Tải bản đầy đủ
- Xác định nhu cầu vốn lưu động: Trước mỗi năm kế hoạch, công ty luôn lập ra những chỉ tiêu kế hoạch để thực hiện dựa trên những căn cứ có khoa học như kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao hàng hóa, giá cả và trình

- Xác định nhu cầu vốn lưu động: Trước mỗi năm kế hoạch, công ty luôn lập ra những chỉ tiêu kế hoạch để thực hiện dựa trên những căn cứ có khoa học như kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao hàng hóa, giá cả và trình

Tải bản đầy đủ

So sánh con số này với lượng vốn lưu động thực tế của công ty năm
2011 (481.814.000 đồng) là khá hợp lý. Đó là do công ty xác định doanh
thu dự kiến và vòng quay vốn lưu động phù hợp. Vậy để có một lượng vốn
lưu động bình quân là 3.125.000.000 đồng cung cấp cho hoạt động sản xuất
kinh doanh năm 2013 công ty cần có phương án huy động thêm vốn; tìm
kiếm nguồn tạo lập vốn lưu động.
3.2.2. Tăng cường công tác quản lí các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng
vốn bị chiếm dụng
Trong năm 2013, mặc dù đã thu được một số khoản nợ đọng song VLĐ của
công ty còn bị chiếm dụng khá lớn, hàng hoá tồn kho còn nhiều. Điều đó cho
thấy công tác bán hàng, thanh toán tiền hàng, thu hồi công nợ còn cần phải chặt
chẽ hơn nữa. Công ty chưa đề ra các biện pháp khuyến khích khách hàng mua
với số lượng lớn, thanh toán ngay từ đầu hoặc thanh toán nhanh. Nguyên nhân
cơ bản dẫn đến tình trạng vốn bị chiếm dụng và ứ đọng là: Trong các hợp đồng
tiêu thụ sản phẩm của công ty kí kết với khách hàng chưa có các điều kiện ràng
buộc chặt chẽ về mặt thanh toán, về số tiền ứng trước, công ty chưa có các hình
thức khuyến khích khách hàng thanh toán tiền hàng sớm và ngay khi giao hàng.
Do đặc điểm SXKD của công ty là chuyên nhận lắp đặt cho các dự án,công
trình cho các dự án đã hoàn thành nhưng chưa bàn giao cho nên công ty không
áp dụng chính sách thương mại đối với khách hàng. Sau mỗi lần đặt hàng, công
ty lắp đặt xong và bàn giao thì phía khách hàng mới thanh toán tiền chi phí lắp
đặt và tiền hàng của công ty bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân
hàng Đầu tư và Phát triển. Để đảm bảo sự ổn định, lành mạnh và tự chủ về mặt
tài chính, thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của VLĐ, từ đó góp phần sử dụng
vốn tiết kiệm, hiệu quả, công ty cần có biện pháp hữu hiệu để hạn chế tình trạng
nợ nần dây dưa không thanh toán của khách hàng, công ty cần áp dụng một số
biện pháp như:

- Trước khi kí kết hợp đồng lắp đặt, mua bán, công ty phải xem xét kĩ
lưỡng từng đối tượng, từng khách hàng. Công ty nên từ chối kí hợp đồng với
những khách hàng nợ nần dây dưa hoặc không có khả năng thanh toán, hoặc
những đơn đặt hàng có số tiền trả trước quá nhỏ.
- Mở sổ chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài công ty, thường
xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn. Nếu có nhiều khách hàng mua chịu, sổ tài
khoản kế toán phải ghi chi tiết cho từng khách hàng được bao nhiêu và số tiền
công ty còn phải thu hồi để từ các sổ chi tiết đó, công ty có thể lập dự phòng
cho các khoản phải thu khó đòi và có phương hướng xử lí.
- áp dụng chính sách tín dụng thương mại để có thể kí kết được nhiều hợp
đồng hợp tác kinh tế hơn. Từ đó, tạo điều kiện tăng thu nhập cho công nhân,
khai thác được hết thế mạnh của mình.
3.2.3. Sử dụng có hiệu quả các biện pháp giảm chi phí tồn kho và hỗ trợ
tiêu thụ sản phẩm.
Ta thấy hàng tồn kho trong những năm gần đây đang tăng và chiếm tỷ
trọng lớn hơn trong cơ cấu VLĐ của công ty. Do đó việc giảm hàng tồn kho
xuống là điều rất quan trọng và khó khăn. Em xin đưa ra một số ý kiến để giảm
lượng hàng tồn kho xuống như sau:
- Thường xuyên theo dõi kiểm tra xem mặt hàng nào tồn kho nhiều và
nguyên nhân tồn kho là gì? Do giá cả, do chất lượng hay do nhu cầu thị trường
hiện tại…Cho dù là nguyên nhân nào đi nữa công ty cũng phải tìm mọi cách
giảm hàng tồn kho vì hàng hóa tồn lâu ngày trong kho sẽ rất khó bảo quản, làm
giảm chất lượng và tăng một lượng chi phí lớn cho việc bảo quản gây ứ đọng
vốn. Vì vậy việc nắm được nguyên nhân sẽ giúp cho công ty có những phương
án xử lý dễ dàng hơn. Ví như mặt hàng thép tấm tồn kho với lượng khá lớn do
giá cả nhập vào cao ( 740.000 đồng/ kg) mà giá cả trên thị trường nguyên vật
liệu có xu hướng giảm như vậy để tiêu thụ lượng hàng tồn đọng này công ty có
thể giảm giá 3% - 5% thậm chí bán với giá thấp hơn để thu hồi vốn nếu như

việc tiêu thụ quá khó khăn và hàng tồn trong kho quá lâu. Hay tồn kho do nhu
cầu khách hàng và thị trường thì vấn đề đặt ra là công ty sẽ phải có những biện
pháp tìm kiếm bạn hàng và thị trường tiêu thụ mới.
- Việc bốc dỡ, vận chuyển, xuất hàng có ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ
lưu chuyển hàng hóa. Chính vì vậy hai bên mua bán cần có những thỏa thuận về
việc chịu chi phí vận chuyển, bốc dỡ nhằm tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng
hóa, tránh chi phí thuê kho lưu bãi không cần thiết. Một số xe tải chuyên chở
hàng đã xuống cấp như: chiếc xe Jac biển số 16N- 4325, xe Hyundai biển số
15N- 2887 bộ phận này cần lập báo cáo để có kế hoạch sửa chữa bảo dưỡng
nhanh chóng đảm bảo an toàn cho các lái xe và tăng tốc độ lưu chuyển hàng
hóa….
- Đối với những hàng hóa tồn kho lâu ngày cần có những biện pháp thúc
đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa như: giảm giá, áp dụng phương thức thanh
toán chậm hoặc đưa ra mức giá linh hoạt đối với từng thời gian trả tiền. Khách
hàng trả tiền càng sớm thì mức giá càng được ưu tiên và chi phí trả chập càng
giảm.
- Giảm công cụ dụng cụ cũng là một nhiệm vụ cần quan tâm trong việc
giảm hàng tồn kho của công ty. Công việc này thuộc về bộ phận quản lý và kho,
bộ phận này cần theo trên dõi hồ sơ và cả thực tế các loại máy móc thiết bị cũng
như các phương tiện sửa chữa vận chuyển trong công ty. Xác định và dự toán
xem trong thời gian tới có những loại máy móc thiết bị nào cần phải bảo dưỡng,
sửa chữa lớn vừa hay nhỏ và cần những loại chi tiết phụ tùng nào thay thế. Sau
đó bộ phận này lập một bản báo cáo trình nên phó giám đốc để có những kế
hoạch thu mua và sửa chữa kịp thời. những loại phương tiện máy móc hay phụ
tùng không dùng đến hoặc đã hư hại nhiều thì có thể thanh lý nhượng bán…Ví
dụ như các loại que hàn tại kho bộ phận sửa chữa đã hỏng hoặc hư hại nhiều, sử
dụng không đạt hiệu quả, nên nhượng bán tài sản này và mua mới thay thế. Tại
bộ phận vận chuyển hàng hóa có một số thiết bị phụ tùng ô tô cũ, không còn giá

trị sử dụng lưu trong kho số 3 cũng nên thanh lý nhượng bán để tăng thêm một
khoản thu nhập và giảm lượng CCDC tồn kho không cần thiết.
3.2.4. Biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.
Khi kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể
lường hết đựơc mọi vấn đề bất thường xảy ra trên thị trường như lạn phát,
khủng hoảng tiền tệ, về phía người cung cấp.... Để hạn chế phần nào những tổn
thất trên công ty cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Để hạn chế ảnh hưởng của rủi ro công ty nên lập quỹ dự phòng tài chính,
mua bảo hiểm cho hàng hoá để khi vốn bị hao hụt thì đã có nguồn bù đắp, khi
tổn thất xảy ra sẽ được bồi thường.
Định kỳ tiến hành kiểm kê đánh giá lại số vật tư hàng hoá, vốn bằng tiền,
vốn trong thanh toán, xác định số vốn lưu động hiện có theo giá trị hiện tại;
Trên cơ sở kiểm kê đánh giá lượng vật tư hàng hoá mà đối chiếu với sổ sách kế
toán để điều chỉnh sao cho hợp lý, những vật tư hàng hoá tồn đọng lâu ngày do
kém phẩm chất hoặc không phù hợp với nhu cầu sản xuất phải chủ động giải
quyết, phần chênh lệch thiếu hụt phải xử lý kịp thời để bù lại.
Đôn đốc các khoản nợ, thường xuyên đối chiếu thu hồi công nợ, giải quyết
tích cực các khoản vốn bị chiếm dụng quá hạn dây dưa, tiền thu về nhanh chóng
sử dụng vào sản xuất nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn, những khoản nợ xét
thấy khách hàng không có khả năng trả thì lập danh sách theo dõi để có kế
hoạch bù đắp đảm bảo vốn lưu động.
Những khoản tạm ứng phải thu hồi, thanh toán ngay khi đến hạn; Có biện
pháp xử lý đối với những người nợ dây dưa chiếm dụng vốn của công ty. Trích
lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng giảm giá
hàng bán tồn kho. Việc công ty tham gia bảo hiểm tạo ra một chỗ dựa vững
chắc, một tấm lá chắn tin cậy về kinh tế, giúp công ty có điều kiện về tài chính

để chống đỡ có hiệu quả mọi rủi ro, tổn thất bất ngờ xảy ra mà vẫn không ảnh
hưởng nhiều đến vốn lưu động.
Để bảo toàn vốn trong điều kiện lạn phát khi phân phối lợi nhuận cho các
mục đích tích luỹ, tiêu dùng phải để dành lại một phần để bù đắp số vốn hao hụt
do lạn phát có như vậy mới đảm bảo giá trị hiện tại của vốn. Phòng ngừa rủi ro
trong khinh doanh là biện pháp rất cần thiết đối với tất cả các doanh nghiệp nói
chung và với công ty nói riêng nhất là trong thương trường đầy những cạnh
tranh và rủi ro.
3.2.5. Chú trọng phát huy nhân tố con người.
Dù bất kỳ ở môi trường nào nhân tố con người vẫn luôn được đặt lên hàng
đầu. trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, người ta không chỉ cần có
vốn, công nghệ mà quan trọng hơn cả là con người. Trong nhiều năm qua cũng
như nhiều doanh nghiệp khác, công ty chưa tận dụng được hết sức lực, trí tụê
của CBCNV trong công ty, chưa phát huy được hết tiềm năng con nguời. Đây là
một vấn đề tồn tại cần phải có biện pháp khắc phục; Để làm tốt công tác phát
huy nhân tố con người công ty cần phải xem xét các vấn đề như:
Xét lại cơ cấu nhân sự của công ty, tìm hiểu đánh giá năng lực trình độ của
từng CBCNV để có biện pháp quản lý thích hợp. Công ty sẽ cử 3-5 người đị học
thêm để năng cao tay nghể về kỹ thuật vận hành máy, bảo quản sửa chữa tài sản
để đánh giá lại tài sản một cách chính xác và đầy đủ khách quan hơn.
Công tác quản lý cán bộ được thực hiện một cách nghiêm khắc, công minh
nhìn nhận rõ những điểm tích cực và tiêu cực trong quá trình hoạt động của đội
ngũ lao động trong công ty để phát huy hơn nữa những điẻm tích cực và hạn chế
những điểm tiêu cực.
Định kỳ tổng kết quá trình hoạt động của công ty kịp thời khuyến khích
những người có phát minh sáng kiến đóng góp cho sự phát triển của công ty
đồng thời nghiêm khắc phê bình những hành vi sai trái làm cản trở sự đi lên của

công ty. Làm tốt công tác nhân sự là một nhân tố quan trọng giúp cho việc sử
dụng vốn ngày càng có hiệu quả hơn, do vậy công ty cần xem xét nhân tố con
người trong định hướng phát triển của mình.
Phát huy được nhân tố con người chính là phát huy được nội lực to lớn
trong tổng thể các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả
sản xuất kinh doanh của Công ty. Do đó công tác quản lý và đào tạo tốt lao
động sẽ giúp cho công ty phát triển một cách toàn diện hơn.Vậy vấn đề ở đây là
công ty làm thế nào để nâng cao năng lực của cán bộ quản lý tài chính: Một là,
công ty đưa ra những ưu đãi trong tuyển dụng (về lương bổng, trợ cấp, về thời
gian công tác) nhằm thu hút nguồn nhân lực thực sự có chất lượng cao đảm
nhiệm công tác quản lý DN nói chung và quản lý tài chính nói riêng; Hai là, từ
đội ngũ cán bộ hiện tại ( ưu thế là có kinh nghiệm làm việc lâu năm trong nghề)
công ty thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực làm việc (bồi
dưỡng thông qua mở các đợt học tập trung, hay bằng cách cử những cán bộ giỏi
chuyên môn đến làm việc tại DN trong một thời gian nhằm hướng dẫn thông
qua quá trình làm việc).
Trên đây là một số kiến nghị và giải pháp em đưa ra mà Công ty có thể
xem xét và áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và hiệu quả
sản xuất kinh doanh của Công ty. Sự áp dụng đồng bộ các giải pháp đối với mọi
nguồn lực như vốn, lao động, công nghệ... là một yếu tố then chốt đem lại sự
thành công và phát triển bền vững của Công ty. Do sự hạn chế về thời lượng và
kiến thức hiểu biết thực tế nên việc phân tích đánh giá các mặt hoạt động tài
chính - tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ doanh nghiệp chưa thật sâu
sắc, các biện pháp kiến nghị chưa thật đầy đủ và hoàn thiện.
3.2.6 Giải pháp quản lý vốn bằng tiền
Như đã phân tích ở phần thực trạng, vốn bằng tiền của Công ty đều có
nhu cầu tăng cao qua các năm. Việc giữ lại vốn bằng tiền quá nhiều có thể giúp
Công ty chủ động hơn trong việc thanh toán nhưng khi đó tiền sẽ không sinh lãi

gây lãng phí vốn và phát sinh khoản chi phí cơ hội của việc giữ tiền, khi đó
doanh nghiệp nên sử dụng số tiền dư thừa đó thực hiện đầu tư có tính chất tạm
thời hay ngắn hạn để có thể thu được lợi nhuận cao hơn thay vì gửi số tiền đó
vào ngân hàng với lãi suất thấp. Vì vậy vấn đề đặt ra cho Công ty là để lại
lượng vốn bằng tiền thế nào là hợp lý? Để xác định một cách chính xác lượng
tiền này Công ty cần lên kế hoạch về nhu cầu thanh toán và khả năng thanh
toán, kế hoạch về thu chi ngân quỹ của Công ty trong từng quý.
Tóm lại: Công ty cần phát huy những thế mạnh và khắc phục những
khuyết điểm để có thể đứng vững và phát triển hơn nữa trong tương lai để góp
phần làm cho đất nước giàu mạnh hơn.

KẾT LUẬN
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một hướng đi đúng không chỉ
riêng với Công ty TNHH sản xuất kinh doanh Minh Phượng mà
còn đối với nhiều doanh nghiệp khác có mặt trong nền kinh tế thị trường. Trong
cơ chế thị trường, nhu cầu về vốn lưu động là vô cùng lớn, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất để đạt được lợi
nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Để làm được
điều này buộc các doanh nghiệp phải tìm các biện pháp tăng vòng quay vốn lưu
động để khả năng sinh lợi của vốn lưu động cao nhất. Rõ ràng trong điều kiện
hiện nay, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động được khẳng định như một xu
thế khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong sự phát
triển doanh nghiệp. Về ưu điểm công ty đã thực hiện tốt công tác quản lý và sử
dụng vốn lưu động và thực hiện tốt công tác thu hồi nợ và giả quyết tốt hàng tồn
kho. Về nhược điểm tổ chức về quản lý và điều hành chưa linh hoạt, việc sử
dụng vốn bằng tiền chưa hợp lý. Em xin đưa ra một số biện pháp của cá nhân
em biện pháp 1. Khai thác nguồn tài trợ ngắn hạn cho vốn lưu động với chi phí
thấp, biện pháp 2. Tăng cường công tác quản lí các khoản phải thu, hạn chế tối
đa lượng vốn bị chiếm dụng, biện pháp 3. Sử dụng có hiệu quả các biện pháp
giảm chi phí tồn kho và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, biện pháp 4.Biện pháp phòng
ngừa rủi ro trong kinh doanh. biện pháp 5. Nâng cao năng lực quản lý tài chính,
công tác bồi dưỡng cán bộ. Chuyên đề đã giải quyết được các vấn đề về vốn lưu
động và đưa ra một số giải pháp cải thiện tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu
động tại Công ty TNHH sản xuất kinh doanh Minh Phượng.
Chuyên đề thể hiện ý kiến cá nhân với hy vọng được đóng góp một phần
hết sức nhỏ bé vào việc thực hiện công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động.
Tuy nhiên, do khả năng của em còn hạn chế, lý luận còn non kém nên vấn đề