Tải bản đầy đủ
SƠ ĐỒ 2.14: SƠ ĐỒ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ VÀ GHI SỔ KẾ TOÁN

SƠ ĐỒ 2.14: SƠ ĐỒ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ VÀ GHI SỔ KẾ TOÁN

Tải bản đầy đủ

43

chứng từ gốc liên quan. Theo hệ thống kế toán các chứng từ ban đầu về kế toán SCCĐ gồm
có:
-

Biên bản giao nhận TSCĐ (mẫu 1-TSCĐ/BB)

-

Biên bản thanh lý TSCĐ (mẫu 03-TSCĐ/BB)

-

Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành (mẫu 04-TSCĐ/BB

-

Biên bản giao nhận sửa chữa lớn hoàn thành (mẫu 04-TSCĐ/BB)

-

Biên bản đánh giá lại TSCĐ (mẫu 05-TSCĐ/BB)

ở phòng kế toán, kế toán chi tiết TSCĐ được thực hiện ở thẻ TSCĐ (mẫu 02-TSCĐ/BB).
Thẻ TSCĐ do kế toán TSCĐ lập cho từng đối tượng ghi TSCĐ và được lưu ở phòng kế toán
trong suốt quá trình quản lý sổ TSCĐ. Tại nơi quản lý TSCĐ được mở sổ TSCĐ để theo
dõi tình hình quản lý và quản lý ở đơn vị mình.
2.2.5 Kế toán tổng hợp TSCĐ tại Doanh nghiệp
2.2.5.1 Hạch toán tăng TSCĐ
TSCĐ tại DN tăng chủ yếu là do mua sắm bằng nguồn liên doanh, vốn vay ngân
hàng, tăng do xây dựng cơ bản hoàn thành bàn giao.
a. Tăng TSCĐ do mua sắm
(Kể cả mua mới hoặc mua lại TSCĐ đã quản lý)
Việc mua sắm TSCĐ được ký kết hợp đồng giữa Doanh nghiệp và bên bán. Trong
hợp đồng nêu rõ tên tài sản, chủng loại, quy các phẩm chất, các thông số kỹ thuật, giá cả,
phương thức thanh toán. Khi giao hàng bên bán sẽ giao cho Doanh nghiệp: Hoán đơn bán
hàng hoá hoặc hoá đơn GTGT và lập biên bản bàn giao TSCĐ.
Cụ thể:
Ngày 16/12/2013 Doanh nghiệp có mua một máy giặt khô
- Giá mua: 298.785.500đ
- Bên bán chịu mọi phí vận chuyển lắp đặt
-

Căn cứ vào hoá đơn bán hàng của bên bán và biên bản bàn giao máy kế toán TSCĐ căn
cứ vào chứng từ gốc đồng thời làm thủ tục kế toán tăng TSCĐ (vào thẻ TSCĐ, sổ
TSCĐ) trước khi đưa vào quản lý.

44

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI
DOANH NGHIỆP
Doanh nghiệp tư nhân Hải Phòng Trọng Khách luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao
thực hiện thu nộp ngân sách đầy đủ, liên tục đảm bảo đúng chế độ của Nhà nước quy
định.
2.3.1. Những ưu điểm nổi bật trong công tác quản lý TSCĐ.
Tổ chức công tác kế toán ở Doanh nghiệp là phù hợp với quy mô và đặc điểm của
hình thức sản xuất. Bộ máy kế toán rất gọn nhẹ.Với việc phân công lao động cụ thể, trách
nhiệm, nhiệm vụ cho từng cán bộ công nhân viên.
-Trong năm qua, Doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp
TSCĐ để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời nâng cấp chất lượng
sản phẩm dịch vụ và không ngừng tăng doanh thu và lợi nhuận cho đơn vị.
-Khấu hao và kiểm kê TSCĐ theo đúng quy trình đảm bảo việc phản ánh đúng
nguyên giá TSCĐ hiện có cũng như mức trích khấu hao.
-Doanh nghiệp luôn có đội ngũ cán bộ có đầy đủ kinh nghiệm và năng lực để điều
hành vững Doang nghiệp trong những năm qua.Cùng với những thành viên luôn có tinh
thần trách nhiệm cao trong mỗi công việc.
-Bộ phận kế toán luôn cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác số liệu cho mọi đối
tượng cần quan taam đến nhất là bên quản lý như Giám đốc.Để đề ra phương hướng và biện
pháp kịp thời nhằm tạo ra của cải vật chất xã hội và đảm bảo nhu cầu đời sống cho người
lao động.Ngoài những ưu điểm nêu trên, Doanh nghiệp còn tồn tại một số thiếu sót trong
công tác quản lý và phát triển TSCĐ.
2.3.2. Một số tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý TSCĐ
tại doanh nghiệp
-TSCĐ của Doanh nghiệp còn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn.Tất cả
số vốn đó được mua sắm, nâng cấp TSCĐ nhưng ngay từ quá trình đưa vào quản lý doanh
nghiệp chưa đưa ra mức khấu hao cụ thể nên rất có thể gây ra thất thoát vốn và gây khó
khăn trong việc quản lý TSCĐ. Nếu không đưa ra mức trích khấu hao thì sẽ không biết bao
giờ mới phải nâng cấp TSCĐ để bảo toàn và phát triển.

45

-TSCĐ của Doanh nhgiệp chưa đề ra tổ chức đánh số TSCĐ theo dõi chi ttiết đối
tượng công tác thẻ TSCĐ.Việc đánh số phản ánh từng nhóm, từng loại sao cho chựt chẽ
hơn.
-Việc thanh lý TSCĐ còn diễn ra chậm chạp bởi hệ thống thủ tục còn rườm rà nên có thể
gay ra thất thoát vốn trong quá trình thanh lý.Mỗi khi thanh lý hay nhượng bánDoanh
nghiệp ơhải lập phiếu xác định tình trạng kinh tế và tình trạng kỹ thuật cho TSCĐ, lập tờ
trình xin thanh lý gửi cho Giám đốc và chỉ khi nào có quyết định cho phép doanh nghiệp
mới được thanh lý.Vì vậy thường mất rất nhiều thời gian cho công việc này và làm ảnh
hưởng đến việc quản lý và hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ của doanh nghiệp.

46

Chương 3: BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TSCĐ TẠI DOANH
NGHIỆP.
3.1. Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ tại Doanh nghiệp tư nhân Hải Phòng
Trọng Khách.
3.1.1. Hoàn thiện quy trình ra quyết định mua sắm TSCĐ.
Công tác đầu tư mua sắm mới TSCĐ là hoạt động trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực
sản xuất của doanh nghiệp. Hơn nữa, đó là sự bỏ vốn đầu tư dài hạn, ảnh hưởng đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp, vì vậy quy trình ra quyết định mua sắm TSCĐ là một vấn
đề quan trọng cần phải được phân tích kỹ lưỡng.Trước khi ra quyết định, việc kế hoạch hóa
đầu tư mới TSCĐ là cần thiết để xác định chính xác nhu cầu của từng loại TSCĐ phục vụ
cho nghiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp
chủ động huy động nguồn tài trợ phục vụ cho hoạt động đó.
Tuy nhiên do số lượng sản phảm, dịch vụ của doanh nghiệp phụ thuộc vào đơn đặt
hàng, các hợp đồng kinh tế đã ký kết, đồng thời căn cứ vào nhu cầu từng thời kỳ. Điều này
gây nên khó khăn cho việc bố trí quản lý TSCĐ một cách hợp lý, gây cản trở cho hoạt động
kế hoạch hóa và đầu tư mới TSCĐ.
Ngoài việc lên kế hoạch đầu tư TSCĐ, Doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả trong
công tác tiến hành thẩm định các dự án đầu tư, xây dựng để đưa ra được những quyết định
tối ưu nhất nhằm hoàn thiện công tác quản lý các TSCĐ đầu tư mới.
Biện pháp này sẽ giúp doanh nghiệp:
-Thông qua các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch, Doanh nghiệp có thể chủ động
quản lý các TSCĐ hiện có vì chúng được xác định rõ là sẽ phục vụ cho mục dích gì và trong
bao lâu.
-Có cơ hội chuẩn bị và lựa chọn các đối tác để đảm bảo cho các TSCĐ được mua
sắm, xây dựng với mức độ hiện đại, chất lượng tốt và giá thành hợp lý.
-Từ việc lập kế hoạch đầu tư máy móc thiết bị, Doanh nghiệp có kế hoạch tuyển
dụng và đào tạo nhân viên cho phù hợp với trình độ trang thiết bị trong tương lai và như vậy
hiệu quả quản lý TSCĐ mới được nâng cao.

47

-Đưa ra được những lựa chọn đúng dắn cho việc đầu tư mới TSCĐ, tránh lãng phí
vốn đầu tư.
3.1.2.Tăng cường đổi mới công nghệ, quản lý quản lý và bảo dưỡng TSCĐ.
Việc tăng cường công tác quản lý, quản lý và bảo dưỡng, đổi mới công nghệ TSCĐ
là một yếu tố quan trọng giúp đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được liên tục.
Mặc dù máy móc thiết bị của doanh nghiệp đã được đổi mới rất nhiều nhưng cho
đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới toàn bộ công nghệ.Vì vậy để máy móc
thiết bị đầu tư mang lại hiệu quả thì doanh nghiệp phải mua sắm đồng bộ tức là đầu tư đổi
mới cả doanh nghiệp trong cùng một thời gian.
Doanh nghiệp phải không ngừng chuyển giao công nghệ để cải tiến công nghệ, đầu
tư máy móc thiết bị từ nước ngoài.Có như vậy, các TSCĐ mới phát huy được tác dụng nhằm
tạo ra những sản phẩm dịch vụ tốt.
Hiện nay, TSCĐ đang quản lý trong doanh nghiệp có thời hạn quản lý tương đối dài
bởi vì khi chúng ta hoàn toàn tham gia vào WTO thì thị trường công nghệ đã có sự thay đổi
lớn, các máy móc thiết bị khó tránh khỏi hao mòn vô hình ở mức cao, nguy cơ không bảo
toàn được vốn cố định là rất lớn.Doanh nghiệp nên tiến hành đánh giá lại toàn bộ TSCĐ để
xác định rõ việc trích khấu hao cho chính xác.
Tránh việc mất mát, hư hỏng TSCĐ trước thời gian dự tính bằng việc phân cấp quản
lý chặt chẽ đến từng bộ phận, nâng cao tinh thần trách nhiệm vật chất trong quản lý chấp
hành nội quy, trong đó quy chế quản lý TSCĐ là nội dung quan trọng nhất.Doanh nghiệp
cần quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong bảo quản, bảo
dưỡng, đảm bảo an toàn cho TSCĐ để chúng luôn được duy trì hoạt động với công suất cao.
Ngoài ra, Doanh nghiệp nên quản lý triệt để các đòn bẩy kinh tế nhăm nâng cao
hiệu quả khai thác công suất quản lý các máy móc thiết bị.Với quy chế thưởng phạt rõ ràng,
nghiêm minh, Doanh nghiệp cần nâng cao và khuyến khích ý thức, tinh thần trách nhiệm
của nhân viên trong việc giữ gìn tài sản nói chung và TSCĐ nói riêng.Quản lý tốt các đòn
bẩy kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dịch vụ, tận dụng công suất
máy móc thiết bị, hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp.

48

Thực hiện giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp:
-Nắm chắc tình trạng kỹ thuật và sức sản xuất của TSCĐ hiện có.Từ đó có thể lên
kế hoạch đầu tư, đổi mới TSCĐ cho phù hợp với nhiệm vụ sản xuất trong tương lai.
-Đảm bảo an toàn cho các TSCĐ trong Doang nghiệp và giảm chi phí quản lý
TSCĐ.
-Giúp cho TSCĐ luôn duy trì hoạt động liên tục với năng suất cao, tạo ra được
những dịch vụ có chất lượng tốt và có tính cạnh tranh cao không những ở thị trường trong
nước mà còn cả thị trường nước ngoài.
3.1.3.Thanh lý, sử dụng các TSCĐ không dùng đến.
Hiện nay, do những nguyên nhân có thể là chủ quan chẳng hạn như bảo quản, sử
dụng kém làm cho tài sản bị hư hỏng hoặc khách quan tạo ra như thay đổi nhiệm vụ sản
xuất mà không cần dùng.Việc giữ nhiều tài sản không dùng sẽ dẫn đến vốn sẽ vị ứ đọng gây
lãng phí trong khi doanh nghiệp lại đang rất cồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Do
vậy, Doang nghiệp cần xác định nguyên nhân dẫn đến việc ứ đọng TSCĐ để nhanh chóng
thanh lý những TSCĐ đã bị hư hỏng, đồng thời có kế hoạch điều phối TSCĐ không có
nhiêm vụ sản xuất cho nơi khác sử dụng.
Thực hiện tốt được giải pháp này sẽ giúp cho doanh nghiệp:
-Tránh việc ứ đọng vốn, thu hồi được phần nào vốn đầu tư bỏ ra.
-Tạo điều kiện để mua sắm những TSCĐ mới thay thế, nâng cao được năng lực sản
xuất.
3.1.4. Tận dụng năng lực của TSCĐ trong doanh nghiệp.
Việc đề ra là cần tận dụng năng lực của TSCĐ trong doanh nghiệp rất cần
thiết.Trong các biện pháp tăng năng suất lao động thì biện pháp tăng công suất máy móc
thiết bị rất được các doanh nghiệp chú trọng.Tăng năng suất của thiết bị máy móc có tác
dụng tiết kiệm sức lao động, giảm chi phí nguyên vật liệu, từ đó sẽ tăng doanh thu và lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần tránh việc máy móc phải ngừng việc do thời gian sửa chữa máy
móc qúa lâu do thiếu nguyên vật liệu, thiếu công nhân có trình độ làm ảnh hưởng đến việc
tận dụng năng lực của máy móc.Khi muốn tăng năng suất doanh nghiệp cần xem xét xem đã

49

tận dụng hết công suất cuả máy móc hiện có chưa trước khi đưa ra quyết định mua sắm mới
TSCĐ.
Tác dụng của giải pháp này:
-Giúp doanh nhgiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất kinh doanh và như vậy mục tiêu
tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ có thể tthực hiện được.
-Doanh nghiệp có thể sử dụng được tối đa công suất của máy móc thiết bị, tránh
được những lãng phí không cần thiết.
3.1.5. Lựa chọn nguồn tài trợ dài hạn hợp lý.
Hiến nay ở nước ta đang diễn ra một nghịch lý đó là các doanh nghiệp thì thiếu vốn
dài hạn trong khi đó các ngân hàng lại thừa vốn ngắn hạn .Tình hình này gây ra khó khăn
cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.Do vậy vấn đề đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp là phải
huy động và sử dụng vốn như thế nào để có hiệu qủa cao nhất.Đặc biệt là những nguồn vốn
đầu tư vào TSCĐ, vì có tính chất dài hạn nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
Cho đến nay hầu như việc đầu tư TSCĐ là sử dụng nguồn vốn vay mà chủ yếu là
vay từ các ngân hàng thương mại, các đối tác mà chưa quan tâm nhiều đến vay từ cán bộ
công nhân viên và hoạt động thuê tài chính là một hình thức có nhiều ưu điểm như doanh
nghiệp có thể giải quyết một phần những khó khăn về vốn đồng thời không phải chịu những
hao mòn vô hình và có thể được những công nghệ phù hợp cho từng thời kỳ.
Giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp:
-Có được một cơ cấu vốn hợp lý với chi phí vốn thấp nhất, đảm bảo cho việc sử
dụng vốn có hiệu qủa.
-Tìm được nguồn tài trợ dài hạn vững chắc cho các TSCĐ có trong doanh nghiệp.
3.1.6. Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ.
-Tiếp tục thực hiện quy chế quản lý tài chính kến toán về quản lý sử dụng TSCĐ.
-Công tác lập kế hoạch khấu hao cần phải được tính toán chính xác và chặt chẽ hơn
tránh việc thu hồi không đủ vốn đầu tư ban đầu.

50

-Doanh nghiệp cần tiến hành đánh giá lại TSCĐ một cách thường xuyên và chính
xác.Hiện nay do khoa học công nghệ ngày càng tiến bộ làm cho các TSCĐ không tránh khỏi
sự hao mòn vô hình.Đồng thời, với một cơ chế thị trường như hiện nay giá cả thường xuyên
biến động.Điều này làm cho việc phản ánh giá trị còn lại của TSCĐ trên sổ sách kế toán bị
sai lệch đi so với giá trị thực tế.Việc thường xuyên đánh giá lại TSCĐ sẽ giúp cho việc tính
khấu hao chính xác đảm bảo thu hồi vốn và bảo toàn vốn cố định, nâng cao hiệu quả sử
dụng TSCĐ hoặc có những biện pháp xử lý những TSCĐ bị mất giá nghiêm trọng, chống
thất thoát vốn.
-Hện nay công tác kế toán cuả doanh nghiệp đã hoàn toàn được vi tính hoá, doanh
nghiệp đã nối mạng với các đơn vị trong ngành cũng như hệ thống thông tin để tăng cường
hiệu quả quản lý TSCĐ, cập nhật thông tin về thị trường và công nghệ.
Giải pháp này giúp doanh nghiệp:
-Ghi chép chính xác tình hình TSCĐ, tạo điều kiện cho việc đánh giá năng lực sản
xuất thực cuả các TSCĐ hiện có từ đó có những quyết định đầu tư đổi mới TSCĐ một cách
đúng đắn và như vậy mới nâng cao được hiệu quả sử dụng TSCĐ.
-Từ những số liệu chính xác có trong sổ sách kế toán, doanh nghiệp có thể tính toán
các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ cuả doanh nghiệp, từ đó đưa ra những giải
pháp tốt nhất.
3.1.7. Nâng cao trình độ cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp.
a/ Đối với cán bộ quản lý
Đây là đội ngũ quan trọng, quyết định hướng đi cho doanh nghiệp.Họ đứng ra quản
lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp
có thể phát triển mạnh mẽ.Nhận thức được điều này, Doanh nghiệp cần:
-Không ngừng nâng cao trình độ quản lý nghiệp vụ cho họ, mặt khác phải tạo cho
họ cơ hội tự phấn đấu vươn lên.
-Chăm lo công tác đào tạo mọi mặt: đào tạo nâng cao, đào tạo lại, đào tạo bổ
sung,đào tạđ chuyên ngàng cho cán bộ kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện máy móc trang
thiết bị ngày càng tiên tiến và hiện đại.Cần đặt ra yêu cầu cho họ là phải thường xuyên cập

51

nhật thông tin về các công nghệ mới, hiện đại mà doanh nghiệp chưa có điều kiện đầu tư để
có thể tham mưu cho ban lãnh đạo khi doanh n ghiệp tiến hành đổi mới TSCĐ.
b/ Đối với nhân viên
Hiệu quả sử dụng TSCĐ pụ thuộc rất nhiều vào lực lượng lao động này bởi vì họ là
những người trực tiếp vận hành máy móc để tạo ra sản phẩm.Do máy móc thiết bị ngày
càng hiện đại hoá cho nên trình độ cuả họ cũng phải thay đổi theo để phát huy tính năng cuả
chúng.
-Doanh nghiệp cần phải khuyến khích họ phát huy vai trò tự chủ, năng động sáng
tạo và có tinh thần trách nhiệm trong công việc thông qua việc sử dụng chế độ tiền lương,
tiền thưởng như một đòn bẩy để phát triển sản xuất chẳng hạn như thưởng sáng kiến,
thưởng cho nhân viên lành nghề.
-Cải thiện điều kiện làm việc cho nhân viên có một môi trường làm việc tốt có như
vậy mới tạo điều kiện cho nhân viên toàn tâm toàn ý với công việc.
-Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho nhân viên, giúp họ hoàn thiện kỹ năng
sử dụng các máy móc thiết bị kỹ thuật mới đảm bảo hiệu suất hoạt động ở mức tối đa.
-Tiến hành bố trí nhân viên có trình độ tay nghề khác nhau một cách khoa học sao
cho có thể đảm bảo được sự hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả cuả tất cả các bộ phận.
Tác dụng của giải pháp này:
-Các TSCĐ trong doanh nghiệp được giữ gìn, bảo quản tốt, ít bị hư hỏng và như
vậy chi phí liên quan sẽ giảm đi nhiều.
-Các máy móc thiết bị sẽ hoạt động với hiệu suất cao nhất, đạt hiệu quả cao, tạo ra
nhiều sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt.
Trên đây là những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Doanh
nghiệp tư nhân Hải Phòng Trọng Khách.Mặc dù những biện pháp đưa ra dựa trên cơ sở
nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính và hoạt động sử dụng TSCĐ cuả doanh nghiệp
trong thời gian qua.Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn, bản thân chưa tiếp xúc nhiều
với hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt do trình độ còn hạn chế nên những biện pháp
đưa ra chắc chắn còn nhiều điểm chưa phù hợp và cần tiếp tục xem xét.

52

Để những biện pháp đưa ra có thể thực hiện thành công thì riêng cá nhân doanh
nghiệp không th làm tốt được mà cần phải có sự kết hợp cuả cả Nhà nước và doanh
nghiệp.Trong đó doanh nghiệp phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động trong việc tiến
hành hoạt động kinh doanh còn Nhà nước đóng vai trò là người giám sát và quản lý.Do vậy
tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị với Doanh nhgiệp và Nhà nước.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Kiến nghị với doanh nghiệp
Hiện nay vấn đề huy động vốn trên thị trường vẫn gây khó khăn cho các doanh
nghiệp đặc biệt là về lãi suất vay.Doanh nghiệp cần phải giám sát tài chính chặt chẽ hơn nữa
để hỗ trợ cho việc đầu tư đôỉ mới TSCĐ nhất là những TSCĐ có giá trị lớn.
3.2.2. Kiến nghị với Nhà nước
Nhà nước nên có những quy định cụ th liên quan đến việc trích khấu hao cho
TSCĐ.
-Trong hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng có liên quan trực tiếp đến vịêc hình
thành TSCĐ trong doanh nghiệp còn nhiều tồn tại như thủ tục quyết toán còn rất rườm rà,
nhiều khi TSCĐ được đưa vào sử dụng khá lâu mà việc quyết tóan vẫn chưa xong, ảnh
hưởng xấu đến việc trích khấu hao TSCĐ, bảo toàn vốn cố định và nâng cao hiệu quả sử
dụng các TSCĐ.
Vì vậy Nhà nước cần lưu ý đến và sớm hoàn thiện hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp tổ chức và hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
-Khi tiến hành vay vốn ngân hàng, mối quan tâm hàng đầu cuả các doanh nghiệp là
lãi suất vay, đó là yếu tố quyết định đến hoạt động đầu tư mà đặc biệt là hoạt động đầu tư
vào TSCĐ.
Hiện nay, ở nước ta nguồn vốn trong các doanh nghiệp chủ yếu là các nguồn vốn
vay nên chỉ cần một sự biến đổi nhỏ trong lãi suất vay vốn thôi cũng có thể làm thay đổi cả
tình trạng hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp tác động đến hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.Vì vậy Nhà nước cần phải quy định sao cho với cơ chế điều hành lãi suất như
hiện nay có thể khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả phát triển hoạt động

53

sản xuất kinh doanh cuả mình đồng thời lợi ích của ngân hàng vẫn phải được đảm bảo và
tuân thủ nguyên tắc hoạt động cuả ngân hàng.
Lĩnh vực ngân hàng cần xem xét lại các điều kiện vay vốn và quá trình thanh toán
sao cho thuận lợi với các doanh nghiệp, tránh những rủi ro trong hoạt động thanh toán ảnh
hưởng đến cả hai phía.Đối với những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, ngân hàng có thể
tạo điều kiện dễ dàng hơn cho họ trong quá trình vay vốn.
Chính phủ cần có những chính sách xây dựng một thị trường tài chính, thị trường
vốn ổn định.Thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các
Doanh nghiệp tài chính, các quỹ đầu tư để hoà nhập thị trường vốn trong nước với khu vực,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tự động huy động vốn thông qua các hình thức
phát hành trái phiếu, cổ phiếu, góp vốn liên doanh để mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh.
-Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới, các chính sách
ngoại thương như thuế xuất nhập khẩu, chính sách bảo hộ, tỷ giá hối đoái phải có những
nghiên cưú kỹ lưỡng để điều chỉnh cho phù hợp.Trong thời gian tới Nhà nước cần có những
biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp
Việt Nam.
-Nhà nước cần có những biện pháp để hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm ổn định
xã hội, phát triển kinh tế và tăng cường hợp tác với các nước.Với một môi trường pháp lý
hoàn chỉnh sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự lành mạnh trong hoạt động
kinh doanh giữa các thành phần kinh tế.