngân
quỹ, chương trình quản lý quan hệ với khách hàng (CRM), phiên bản mới
của hệ thống ngân hàng (TCBS DNA). Các hệ thống này được kỳ vọng sẽ
trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản trị điều hành của ngân
hàng trong những năm tới, phù hợp với xu hướng phát triển về công nghệ
ngân hàng trên thế giới.

-

Chất lượng dịch vụ của ACB được nâng cao. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến
ACB online triển khai từ tháng 05/2010 đã nhận được sự phản hồi tích cực từ
khách hàng. Đến cuối năm 2010 sau 6 tháng triển khai, số lượng giao dịch
qua ACB online đã chiếm 65% số lượng bút toán giao dịch trên toàn ngân
hàng. Ngoài ra, cơ chế xét duyệt chuyên viên đối với hồ sơ tín dụng cá nhân
đã được thực hiện và các hoạt động cải tiến quá trình cũng giúp rút ngắn thời

46

gian trung bình xử lý giao dịch đối với hồ sơ tín dụng cá nhân (giảm 1,5
ngày), hồ sơ tín dụng doanh nghiệp (giảm 1,5 – 10 ngày tùy loại hồ sơ),
nghiệp vụ tiền gửi (rút ngắn 1,6 – 1,89 phút).
 Đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về vốn và tỷ lệ an toàn về vốn theo quy định
-

ACB đã có những đợt tăng vốn rất thành công thông qua phát hành thêm cổ
phiếu và trái phiếu chuyển đổi. Việc tăng vốn của ACB luôn đón đầu những
yêu cầu của chính phủ và NHNN trong việc quản lý nguồn vốn tự có của các
ngân hàng cũng như tạo nền tảng vững chắc cho bước đầu hội nhập.

-

Vốn điều lệ của ACB năm 2010 đạt 9.376,96 tỷ đồng đảm bảo tuân thủ quy
mô về vốn pháp định của các TCTD phải đạt mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng
trước thời hạn.

-

Hệ số an toàn vốn qua các năm đều được ACB tuân thủ chặt chẽ, luôn đảm
bảo trên mức tối thiểu 9% .

-

Trong năm 2010, nếu so với các NHTM trong nước thì hệ số CAR của ACB
vẫn luôn cao hơn so với một số ngân hàng, điển hình là Vietcombank và
Sacombank:
Biểu 2.12: HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CỦA MỘT SỐ NHTM NĂM 2010

(Nguồn:Báo cáo thường niên của các ngân hàng năm 2010)

47

 Cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn cũng như tăng trưởng nhanh về quy mô:
-

Đảm bảo sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, ít nhất trong giai đoạn vừa
qua, ACB đã không phạm phải sai lầm là dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho
vay trung dài hạn.

-

Quy mô tổng tài sản, vốn huy động và tổng dư nợ cho vay tăng vượt bậc từ
năm 1996 đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng của 3 chỉ tiêu này đều cao hơn
tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành ngân hàng. Với tốc độ tăng trưởng
này, ACB đang rút ngắn đáng kể khoảng cách so với các NHTM Nhà nước.

-

Số liệu kiểm toán cho thấy tỷ lệ nợ xấu của ACB năm 2010 chỉ là 0,34% tốt
hơn rất nhiều so với mục tiêu đặt ra là duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 1,2%. Đây
cũng là năm thứ năm liên tiếp (ngoại trừ năm 2008) tỷ lệ này ở mức dưới
0,5% mặc dù thị trường có lúc có những thay đổi không thuận lợi và tốc độ
tăng trưởng tín dụng trên 2 con số. Như vậy, chất lượng tài sản của ACB tiếp
tục được khẳng định.

-

Phát triển và cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng và tiện ích
cho nhiều đối tượng khách hàng, đặc biệt chú trọng vào nhóm khách hàng cá
nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Là một trong các ngân hàng đầu tiên của
Việt Nam được cung cấp các sản phẩm phái sinh cho khách hàng (sản phẩm
quyền chọn vàng, quyền chọn mua bán ngoại tệ).

-

Với nguồn vốn huy động khá lớn, chất lượng tài sản có tốt, ACB hoạt động
mạnh trên thị trường mở và thị trường liên ngân hàng. Hoạt động này góp
phần làm tăng thu nhập đáng kể cho ngân hàng.

 Kết quả kinh doanh ổn định, hiệu quả và quản lý thanh khoản tốt:
-

Lợi nhuận sau thuế tăng về quy mô qua các năm. Thu nhập ròng từ lãi được
cải thiện theo đúng định hướng (đạt 4.164 tỷ đồng, gấp 1,5 lần thu nhập ròng
từ lãi năm 2009) và đang có sự chuyển dịch sang hoạt động dịch vụ, đầu tư.

-

Khả năng sinh lời ổn định và khá cạnh tranh so với một số NHTM khác:

48

Biểu 2.13: SO SÁNH ROE VỚI MỘT SỐ NGÂN HÀNG
35%
30%
25%
20%
15%
10%
5%
0%

28,95%

28,12%

29,11%
17,41%

2006

28,46%

19,23%

25,58%
20,52%
19,74% 18,74%
20,52%

17,41%

13,14%

2007

2008

16,56%

13,21%

2009

ACB
STB
VCB

2010

(Nguồn: Báo cáo thường niên của một số ngân hàng qua các năm)
Biểu 2.14: SO SÁNH ROA VỚI MỘT SỐ NGÂN HÀNG
3,50%
2,91%

3,00%
2,50%

2,08%

2,06%

2,10%

ACB

1,79%

2,00%
1,50%
1,00%

STB

1,49%
1,11%

1,14%

1,13%
1,88%

1,31%

1,29%

1,64%

0,50%

VCB

1,28%
1,36%

0,00%
2006

2007

2008

2009

2010

(Nguồn: Báo cáo thường niên của một số ngân hàng qua các năm)
Mặc dù ACB có mức vốn chủ sở hữu và tổng tài sản nhỏ hơn so với STB và
VCB nhưng những chỉ số ROE và ROA không hề thua kém, cho thấy khả năng sử
dụng đồng vốn và khai thác tài sản hiệu quả và có tính cạnh tranh cao trong ngành.
VCB có thị phần chủ yếu là khu vực kinh tế quốc doanh, trong khi STB có
thị phần bán lẻ rất mạnh ở phía Nam thì ACB có thị phần bán lẻ mạnh ở rộng khắp
cả nước. Tính cả mức tác động từ các chính sách và sự ưu đãi từ phía doanh nghiệp
nhà nước có thể thấy sự nỗ lực và thành quả trong hoạt động kinh doanh của ACB.

49

-

Việc quản lý thanh khoản được thực hiện tốt và tỷ lệ về khả năng chi trả luôn
duy trì ở mức cao trong suốt thời gian qua.
2.3.2 Một số hạn chế
2.3.2.1

-

Hạn chế trong hoạt động quản trị, điều hành và kiểm soát

Tỷ lệ thu nhập chiếm đa số từ hoạt động cho vay, thu nhập ròng từ dịch vụ còn
thấp. ROE và ROA cao và ổn định qua các năm nhưng vẫn còn thấp so với một số
NHTM khác và còn khoảng cách rất lớn với các NHTM trong khu vực. Đặc biệt,
trong năm 2010, các chỉ tiêu quan trọng như lợi nhuận trước thuế, tổng tài sản, dư
nợ cho vay, huy động tiền gửi khách hàng đều chưa đạt kế hoạch đề ra.

-

Hoạt động quản trị và điều hành chậm đổi mới, không theo kịp những thay đổi về
môi trường kinh doanh cạnh tranh càng gay gắt, đặc biệt là lạc hậu ngày càng xa
so với quy mô ngân hàng tăng lên nhanh chóng; nhiều vấn đề về cơ cấu tổ chức,
cơ chế vận hành, năng lực quản trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt của ACB đã tỏ ra
bất cập so với hiện tại càng không đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh và bền
vững.

-

Các văn bản quy định về nghiệp vụ do nhiều đơn vị tại Hội sở ban hành đôi khi
không rõ ràng, chồng chéo nhau, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng, gây khó khăn cho
nhân viên nghiệp vụ trong việc nắm bắt và thực hiện đúng quy trình, quy định của
ACB.

-

Hoạt động kiểm toán nội bộ chỉ mới dừng lại ở việc kiểm tra tính tuân thủ các
chính sách, thủ tục quy trình về nghiệp vụ và quản lý rủi ro do ACB ban hành hơn
là kiểm tra, rà soát, đánh giá mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống kiểm tra kiểm soát nội bộ được thiêt lập tại ngân hàng, chưa đưa ra được
những kiến nghị, tư vấn có tính sâu về chuyên môn, chưa chú trọng đến kiểm tra
báo cáo tài chính và các thông số tài chính cũng như đưa ra các biện pháp có tính
chất thiết thực giúp ACB hoạt động ngày càng bền vững. Nhân sự còn non trẻ,
chưa có nhiều kinh nghiệm trong công việc cũng như chưa hoàn toàn độc lập
trong quá trình kiểm tra, đánh giá.

50

-

Về nguồn nhân lực: nhân viên có kinh nghiệm và làm việc lâu năm nghỉ liên tục,
số nhân viên mới tăng nhanh nên kinh nghiệm còn thiếu và ý thức trách nhiệm về
tính tuân thủ chưa cao, chưa có sự phối hợp tốt trong xử lý công việc. Công tác
tuyển dụng đối với một số vị trí vẫn còn mang tính gia đình, cơ chế đãi ngộ và
lương thưởng còn thấp so với mặt bằng chung nên không thực sự thu hút được
nhân tài giỏi.
2.3.2.2 Vốn chủ sở hữu của ACB vẫn còn thấp so với các NHTM Nhà
nước và các NHTM trong khu vực
Trong thời gian qua, ACB đã và đang có những sự gia tăng đáng kể về vốn

chủ sở hữu, cụ thể như: vốn chủ sở hữu năm 2006 là 1.654 tỷ đồng nhưng đến năm
2010 là 11.377 tỷ đồng. Song nhìn chung nguồn vốn chủ sở hữu – sức mạnh tài
chính của ACB vẫn còn khá thấp so với các NHTM Nhà nước cũng như các NHTM
khác trong khu vực. Hầu hết những NHTM Nhà nước Việt Nam cổ phần hóa có
mức vốn chủ sở hữu gấp đôi vốn chủ sở hữu của ACB vào năm 2010. Ngay cả ngân
hàng Sacombank, Eximbank đã có mức vốn chủ sở hữu trên 13.000 tỷ đồng. Điều
này dẫn đến hạn chế rất lớn trong khả năng hoạt động kinh doanh của ACB bởi giới
hạn cho vay và bảo lãnh, giới hạn huy động vốn, giới hạn đầu tư… từ đó dẫn tới hạn
chế trong việc mở rộng mạng lưới, địa bàn hoạt động và đổi mới thiết bị công nghệ.
Một khi có những thay đổi chính sách hoặc có biến động bất lợi về kinh tế dễ dẫn đến
khả năng suy yếu, nếu nghiêm trọng thì có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng chi trả,
khả năng thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng, cho hệ thống ngân hàng và cho nền
kinh tế.
Điều đáng chú ý là vốn chủ sở hữu được ACB tăng lên trong thời gian vừa
qua là từ việc phát hành trái phiếu và cổ phiếu cho đối tác chiến lược Standard
Charter, chứ không phải do nguồn dự trữ tăng vốn. Bước chiến lược này cho thấy
ACB đã gắn một phần với tổ chức nước ngoài - một nhánh cổ đông mới và thoạt
nhìn có vẻ là tốt vì sẽ tận dụng được kinh nghiệm và phong cách quản trị hiện đại…
Nhưng nó sẽ đem lại nhiều vấn đề khác mà trong đó không thể không đề phòng việc
mua lại và sáp nhập của các ngân hàng nước ngoài đối với các ngân hàng nội địa.

51

2.3.2.3

Tỷ lệ an toàn vốn của ACB chưa cao so với các NHTM trong
khu vực

Ngày 20-5-2010, NHNN đã ban hành Thông tư 13/2010/TT-NHNNN quy
định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Một điểm
đáng chú ý trong thông tư trên là quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Cụ thể,
Điều 4 của Thông tư quy định: Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản
“Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ). Ngoài việc duy trì tỷ lệ
này, tổ chức tín dụng phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở
hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn
hợp nhất).
Mặc dù hiện tại ACB có hệ số an toàn vốn trên mức quy định mới này
(10,60% trong năm 2010) nhưng lại có xu hướng giảm và đang có khoảng cách quá
xa so với thế giới. Nhiều nước trên thế giới đã cho áp dụng Basel II theo mức an
toàn vốn tối thiểu là 12%. Hệ số CAR tại các NHTM của khu vực châu Á - Thái
Bình Dương bình quân hiện nay là 13,1%, của khu vực Đông Á là 12,3%. Xu thế
chung là các nước phát triển đang siết chặt quy chế quản lý ngân hàng để cải thiện
tính an toàn hệ thống tài chính và cả nền kinh tế. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay thì nguy cơ rủi ro cho hoạt động
NHTM ngày càng gia tăng và khi rủi ro xảy ra thì hậu quả của nó sẽ rất nghiêm
trọng. Vì vậy, việc nâng cao hơn nữa hệ số an toàn vốn nhằm đảm bảo phát triển
bền vững là nhiệm vụ cần thiết của ACB.
2.3.2.4

Cơ cấu tài sản và nguồn vốn vẫn còn tiềm ẩn rủi ro

 Về nghiệp vụ huy động vốn:
Hình thức huy động còn hạn chế chủ yếu dưới dạng nhận tiền gửi không kỳ
hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm… Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có
kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao, nguồn vốn huy động không kỳ hạn chiếm tỷ trọng thấp,
dẫn đến chi phí huy động vốn cao. Ngoài ra, chưa tìm kiếm được các khách hàng
mới, tìm năng và có sự lôi kéo khách hàng giữa các chi nhánh, Phòng giao dịch

52

trong cùng một hệ thống với nhau. Chăm sóc khách hàng và tư vấn sản phẩm chưa
được thực hiện đồng bộ giữa các chi nhánh và Phòng giao dịch. Việc chăm sóc các
khách hàng mới và các khách hàng giao dịch với số lượng ít chưa được chú trọng.

 Về nghiệp vụ sử dụng vốn:
Nghiệp vụ sử dụng vốn hiện nay của ACB chủ yếu là hoạt động tín dụng đối
với khách hàng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân hàng năm của ACB khoảng
73,68%.
Ngày 31/08/2010, Cơ quan xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã hạ mức xếp
hạng tín nhiệm đối với ACB từ mức “D” (ngân hàng có nhiều điểm yếu, do nguyên
nhân bên trong hoặc bên ngoài) xuống “D/E” (ngân hàng có vấn đề nghiêm trọng,
cần đến sự trợ giúp từ bên ngoài) và ngưỡng hỗ trợ được đặt ở mức tối đa. Theo giải
thích của Fitch, việc hạ bậc tín nhiệm được thực hiện dựa trên xem xét bảng cân đối
kế toán và nhận thấy lượng tín dụng mà ACB cung cấp cho khách hàng đã tăng
mạnh trong thời gian qua; trong khi đó, chất lượng của các khoản vay lại tương đối
thấp.
Do đó, với kết quả của Fitch phân tích cho thấy góc nhìn khác về ACB (ngân
hàng hàng đầu của Việt Nam) khi xem xét dưới các tiêu chuẩn quốc tế. Rõ ràng,
chất lượng tín dụng của ACB còn tiềm ẩn nhiều rủi ro mặc dù tỷ lệ nợ xấu của ACB
tính đến cuối năm 2010 ở mức 0,34% nhưng chưa thể đánh giá đúng mức chất
lượng của các khoản vay này vì chuẩn mực kế toán Việt Nam còn thông thoáng.
2.3.3 Nguyên nhân hạn chế
 Năm 2010 là năm đầy khó khăn, thách thức đối với ngành ngân hàng do một số
lý do khách quan sau:
- Kinh tế toàn cầu dè dặt phục hồi trong năm 2010 với những bước đi ngập
ngừng và những triển vọng không mấy lạc quan: khủng hoảng công nợ ở các
quốc gia Châu Âu, những vấn đề về định giá đồng tiền hay như giới truyền
thông đưa tin hơi quá về “chiến tranh tiền tệ”, lạm phát ở Trung Quốc và các
nền kinh tế mới nổi.

53

- Kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao (6,78%) được đánh đổi bởi tỷ lệ
lạm phát vượt qua 2 con số. Tỷ giá, giá vàng liên tiếp leo thang, dự trữ ngoại
tệ “mỏng”, thị trường lãi suất nóng bỏng vào những tháng cuối năm, hiệu
quả và tính an toàn hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế chịu
nhiều tổn thương.
- Môi trường pháp lý cho hoạt động của các NHTM năm qua có nhiều thay đổi
theo hướng “xiết chặt” hơn, áp lực lớn hơn với sự ra đời của các thông tư
13/2010/TT-NHNN, 19/2010/TT-NHNN của NHNN, luật TCTD mới và hạn
chót thực hiện Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính Phủ về danh mục mức
vốn pháp định của các NHTM… và những ý kiến trái chiều trong việc thực
hiện các văn bản này.
- Cạnh tranh gay gắt và thiếu minh bạch giữa các NHTM, đặc biệt trong lĩnh
vực huy động tiền gửi khách hàng. Một số ngân hàng huy động lãi suất cao
một cách bất hợp lý đã làm cuộc đua nâng lãi suất lên cao và làm giảm thị
phần huy động của những ngân hàng hoạt động theo đúng quy định. Việc
cân bằng mục tiêu tăng trưởng và hiệu quả trở nên khó khăn hơn nhiều.
- Hoạt động tín dụng rất rủi ro trong điều kiện chính sách tiền tệ thay đổi
nhanh chóng, khó lường và trái chiều; tỷ giá không ổn định; nguy cơ lạm
phát cao và nền kinh tế tăng trưởng chưa bền vững.


Bên cạnh đó không thể không kể đến những nguyên nhân xuất phát từ nội tại

ACB:
Hoạt động kinh doanh liên quan đến vàng bị thu hẹp và hạn chế: đóng cửa
các trung tâm giao dịch vàng, chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước
ngoài; thu hẹp hoạt động huy động và cho vay vàng theo Thông tư 22/2010/TTNHNN.
Chiến lược tăng trưởng ngang đang hết dần ưu thế. Các hoạt động tăng
trưởng bề sâu chưa có kết quả cụ thể.

54

Môi trường làm việc, chế độ đãi ngộ nhân viên chưa được chú trọng dẫn đến
tình trạng chảy máu chất xám, chưa thực sự thúc đẩy nhân viên tâm huyết với nơi
mình làm.
Mạng lưới trong quá trình phát triển chủ yếu tập trung ở Tp.HCM và Hà Nội,
nhiều địa điểm giao dịch phải thuê của khách hàng với chi phí rất cao nhưng hoạt
động chưa hiệu quả. Các sản phẩm dịch vụ có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao,
nhất là sản phẩm thay thế cho sản phẩm đầu tư vàng không thể triển khai nên không
thực hiện được việc gia tăng nguồn thu từ phí.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tóm lại, với nguồn dữ liệu thu thập được, chương 2 đã đề cập đến thực trạng
hiệu quả hoạt động của ACB như hoạt động quản trị điều hành và kiểm soát, vốn
ngân hàng, chất lượng tài sản, kết quả kinh doanh và khả năng thanh khoản. Đánh
giá hiệu quả hoạt động của ACB trong thời gian qua đã đạt được những thành công
nhất định và những lợi thế so sánh với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, vẫn còn một
số hạn chế làm ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ACB, đặc biệt
là xu thế hội nhập tài chính quốc tế càng sâu rộng. Do đó, việc tìm hiểu những tồn
tại và nguyên nhân của nó sẽ là cơ sở giúp cho ACB đưa ra các biện pháp góp phần
nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động trong giai đoạn tiếp theo. Những giải pháp
này được trình bày trong chương 3.