Tải bản đầy đủ
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

Tải bản đầy đủ

16

Thị trường tài chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các ngân hàng
phát triển và gia tăng cung vào một ngành có lợi nhuận, muốn vậy yêu cầu tiềm năng
tài chính cũng phải gia tăng.
Mặt khác, đặc điểm hoạt động của các loại hình định chế tài chính có mối liên
hệ rất chặt chẽ và có sự bổ trợ lẫn nhau, như ngành bảo hiểm và thị trường chứng
khoán với ngành ngân hàng. Sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường chứng
khoán, một mặt chia sẽ thị phần với ngân hàng, nhưng mặt khác cũng hỗ trợ cho sự
tăng trưởng của ngành ngân hàng thông qua việc cắt giảm chi phí và tạo điều kiện cho
các NHTM đa dạng hóa các dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh nhờ tận dụng lợi thế
theo phạm vi.
Sự phát triển của thị trường tài chính được thể hiện qua sự phát triển của công
cụ thị trường tài chính và sự hoàn thiện cơ chế hoạt động của thị trường tài chính.
Với sự phát triển của các công cụ tài chính sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể
trong nền kinh tế khi cần vốn có thể huy động từ các nguồn như: Phát hành cổ phiếu
(Công ty, NHTM), trái phiếu (Kho bạc, ngân hàng, Công ty). Tạo điều kiện cho
NHTM tăng vốn chủ sở hữu bằng phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi. Mặt
khác, người có tiền có cơ hội lựa chọn đầu tư ngoài gửi vào NHTM, từ đó làm thu hẹp
thị phần huy động và cho vay của các NHTM dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
nhuận và việc nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam.
Với cơ chế hoạt động của thị trường tài chính (chính sách tiền tệ, hoạt động của
thị trường tiền tệ liên ngân hàng, chính sách tỷ giá, quản lý ngoại hối và lãi suất, sự
phát triển của thị trường chứng khoán) ngày càng hoàn thiện đã tạo điều kiện cho
NHTM đa dạng hóa các dịch vụ, tăng quyền chủ động trong kinh doanh, chủ động tìm
kiếm dự án có hiệu quả, tự chịu trách nhiệm với các khoản vay,… từ đó tạo động lực
cho các ngân hàng chủ động cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động.
1.3.2 Nhân tố chủ quan từ phía NHTM

 Chiến lược, chính sách kinh doanh của ngân hàng
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng là một chương trình hoạt động tổng thể
và dài hạn nhằm tạo ra một bước phát triển nhất định của ngân hàng, là sự cam kết

17

trước về các mục tiêu cơ bản, toàn diện mà một ngân hàng cần phải đạt được và sự
phân bổ các nguồn lực quan trọng để đạt các mục tiêu đó trong môi trường hoạt động
tương lai.
Như vậy, chiến lược kinh doanh của ngân hàng được xây dựng phải dựa trên cơ
sở môi trường kinh doanh, sự phát triển của hệ thống tài chính và thực tế hoạt động
kinh doanh của ngân hàng để đảm bảo tính kế thừa, phải dễ dàng thay đổi để thích ứng
với những thay đổi của thị trường theo từng giai đoạn, từng thời kỳ cụ thể. Nội dung
của chiến lược phải đảm bảo đầy đủ, rõ ràng, có tính thuyết phục và khả thi cao.
Khi một mục tiêu được đưa vào chiến lược kinh doanh của ngân hàng điều này
có ý nghĩa: Thể hiện mục tiêu này đã được Ban lãnh đạo ngân hàng định hướng trong
dài hạn; ngân hàng sẽ phải chuẩn bị yếu tố nguồn lực phù hợp với điều kiện và môi
trường kinh doanh để đảm bảo mục tiêu được thực hiện; Chiến lược kinh doanh không
phải những đường hướng vô định mà luôn hướng đến mục đích, mục tiêu nhất định với
ý nghĩa là kết quả chung, khái quát nhất của quá trình kinh doanh mà ngân hàng cần
đạt được trong tương lai. Vì vậy khi mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động được thể
hiện trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng là một đảm bảo chắc chắn cho sự
thành công.

 Năng lực quản trị điều hành của đội ngũ lãnh đạo
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, các ngân hàng Việt Nam đang đứng
trước nhiều vận hội lẫn thách thức. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo ra
ưu thế cạnh tranh, tồn tại và phát triển trong khi tất cả các đối thủ đều tận dụng triệt để
các cơ hội của thị trường từ khâu sản phẩm, lãi suất, phí, mạng lưới phân phối và
quảng cáo tiếp thị. Như vậy chỉ có năng lực quản trị của con người mới quyết định
được sự thành công của công việc. Đội ngũ lãnh đạo, ngoài yêu cầu phải có trình độ
chuyên môn, khả năng giao tiếp cũng như khả năng ngoại ngữ tốt còn phải có tầm và
tâm mới đem đến hiệu quả hoạt động tốt cho ngân hàng, đưa ra những kế hoạch phát
triển chính xác, hiệu quả cao và an toàn cũng như tạo ra môi trường làm việc nghiêm
túc và có văn hóa.

18

 Nguồn nhân lực:
Con người là nhân tố quan trọng nhất cho quá trình cải cách và phát triển của
NHTM. Nhân lực tốt không những làm chủ mạng lưới, công nghệ mà còn là nhân tố
quyết định cải tiến mạng lưới, công nghệ, quy trình… và điều quan trọng hơn là tạo ra
và duy trì các mối quan hệ bền vững với khách hàng. Một NHTM chỉ có thể phát triển
bền vững nếu có một nền tảng khách hàng bền vững, điều này thì máy móc, công nghệ,
thiết bị không thể làm thay được cho con người. Nguồn nhân lực thể hiện trên hai khía
cạnh, đó là số lượng và chất lượng:
Về số lượng: khi mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vục tốt khách hàng,
các NHTM cần phải có số lượng nhân sự nhất định.
Về chất lượng: nói đến chất lượng nguồn nhân lực thì trước tiên phải xét đến trình độ
của đội ngũ lao động bao gồm trình độ năng lực chuyên môn và kỹ năng hỗ trợ như
ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề,
làm việc theo nhóm… Tiêu chí này rất quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng
của người lao động trong ngân hàng có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt
kỹ năng nghiệp vụ. Chất lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở đạo đức của từng người
lao động trong tác nghiệp, đạo đức tốt sẽ hạn chế được rất nhiều những rủi ro cho ngân
hàng.

 Công nghệ ngân hàng:
Công nghệ thông tin chính là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa
các NHTM với nhau trong kinh doanh. Công nghệ tạo nên sự chuyển biến mang tính
độc đáo và tính tiện ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Các NHTM ngày nay rất
chú ý tới việc nâng cao công nghệ cho sản phẩm của mình cung cấp.
1.4 Xu thế tất yếu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM trong nền
kinh tế hiện đại
Mở cửa thị trường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh
về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý, áp lực cạnh tranh cũng tăng dần theo lộ
trình nới lỏng các qui định đối với các ngân hàng nước ngoài, trong khi các NHTM
Việt Nam còn nhiều yếu kém:

19



Trình độ chuyên môn và trình độ quản lý còn bất cập, hiệu quả hoạt động và sức
cạnh tranh thấp, nợ quá hạn cao, khả năng chống đỡ rủi ro còn kém, vốn nhỏ,
năng lực tài chính thấp, chất lượng tài sản chưa cao;



Hoạt động tín dụng được mở rộng nhanh chóng nhưng rủi ro tín dụng chưa được
kiểm soát và đánh giá một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và
yêu cầu hội nhập;



Sản phẩm và dịch vụ còn đơn điệu, tính tiện ích chưa cao, chất lượng dịch vụ
thấp. Qui trình quản trị trong các TCTD Việt Nam chưa phù hợp với các nguyên
tắc và chuẩn mực quốc tế, tính minh bạch thấp, chưa hình thành môi trường làm
việc và văn hóa kinh doanh lành mạnh do vai trò và trách nhiệm của các vị trí
công tác chưa rõ ràng, hệ thống thông tin quản lý và quản lý rủi ro chưa hiệu quả;



Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán lạc hậu và có nguy cơ tụt
hậu xa hơn so với các nước trong khu vực, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển và
nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực quản lý điều hành của NHNN và khả năng
chống đỡ rủi ro của các NHTM còn nhiều hạn chế;



Thể chế của hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, hệ thống pháp luật về ngân
hàng thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với yêu cầu cải cách và lộ trình hội nhập.
Vì thế, các NHTM trong nước sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh về qui mô, khách

hàng và hệ thống kênh phân phối, nhất là sau năm 2010, khi những hạn chế nêu trên và
sự phân biệt đối xử bị loại bỏ căn bản. Đặc biệt, rủi ro đối với NHTM trong nước có
thể tăng lên do các ngân hàng nước ngoài nắm quyền kiểm soát một số tổ chức tài
chính trong nước thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, liên kết kinh doanh; một
số tổ chức tài chính trong nước sẽ gặp rủi ro và có nguy cơ thua lỗ, phá sản do sức cạnh
tranh kém và không có khả năng kiểm soát rủi ro khi tham gia các hoạt động ngân hàng
quốc tế.
Mở cửa thị trường tài chính trong nước làm tăng rủi ro do những tác động từ
bên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỷ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thị
trường quốc tế giảm dần. NHTM trong nước cũng phải đối mặt với các cơn sốc kinh tế,
tài chính quốc tế và nguy cơ khủng hoảng. Trong trường hợp đó, thị trường vốn chưa

20

phát triển sẽ khiến hệ thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi ro gây
lên.
Vì vậy, các ngân hàng trong nước không còn cách nào khác là phải tự “cải tổ”
mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động để có thể cạnh tranh trong bối cảnh mới. Áp
lực cạnh tranh đóng một vai trò như một động lực thúc đẩy các ngân hàng ngày càng
phải nâng cao năng lực của mình.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng kết chương 1, luận văn đã đi vào nghiên cứu những vấn đề lý luận về
ngân hàng, hiệu quả hoạt động của NHTM và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của NHTM, đồng thời đưa ra nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động của
NHTM thông qua các chỉ tiêu trong mô hình CAMELS.
Từ đó làm cơ sở và tiền đề cho việc phân tích và đánh giá thực tiễn hiệu quả
hoạt động của ngân hàng TMCP Á Châu ở chương tiếp theo.