Tải bản đầy đủ
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐÔNG TRONG DOANH NGHIỆP

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐÔNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ

lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần
sau một chu kỳ kinh doanh.
1.1.2 Ý nghĩa của vốn lưu động
Vốn lưu động có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ
phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh
nghiệp.
Vốn lưu đong còn có khả năng quyết định quy mô hoạt động của doanh
nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp có thể tự làm chủ trong việc
sử dung vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động
lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là để dự trữ vật tư hàng hóa. Vốn lưu đông
còn giúp được doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp
Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu lên giá thành sản phẩm do đăc
điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm, giá trị hàng hóa bán ra
được tính toán trên cơ sở bù đắp giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi
nhuận.
1.1.2 Nội dung và thành phần vốn lưu động
• Nội dung
Mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động còn phải có đối
tượng lao động.Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trinh sản xuất không
dữ nguyên hình thái ban đầu bộ phận của đối tượng lao động sẽ thông qua quá
trình chế biến hợp thành thực tế của sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí trong
quá trình sản xuất đến chu kỳ sản xuất sau phải dùng đối tượng khác. Cũng do
đặc điểm trên làm toàn bộ giá trị của đối tượng lao động được chuyển vào sản
phẩm.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ phận:
7

Một bộ phận là vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục
(nguyên nhiên vật liệu...); Một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá
trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm).Hai bộ phận này biểu
hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động.
-Mặt khác quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình
lưu thông. Trong quá trình lưu thông, còn phải tiến hành một số công việc như
chọn lọc, đóng gói, xuất giao sản phẩm và thanh toán ...do đó trong khâu lưu
thông hình thành khoản hàng hóa và tiền tệ, vốn trong thanh toán...
Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằm
trong quá trình lưu thông thay chổ nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo
cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi
Như vậy, doanh nghiệp nào củng cần phải có một số vốn thích đáng để đầu tư
vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản đó được gọi là vốn luân
chuyển của doanh nghiệp.
Vốn lưu động luôn được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu
từ hình thái tiền tệ đang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa và cuối cùng lại trở về
trạng thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp diễn ra liên tục không ngừng có tính chất chu kỳ thành chu chuyển của
tiền vốn.
Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ
phận tồn tại cùng một lúc dưới cá hình thái khác nhau trong các lĩnh vực sản
xuất và lưu thông.
Tóm lại vốn lưu động của doanh ngiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động
và taì sản lưu thông nhằm dảm bảo chô quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp
thực hiện được liên tục, thường xuyên.Vốn luân chuyển là luân chuyển toàn bộ
giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục là hoàn thành một vòng tuần hoàn
sau một chu kỳ sản xuất.Vốn luân chuyển là vật chất không thể thiếu được của
quá trình tái sản xuất.
Qua phần trình bày trên có thể thấy cùng một lúc, vốn luân chuyển của doanh
nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới những
8

hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất được liên tục, doanh nghiệp
phải co đủ vốn luân chuyển đàu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho
các hình tháicó được mức tồn tại hợp lý và đòng bộ với nhau. Như vậy, sẽ khiến
cho việc chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận
lợi. Nếu như doanh nghiệp nào đó, không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp
khó khăn, và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hoặc gián đoạn
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật
tư cũng là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của
doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn là phản ánh sự vận
động của vật tư. Nhìn chung vốn luân chuyển nhiều ít là phản ánh số lượng vật
tư sử dung nhiều hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông sản
phẩm có hợp lý hay không hợp lý. Bởi vậy thông qua tình hình luân chuyển vốn
lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm dự trữ,
sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
• Thành phần
Thành phần vốn lưu động bao gồm:
-Tiền và khoản đầu tư ngắn hạn
+ Tiền của doanh nghiệp được hình thành từ sự cấp phát của ngân sách Nhà
nước, tự có hay được bổ xung từ lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó tồn tại dưới
nhiều hình thức khác nhau như: Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển, tiền gửi
ngân hàng
+ Đầu tư tài chính ngắn hạn được hình thành từ góp vốn liên doanh hay đầu tư
chứng khoán ngăn hạn mà có thể thu lại lượng vốn ban đầu trong vòng một năm
hoặc một chu kỳ kinh doanh.
-Các khoản phải thu
+ Phải thu khách hàng: Là một trong những bộ phận quan trọng nhất của vốn
luân chuyển. Khi bán hàng doanh nghiệp thường không thu được tiền ngay đây
là biểu hiện tín dụng thương mại và chúng tạo ra các khoản phải thu.

9

+ Trả trước người bán: Đây là khoản ứng trước cho người bán do yêu cầu của
nhà cung cấp và tạo niềm tin hay là đặc tính quan trọng của hàng hóa.
+ Phải thu nội bộ: Là khoản thu nội bộ đối với các chi nhánh, thành viên trực
thuộc
+ Các khoản phải thu khác: Là những khoản phải thu của doanh nghiệp ngoài
vốn hàng tồn kho những khoản phải thu như: tạm ứng, thế chấp, ký cược, ký quỹ
ngắn hạn
Hàng tồn kho: thuộc loại này bao gồm:nguyên vật liệu chính,vật liệu
phụ...sản phẩm đang chế tạo, phí tổn chờ phân bổ, thành phẩm, hàng đang trên
đường, hàmg gửi đi bán,...Tùy theo đặc điểm kinh doanh của từng ngành,của
từng mặt hàng,tùy quy mô hoạt động, điều kiện hoạt động mà doanh nghiệp có
chính sách dự trữ hàng tồn kho một cách có hiệu quả và hợp lý.Bên cạnh đó cần
ước lượng, dự báo và có biện ơháp duy trì mổi loại hàng tồn kho để có tỉ trọnh
cuả từng loại đạt ở mức hợp lý trong suốt quá trìng hoạt động.
Cách phân loại này giúp các doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm
tra kết cấu tối ưu của vốn luân chuyển để dựu thảo những quyết định tối ưu về
mức vận dung vốn lưu động đã bỏ ra.Mặt khác, thông qua cách phân loại này có
thể tìm biện pháp phát huy chức năng của các thành phần của vốn luân chuyển
bằng cách xác định ức dự trử hợp lý để từ đó mà xác định nhu cầu vốn lưu động.
Ví dụ, vốn nguyên liệu vật liệu nhằm bảo đảm quá trình sản xuất liên tục vơí
một số chi phí nhỏ nhất về mua sắm và bảo quản; vốn sản phẩm đang chế tạo
làm chức năng bảo đảm quá trình sản xuất được liên tục với năng suất lao động
được nâng cao
- Vốn lưu động khác
Vốn lưu động bổ xung là số vốn doanh nghiệp tự bổ xung từ lợi nhuận, các khoản

tiền phải trả nhưng chưa đến hạn như tiền lương, tiền nhà...
Vốn lưu động do ngân sách cấp: là loại vốn mà doanh nghiệp nhà nước được nhà

nước giao quyền sử dụng.
10

Vốn liên doanh liên kết: là vốn do doanh nghiệp nhận liên doanh, liên kết với các

đơn vị khác.
Vốn tín dụng: là vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng và các đối tượng khác để

kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một cơ cấu vốn lưu
động hợp lý hiệu quả. Đặc biệt quan hệ giữa các bộ phận trong vốn lưu động
luôn thay đổi nên người quản lý cần phải nghiên cứu để đưa ra một cơ cấu phù
hợp với đơn vị mình trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.
1.1.3 Phương pháp phân tích tình hình sử dụng VLĐ.
• Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân
tích tài chính. Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần quan tâm
đến tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh của chỉ tiêu phân tích cũng như kĩ
thuật so sánh.
• Phương pháp loại trừ :
Trong một số trường hợp, phương pháp này được sử dụng trong phân tích
tài chính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu tài
chính xác định các nhân tố còn lại không thay đổi. Phương pháp này còn là công
cụ hỗ trợ quá trình ra quyết định.


Phương pháp cân đối liên hệ :

Các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối giữa
tài sản và nguồn vốn ; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả, cân đối, cân
đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, cân đối giữa tăng và giảm. Dựa vào
những cân đối cơ bản đó người ta vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem
xét những tác động ảnh hưởng của nhân tố này đến nhân tố kia như thế nào và
ảnh hưởng đến biến động của chỉ tiêu phân tích.
• Phương pháp chi tiết :
Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương
quan với nhau. Chẳng hạn mối tương quan giữa doanh thu của đơn vị càng tăng
11

thì số dư của các khoản nợ phải thu cũng tăng, hoặc doanh thu dẫn đến yêu cầu
về dự trữ hàng cho kinh doanh tăng. Một trường hợp khác là tương quan giữa
chỉ tiêu "chi phí đầu tư xây dựng cơ bản" với chỉ tiêu "nguyên giá tài sản cố
định" ở doanh nghiệp. Cả hai số liệu này đều trình lên Bảng cân đối kế toán.
Một khi trị giá các khoản xây dụng cơ bản gia tăng thường phản ánh doanh
nghiệp có tiềm lực về cơ sở hạ tầng trong thời gian đến. Phân tích tương quan sẽ
đánh giá tính hợp lý về biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỷ số
tài chính được phù hợp hơn và phục vụ công tác dự báo tài chính ở doanh
nghiệp
1.1.4 Nội dung phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động.
• Phân tích cơ cấu vốn kinh doanh
Bảng 1.1 Mẫu bảng phân tích cơ cấu VKD
Chỉ tiêu

Kỳ gốc
Số tiền %

Kỳ phân tích
Số tiền %

Chênh lệch
( + -) Tỷ lệ
%

1. Vốn cố định
2. Vốn lưu động
3.Tổng vốn kinh doanh

- Mục đích phân tích: nhằm nhận thức đánh giá khái quat tình hình tăng giảm
vốn kinh doanh và cơ cấu vốn kinh doanh qua các năm
- Nguồn phân tích các chỉ tiêu là “tài sản ngắn hạn”, “tài sản dài hạn”, “doanh
thu thuần và cung cấp dịch vụ bán hàng”, “lợi nhuận sau thuế”
Qua nguồn phân tích dữ liệu ta thấy được cơ cấu của doanh nghiệp có hợp lý
hay không từ đó điều chỉnh cho phù hợp. Đồng thời đánh giá sự tác động ảnh
hưởng của việc quản lý sử dụng vốn với việc thưc hiên chỉ tiêu kết quả kinh
doanh


Phân tích cơ cấu vốn lưu động

Mục đích phân tích: Nhằm thấy được tình hình tăng giảm, cơ cấu vốn lưu động
qua các năm

12

Nguồn phân tích các chỉ tiêu là: “tiền và cá khoản tiền tương đương”, “các
khoản đầu tư ngắn hạn”, “các khoản phải thu ngắn hạn”, “hàng tồn kho”, “tài
sản ngắn hạn khác”, “ doanh thu thuần và cung cấp dịch vu bán hàng ”
Qua nguồn phân tích dữ liệu ta thấy được sự ảnh hưởng đến tình hình thực hiện
chỉ tiêu kế hoạch bán hàng thấy được cơ cấu phân bổ vốn lưu động có đáp uwng
được nhu cầu hoạt đong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không?
• Phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động
Để khái quát về tình hình sử dụng vốn lưu động, ta tiến hành phân tích việc thực hiện
phân bổ vốn lưu động, muốn phân tích như vậy thì ta cần phải lập bảng phân tích như
sau:
Chỉ tiêu

Kỳ gốc
Số tiền %

Kỳ phân tích
Số tiền
%

Chênh lệch
( + -) Tỷ lệ
%

1. Tiền
2. Đầu tư ngắn hạn
3.Các khoản phải thu
4. Hàng tồn kho
5.TSLĐ khác
6. Tổng VLĐ

- Phân tích khái quát tình hình sử dụng sử dụng vốn lưu động nhằm mục đích
đánh giá tình hình tăng giảm và nguyên nhân tăng giảm qua đó thấy được sự tác
động ảnh hưởng đến tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch doanh thu bán
hàng .Với việc lập bảng phân tích như trên giúp ta biết được tình hình phân bổ
vốn lưu động ở doanh nghiệp như thế nào, tỉ trọng từng loại TSLĐ trong tổng tài
sản lưu động và việc phân bổ như thế đã hợp lý hay chưa. Xem xét xu hướng
biến động của các loại tài sản này qua các năm để thấy dược sự biến động đó có
tốt không. Từ đó có cơ sở để đi sâu phân tích sự biến động của từng bộ phận
VLĐ.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

13

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh
tốc độ luân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất. Tốc
độ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn và ngược lại.
-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số vốn
lưu động cần cho một đồng luân chuyển là ít nhất. Quan niệm này thiên về chiều
hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốn lưu động cho một đồng luân chuyển
thì càng tốt. Nhưng nếu hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được thì hiệu quả sử
dụng đồng vốn cũng không cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là thời gian ngắn nhất để vốn lưu động
quay được một vòng. Quan niệm này có thể nói là hệ quả của quan niệm trên.
-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh tổng TSLĐ so với
tổng nợ lưu động là cao nhất.
-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh số lợi nhuận thu được
khi bỏ ra một đồng vốn lưu động.
-Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm vốn
lưu động một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh số tiêu
thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn lưu
động.
Tóm lại hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một pham trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác sử dụng và quản lý vốn lưu động làm cho đồng vốn sử dụng
lời tối đa nhằm mục đích cuối cùng của doanh nghiệp tối đa hóa hàng tồn kho
hoặc vốn chủ sử hữu.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Phân tích tốc độ luân chuyển của vốn lưu động
- Phân tích tốc độ lưu chuyển của vốn bằng tiền

14

Tốc độ lưu chuyển của vốn lưu động được đo bằng hai mục tiêu là số
vòng quay vốn lưu động và số ngày của 1 vòng quay vốn lưu động.
Số vòng quay
vốn lưu động

=

Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Trong đó:
Vốn lưu động bình quân

=

Số ngày của 1 vòng quay
=
vốn lưu động

VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ
2
Số ngày trong 1 năm (360 ngày)
Số vòng quay VLĐ trong 1 năm

- Phân tích mức tiết kiệm VLĐ
Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được
trong kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:
Vtk = M1/ 360x (K1-K0)
Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn
nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu
động hoặc tăng với quy mô không đáng kể.
Trong đó:

Vtk : Mức tiết kiệm vốn lưu động
K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo
M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch
- Phân tích tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho phản ánh sự luân chuyển hàng tồn kho trong
doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn kho

=

Giá vốn hàng bán
15

Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Giá trị của hàng tồn kho bình quân

Số ngày của 1 vòng quay
=
hàng tồn kho

Giá vốn hàng bán

Trong đó:
Giá trị hàng tồn kho
bình quân

=

Giá trị HTK đầu kỳ + giá HTK trị cuối kỳ

2
- Phân tích tốc độ lưu chuyển của các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải

Doanh thu thuần

=

thu

Các khoản phải thu bình quân

Trong đó:
Các khoản phải thu
bình quân
Kỳ thu tiền

=

Các khoản phải thu đầu kỳ + các khoản phải thu cuối kỳ

=

2
Số ngày trong 1 năm ( 360 ngày)

Số vòng quay các khoản phải thu
bình quân
1.2.3 Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn vận động không ngừng. Trong quá
trình vận động đó, vốn lưu động luôn tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh ở mỗi giai đoạn khác nhau vốn lưu động có sự ảnh hưởng khác nhau đền
hiệu quả sản xuất kinh doanh ở mỗi giai đoạn. Như vây co thể khẳng định vốn
lưu động co ý nghĩa rất quan trọng đối với từng giai đoạn sản xuất kinh doanh
và là nhân tố tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh
nghiệp. Vì vậy việc phân tích hiệu quả sử dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong
công tác sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Hoạt động phân tích hiệu quả vốn lưu động giúp cho nhà quản lý đánh giá
được tình hình sử dụng vốn, nghiên cứu những nhân tố chủ quan và nhâ tố
khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả vốn lưu động nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng vốn lưu động và hiệu quả
sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
16

1.3.2 Nhân tố chủ quan
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động: do xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính xác
dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh, điều này sẽ
ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn
đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất
ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá
trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử
dụng VLĐ và ngược lại.
+ Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn
đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí VLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách gây
thất thoát VLĐ, điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và sử
dụng VLĐ của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt
tới hiệu quả tổ chức và sử dung VLĐ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu xem xét
một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của
những mặt tồn tại trong việc tổ chức sử dụng VLĐ, nhằm đưa ra những biện
pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng vốn lưu động mang lại là cao nhất.
1.3.3 Nhân tố khách quan
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Do tác động của nền kinh tế tăng trưởng
chậm nên sức mua của thị trường bị giảm sút. Điều này làm ảnh hưởng đến tình
hình tiêu thụ của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ hơn,
doanh thu sẽ ít hơn, lợi nhuận giảm sút và như thế sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng.

17