Tải bản đầy đủ
SỰ ĐẦU TƯ CỦA CHÚNG TÔI

SỰ ĐẦU TƯ CỦA CHÚNG TÔI

Tải bản đầy đủ

Chúng tôi luôn đi đầu thị trường bảo hiểm trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật mới và quản lý kinh doanh nhằm mang lại cho khách hàng những dịch
vụ ưu việt và đơn giản hóa các quy trình và giao dịch kinh doanh.
Đội ngũ nhân viên là tài sản quan trọng nhất của chúng tôi. Chúng tôi coi việc huấn
luyện không phải là một sự kiện mà là sự đầu tư vào tương lai của công ty và nhân
viên.
Chúng tôi liên tục phát triển và hỗ trợ nhân viên. Chúng tôi tạo ra một môi trường
làm việc hào hứng, phấn khởi và thử thách, đồng thời ứng dụng những chuẩn mực
quốc tế vào việc hỗ trợ khách hàng.
Đó là lý do tại sao chúng tôi đã tuyển dụng và giữ chân được những nhân viên
tuyệt vời. Họ luôn nhiệt tình thực hiện những việc nên làm bằng cách bảo vệ doanh
đòi bồi thường.
Chỉ cần gọi

, bạn có thể mở cánh cửa vào Bảo hiểm Liberty, nơi

đội ngũ nhân viên Dịch vụ Khách hàng chuyên nghiệp của chúng tôi rất vui mừng
được phục vụ bạn.
3. NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
3.1 . Niềm tin của chúng tôi
Liberty là một công ty bảo hiểm thương mại. Thước đo cho sự thành công của
chúng tôi là khả năng sinh lợi trong các hoạt động phát triển kinh doanh. Tuy
nhiên, chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng chúng tôi có thể đạt được thành công
trong kinh doanh bằng cách tuân thủ theo các nguyên tắc và chuẩn mực giúp
chúng tôi trở nên khác biệt so với các công ty bạn.
3.2.

Tầm nhìn và phương châm của chúng tôi

Sứ mạng của chúng tôi là “mang đến một cuộc sống an toàn và đảm bảo hơn
cho mọi người”.

4

Liberty Mutual Insurance là một trong những tập đoàn bảo hiểm phi nhân thọ
hàng đầu thế giới. Niềm tự hào này được xây dựng và duy trì dựa trên những
phương châm được phổ biến rõ ràng và không thể thay đổi:
- Cư xử chinh trực
- Tin tưởng và tôn trọng mọi người
- Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cao cấp với mức phi hợp lý
3.3.

Chia sẻ cam kết

Việc cùng chia sẻ tầm nhìn và phương châm đã khiến chúng tôi luôn cố gắng hết
mình và thúc đẩy sự phát triển của Bảo hiểm Liberty.
Chúng tôi luôn tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và đội ngũ đại lý trong
giao dịch, cũng như đảm bảo luôn giải quyết bồi thường nhanh chóng và công
bằng.
Đồng thời, dù ở bất cứ đâu, chúng tôi luôn hướng tới một thông điệp đơn giản về
niềm tin.
3.4.

Văn hóa của chúng tôi

Các khách hàng đang gắn bó cùng chúng tôi trong một tập đoàn bảo hiểm tương
hỗ lớn mạnh. Lớn mạnh trong việc không ngừng tìm kiếm những biện pháp
phòng tránh thương tổn và mất mát cho mọi người khi ở nhà, trên đường đi và tại
nơi làm việc. Lớn mạnh trong nỗ lực làm giảm nỗi buồn đau, sợ hãi và sự mất
mát. Lớn mạnh khi thực thi sứ mạng gìn giữ, bảo vệ và chăm sóc những ước mơ,
thành tựu mà con người đã ấp ủ, tạo dựng và nâng niu. Và sự lớn mạnh thực sự
của Bảo hiểm Liberty được đo bằng khả năng mang đến một cuộc sống an toàn và
đảm bảo hơn cho mọi người.

5

II. Cơ sở lý luận của công tác quản trị thông tin và ra quyết định trong
doanh nghiệp.
2.1. Thông tin.
2.1.1. Khái niệm
Thông tin là những tin tức mà con người trao đổi với nhau qua máy móc
thiết bị, qua các phương tiện, qua các sự vật hiện tượng để nhận thức về đối tượng
làm cơ sở căn cứ ra quyết định.
Thông tin là tri thức để nhận thức đối tượng và giải thich thế giới xung
quanh. Thông tin được xem là mạch máu của doanh nghiệp, nó là thứ keo đặc biệt
nhằm gắn kết những bộ phận phụ thuộc của doanh nghiệp lại với nhau. Doanh
nghiệp là một hệ thống ổn định của các hoạt động, nơi con người cùng nhau làm
việc để đạt tới mục tiêu chung thông qua hứ bậc của các vai trò và việc phân công
lao động. Những hoạt động này phục thuộc vào thông tin để hợp tác và hợp nhất.
Nếu dòng thông tin bị gỡ bỏ trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ không thể tồn
tại. Những hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc trao đổi thông
tin.
Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, các nhà quản trị trong doanh
nghiệp phải trao đổi thông tin với cấp trên, cấp dưới và các quản trị viên khác. Họ
không thể ra quyết định mà không có thông tin. Hơn nữa, để hoạt động có hiệu
quả, các nhà quản trị còn đòi hỏi phải có thông tin đầy đủ, chinh xác, kịp thời nhằm
thực hiện tốt các chức năng và hoạt động quản trị của mình.
Thông tin trong lĩnh vực quản trị là sự phản ảnh nội dung và hình thức vận
động, liên hệ giữa các đối tượng, yếu tố của hệ thông đó và giữa hệ thống đó với
môi trường.
Thông tin liên quan đến việc chuyển giao, truyền đạt, liên lạc và hiểu được ý
nghĩa của thông tin. Nếu không có tin tức hay ý kiến nào chuyển đi thì thông tin

6

chưa xảy ra. Một thông tin có hiệu quả khi ý nghĩa và nội dung tin tức chuyển đi và
được hiểu đúng.
Trong doanh nghiệp việc trao đổi thông tin là hoạt động cơ bản của các nhà
quản trị. Họ phải báo cáo cho cấp trên, chỉ thị cho cấp dưới và trao đổi thông tin
với các nhà quản trị khác, hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, ý tưởng với những
người trong tổ chức và bên ngoài doanh nghiệp
Thông tin quản trị là những tin tức mới được thu thập, được hiểu và được
đánh giá là có ich trong việc ra quyết định về sản xuất và kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.1.2. Phân loại thông tin.
-

Căn cứ vào cấp quản trị, thông tin được chia thành:

+ Thông tin xuống dưới: bao gồm các chỉ thị, các bài phát biểu, các cuộc
họp,…
+ Thông tin lên trên: là thông tin đi từ cấp dưới lên cấp trên và tiếp tục đi lên
theo hệ thông phân cấp tổ chức.
+ Thông tin chéo bao gồm luồng tông tin ngang với những người ở cùng cấp
hay ở cấp tổ chức tương đương và dòng thông tin chéo với những người ở cấp khác
nhau mà họ không có các mối quan hệ báo cáo trực tiếp.
Căn cứ vào hình thức truyền tin:
Căn cứ vào hình thức truyền đạt thông tin có thể chia ra 3 loại:
+ Thông tin liên lạc bằng văn bản
+ Thông tin liên lạc sử dụng bằng lời.
+ Thông tin liên lạc không lời
-

Căn cứ vào tính chất pháp lý của thông tin:

+ Thông tin chinh thức
+ Thông tin không chinh thức
2.1.3. Vai trò của thông tin trong hoạt động quản trị doanh nghiệp:
7

Quản trị thông tin là việc một tổ chức sử dụng các phương thức để lập kế
hoạch, tập hợp, tạo mới, tổ chức, sử dụng, kiểm soát, phổ biến và loại bỏ một cách
hiệu quả các thông tin của tổ chức đó. Các thông tin này bao gồm cả các bản ghi đã
được cấu trúc lẫn thông tin chưa được cấu trúc.
Thông qua quản trị thông tin, tổ chức có thể đảm bảo rằng giá trị của các
thông tin đó được xác lập và sử dụng tối đa để hỗ trợ cho các hoạt động trong nội
bộ tổ chức cũng như góp phần nâng cao hiệu quả của bộ phận cung cấp thông tin.
Thông tin hiện nay được coi là một trong những loại tài sản quan trọng nhất
đối với bất kỳ tổ chức nào. Đối với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công
cộng, phần lớn ngân sách hoạt động được dùng vào việc xử lý thông tin. Tất cả các
cấp trong chinh phủ đều cần đến thông tin để hỗ trợ cho công việc điều hành và
giúp ich rất nhiều trong việc thực hiện các mục tiêu hoạt động, và nó cũng là một
bằng chứng cho thấy cách thức chinh phủ đang điều hành công việc và trao đổi
thông tin trong chinh phủ đang được thực hiện. Tất cả các nhân viên đều sẵn sàng
truy cập tất cả các thông tin họ cần để thực hiện công việc tại tất cả các cấp độ
trong tổ chức. Tài sản thông tin được khai thác tối đa thông qua quá trình chia sẻ
thông tin trong nội bộ tổ chức và với các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực công
cộng khác; thông qua các thoả thuận với các tổ chức trong lĩnh vực tư nhân tại
những điểm phù hợp. Chất lượng thông tin của tổ chức phải được duy trì và các
thông tin sử dụng trong kinh doanh phải chinh xác, đáng tin cậy, luôn được cập
nhật, toàn diện và nhất quán. Các yêu cầu về mặt luật pháp cũng như các yêu cầu
khác như vấn đề bảo mật tinh riêng tư, bi mật, tinh xác thực và toàn vẹn của thông
tin phải được thực thi. Thông tin cần phải được đưa tới công chúng một cách thuận
tiện thông qua nhiều kênh khác nhau.
Những người liên quan đến quản trị thông tin gồm: Người sở hữu thông tin,
chịu trách nhiệm về một mục tin cụ thể cũng như tinh chinh xác, sẵn sàng để sử
dụng và bảo mật của thông tin; Người chăm sóc thông tin, chịu trách nhiệm bảo trì
8

thiết bị truyền thông tin và các vấn đề liên quan tới công nghệ thông tin; Người sử
dụng (trong và ngoài tổ chức) truy cập và sử dụng các thông tin do người sở hữu
thông tin chỉ định và được người chăm sóc thông tin cho phép.
Những yêu cầu này áp dụng cho tất cả các loại tài sản thông tin của tổ chức.
Lời chỉ dẫn này tập trung vào các thông tin được lưu trữ dưới dạng điện tử (bao
gồm các hình ảnh, bản đồ, âm thanh video – và tất cả các thông tin được số hoá)
nhưng hầu hết các quy tắc cũng có thể áp dụng được với các thông tin lưu trữ trên
giấy.
Thông tin là một nguồn lực then chốt trong tổ chức cùng với nguồn nhân
lực, tài chinh và các nguồn lực hữu hình khác. Thông tin cũng là một vấn đề kinh
doanh. Thông qua quản trị có hiệu quả nguồn thông tin và hệ thống thông tin của
một tổ chức, các nhà quản lý trong tổ chức có thể: Tăng thêm giá trị cho các dịch
vụ cung cấp tới khách hang; Giảm thiểu rủi ro trong hoạt động; Giảm chi phi trong
quá trình hoạt động và cung cấp dịch vụ; Khuyến khich đổi mới quá trình hoạt
động trong nội bộ và cung cấp dịch vụ cho bên ngoài
Quản trị thông tin bao gồm 4 lĩnh vực chinh như sau:
• Quản trị nguồn thông tin: Tất cả các nguồn thông tin nói trên cần phải được
quản lý. Việc quản lý thông tin trong tổ chức phải đảm bảo rằng tất cả các nguồn
thông tin được biết tới và những trách nhiệm này phải được chỉ định cho họ.
• Quản trị công nghệ thông tin: nhằm củng cố hệ thống thông tin trong tổ
chức mà điển hình là chịu trách nhiệm về chức năng cung cấp thông tin do tổ chức
tự quản lý hoặc được nhận từ một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài. Quản trị thông
tin của tổ chức phải được hoạt động như là một “Khách hàng am hiểu” về các sản
phẩm và dịch vụ liên quan đến IT mà tổ chức đó cần.
• Quản trị xử lý thông tin: Tất cả quá trình kinh doanh sẽ làm gia tăng những
hoạt động liên quan đến một hoặc một số nguồn thông tin của tổ chức. Quá trình

9

tạo mới, thu thập, truy nhập, sử đổi, lưu trữ, xoá bỏ và nén thông tin cần phải được
kiểm soát hợp lý nếu tổ chức muốn quản lý thành công nguồn thông tin của mình.
• Quản trị tiêu chuẩn thông tin và các chinh sách: Tổ chức sẽ cần phải xác
định các tiêu chuẩn và chinh sách trong quản trị thông tin. Những tiêu chuẩn và
chinh sách này sẽ thường được phát triển như một nhân tố trong chiến lược thông
tin của tổ chức. Chinh sách quản trị sẽ quản lý các quy trình và tráh nhiệm quản trị
thông tin trong tổ chức: chinh sách và tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ áp dụng cho cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ cho hệ thống thông tin của tổ chức.
Quản trị tri thức là một khia cạnh then chốt trong quản trị thông tin. Về cơ
bản, quản trị tri thức là việc làm cho các thông tin trở nên hữu dụng để một số hoạt
động có thể được thực hiện dựa trên nền tảng của kiến thức đó.
Quản trị kiến thức bao gồm:
• Nguồn vốn tri thức (tài sản kiến thức do tổ chức nắm giữ bao gồm các kiến
thức chuyên môn của các cá nhân)
• Công việc có tinh phối hợp với sự hỗ trợ của máy vi tinh (những cách thức
làm cho việc trao đổi kiến thức giữa các nhóm làm việc được dễ dàng hơn)
• Trao quyền cho nhân viên (những cách thức cho phép các cá nhân tận dụng
được lợi ich từ các kiến thức chung của tổ chức)
2.2. Quyết định trong quản trị doanh nghiệp.
2.2.1. Khái niệm
- Định nghĩa: Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm
định ra chương trình và tinh chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề
đã chin muồi, trên cơ sở sự hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ
thống bị quản trị và việc phân tich các thông tin của hệ thống đó.
- Đặc điểm quyết định : Nhà quản trị là người ra các quyết định có ảnh
hưởng trực tiếp đến tập thể, tổ chức. Quyết định chỉ được đề ra khi đến thời điểm

10

chin muồi. Quyết định đưa ra phải dựa trên cơ sở thông tin. Quyết định phải hướng
đến hiệu quả và phù hợp với qui luật khách quan.
- Chức năng của quyết định là – Định hướng – Bảo đảm nguồn lực cho thực
hiện mục tiêu – Phối hợp hành động giữa các bộ phận – Bảo đảm tinh thống nhất
trong thực hiện – Bảo đảm tinh hiệu quả, hiệu lực trong kinh doanh
2.2.2. Các bước ra quyết định
- Bước 1: Nhận diện và xác nhận vấn đề
+ Nhận thức đúng vấn đề
+ Xác định đúng nguyên nhân gốc rễ.
Khi doanh nghiệp có hoặc sẽ có những vấn đề phát sinh trong công việc, thì
việc nhận biết được những vấn đề đó như thế nào là một bước rất quan trọng. Bởi
vì nó đảm bảo chắc chắn rằng nhà quản trị đã hiểu bản thực chất thực sự của vấn
đề chứ không phải chỉ nhận biết được những dấu hiệu của vấn đề đó. Trên cơ sở
đó, nhà quản trị phải cụ thể hóa, phân tich và phát triển những mục tiêu mà doanh
nghiệp muốn đạt tới. Khi vấn đề đã được phân tich tỷ mỷ, xác định được những
điều kiện tiên quyết, những thuận lợi và khó khăn; nhận dạng cho được các ràng
buộc... Vi dụ: xác định những vấn đề về tài chinh, yêu cầu về môi trường, các
chinh sách và chế độ của doanh nghiệp... nhà quản trị sẽ có được những dữ liệu cần
thiết cho việc ra đời một quyết định. Các quyết định bao giờ cũng bị hạn chế bởi
những ràng buộc - những giới hạn của nhiều loại đối với quyết định quản trị. Ràng
buộc là những khó khăn, hạn chế các phương án lựa chọn khi nhà quản trị cân nhắc
giải pháp cho vấn đề và ra quyết định.
- Bước 2: Xác định mục tiêu: Đặt ra mục tiêu cụ thể để giải quyết vấn đề và
loại bỏ nguyên nhân của vấn đề.
- Bước3: Xây dựng phương án. Trên cơ sở những dữ liệu có được, thông qua
bước xác định tình hình, nhà quản trị tiến hành xây dựng các tình huống và phương
án có thể xảy ra. Có thể mô tả chúng và trao đổi, tham khảo ý kiến của đồng
11

nghiệp, tìm kiếm những quan điểm mới, sàng lọc để xây dựng các phương án có
tinh khả thi cao. Đây là bước đòi hỏi có sự sáng tạo của tập thể cũng như của nhà
quản trị.
- Bước 4: So sánh, đánh giá :Đánh giá tinh hiệu quả của các giải pháp dựa
trên các tiêu chi như chi phi, tinh khả thi, thời hạn hoàn thành, hiệu quả. Từ những
phương án đã được xây dựng, tiến hành so sánh những thông tin, biện pháp xử lý,
hiệu quả mong đợi, tinh nhạy cảm... để xem xét kết quả của các phương án thể hiện
như thế nào. Dự tinh các xác suất, rủi ro có thể xảy ra..., tiến hành lập danh sách để
so sánh những thuận lợi, khó khăn của từng phương án. Ở bước này cần phải xác
định một số phương án cần thiết có thể áp dụng được một cách hiệu quả, phù hợp
với những đặc điểm của công việc, con người và tập thể đó. Nếu thấy rằng, các
phương án đặt ra còn chưa đủ hay nhà quản trị thấy cần phải có thêm một số
phương án khác nữa thì tùy theo sự cần thiết của công việc, khả năng của nhà quản
trị có thể có để bắt đầu từ bước một hoặc hai.
- Bước 5: Lựa chọn giải pháp: Quyết định lựa chọn giải pháp phù hợp nhất.
Đây là bước cốt yếu và quan trọng nhất,bởi vì tại đây nhà quản trị phải từ bỏ
"quyền tự do lựa chọn" của mình. Nhà quản trị chỉ được phép chọn một phương án
và phải bảo vệ quyết định đó. Đồng thời đảm bảo sự cam kết của tất cả mọi người
tham gia và có được sự hỗ trợ cần thiết. Phần lớn công việc này cần được làm
thông qua sự tham gia của các bên hữu quan trong giai đoạn trước.
- Bước 6: Thực hiện giải pháp
+ Tổ chức nguồn lực
+ Triển khai giải pháp đã chọn.
Thực hiện phương án. Đó là hành động chấp hành hay thực hiện phương án
đã chọn. Để hoạt động này có hiệu quả thì phải căn cứ theo kế hoạch hành động đã
được lập kèm theo các phương án. Kế hoạch càng chi tiết, cụ thể thì khả năng hoạt
động có hiệu quả càng tăng.
12

- Bước 7: Đánh giá, kiểm tra
+ So sánh kết quả với mục tiêu mong đợi
+ Rút kinh nghiệm cải tiến Nhà quản trị mong muốn kết quả đạt được như
thế nào hay nói một cách khác đó là mục tiêu đặt ra cho quyết định quản trị. Để có
thể thực hiện tốt bước này, nhà quản trị cần phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra
việc thực hiện kế hoạch và phương án đã lựa chọn. Nắm bắt những thông tin được
sử dụng có chinh xác không? Kế hoạch được thực hiện như thế nào? Kết quả đạt
được của kế hoạch đã đặt ra?
Trong quá trình thực hiện quyết định sẽ nảy sinh nhiều vấn đề mà bản thân
nhà quản trị và các cộng sự chưa thể lường trước được. Do đó, việc theo dõi, kiểm
tra sẽ giúp nhà quản trị nắm được những vướng mắc phát sinh cần giải quyết trong
khi thực hiện quyết định. Trên cơ sở đó, tiến hành chỉnh lý, bổ sung, sửa đổi để
quyết định quản trị đưa ra phù hợp với thực tế của công việc đòi hỏi và như vậy kết
quả thu được sẽ tốt hơn.

13

III. THỰC TRẠNG VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ
THÔNG TIN VÀ RA QUYẾT ĐỊNH TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
LIBERTY HIỆN NAY.
1.

Thực trạng trong công tác quản trị thông tin và ra quyết định tại

doanh nghiệp ở Bảo Hiểm Liberty hiện nay.
Trong bất cứ lĩnh vực kinh tế nào đều cần có thông tin. Thông tin là một
công cụ hữu hiệu và có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu chúng ta biết cập nhật thông tin kịp thời, đúng lúc sẽ đem lại hiệu quả
rất lớn cho doanh nghiệp. Một vi dụ điển hình:Hiện tại nhiều công ty bảo hiểm
hiện tại không có hệ thống cập nhật thong tin bồi thường nhanh và thống kê nhiều
năm vì thế không kiểm soát được rủi ro không mang lại lợi nhuận cho công ty
nhưng hiện tại nhờ việc thống kê chi tiết các đối tượng rủi ro nên đã có thông tin
cụ thể nhiều đối tượng có rủi ro xấu để có chế tài tăng phi cho phù hợp để đảm bảo
tinh hiệu quả trong kinh doanh.
Cho đến giờ này tốc độ của thông tin trong công việc kinh doanh phần lớn
vẫn còn bị giới hạn bởi khả năng lưu chuyển thông tin, nhưng ngày nay với sự phát
triển của trình độ khoa học, những công cụ kỹ thuật số sẽ đưa thông tin đi với tốc
độ ánh sáng. Do đó, các doanh nghiệp phải biết cách sử dụng nhân viên tri thức,
nhân viên tư duy của mình để phản ứng với những điều đang xảy ra, hoạch định
sản phẩm mới để chắc chắn là mình đang sử dụng mọi nguồn lực một cách đúng
đắn và thich hợp. Chinh vì thế mà mọi nhà doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh
đều phải tự mình tham gia vào việc sử dụng máy tinh cá nhân, mạng Internet để có
thể cập nhật thông tin hàng ngày về đối tác, cổ đông, tiếp thị quảng cáo, bán hàng,
nhân viên sắp tuyển dụng và điều quan trọng đó là nhu cầu của khách hàng trên thị
trường. Đó là một hình thức thông tin rất quan trọng mà các doanh nghiệp cần biết.
Ngày nay việc sử dụng kỹ thuật số hóa sẽ tăng thêm tinh hiệu quả trong hoạt
động công ty loại bỏ dần hình thức giấy tờ lâu nay. Đưa các quy trình và thông tin
14