Tải bản đầy đủ
Chướng II: Biến động tỷ giá ở Việt Nam

Chướng II: Biến động tỷ giá ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
I.
1.

Khái niệm chung:

Khái niệm:
Tỷ giá hối đoái Trong tài chính, tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi
ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một
đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá trị
đồng tiền của một quốc gia đối với một tiền tệ khác.Ví dụ, một tỷ giá hối đoái liên
ngân hàng của yên Nhật (JPY, ¥) với đô la Hoa Kỳ (US$) là 91 có nghĩa là 91 Yên
sẽ được trao đổi cho mỗi 1 USD hoặc 1 USD sẽ được trao đổi cho mỗi 91 Yên. Tỷ
giá hối đoái được xác định trong thị trường ngoại hối,rộng mở cho một loạt loại
người mua và người bán khác nhau nơi việc trao đổi tiền tệ là liên tục: 24 giờ một
ngày, ngoại trừ những ngày cuối tuần, tức là giao dịch từ 20:15 GMT Chủ nhật cho
đến 22:00 GMT thứ Sáu. Tỷ giá giao ngay đề cập đến tỷ giá hối đoái hiện hành.Tỷ
giá kỳ hạn đề cập đến một tỷ giá được báo giá và trao đổi hôm nay nhưng cho giao
hàng và thanh toán vào một ngày trong tương lai cụ thể.Để ổn định nền kinh tế
trong nước thì phải điều chỉnh giá đồng nội tệ sao cho hợp lý. Nếu đồng nội tệ lên
giá sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn, do đó người dân cs xu hướng tiêu dùng
hàng nhập khẩu nhiều hơn, làm hạn chế hoạt động xuất khẩu, thu hẹp sản xuất
trong nước, mặc dù giảm lạm phát nhưng thất nghiệp gia tăng. Nếu đồng nội tệ mất
giá, thì lạm phát lên cao.
Trong thị trường ngoại hối bán lẻ, tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra khác nhau
sẽ được báo giá bởi các đại lý đổi tiền.Hầu hết các trao đổi đều liên quan đến đồng
2

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
nội tệ.Tỷ giá mua vào là tỉ giá mà các đại lý đổi tiền sẽ mua ngoại tệ và tỷ giá bán
ra là tỉ giá mà họ sẽ bán ngoại tệ. Tỷ giá được báo giá sẽ kết hợp dự phòng cho biên
của đại lý (hoặc lợi nhuận) trong trao đổi, hoặc biên có thể được phục hồi trong
hình thức của một "hoa hồng" hoặc trong một số cách khác. Tỉ giá khác nhau cũng
có thể được báo giá cho tiền mặt (thường chỉ ghi chú), một hình thức tài liệu (chẳng
hạn như các séc du lịch) hoặc điện tử (ví dụ như mua bằng thẻ tín dụng). Tỷ giá cao
hơn về các giao dịch tài liệu là do thời gian và chi phí thanh toán bù trừ tài liệu bổ
sung, trong khi tiền mặt có sẵn để bán lại ngay lập tức. Một số đại lý, mặt khác, lại
thích các giao dịch tài liệu bởi vì những mối quan tâm an ninh với tiền mặt.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái:

Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay,
có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng ngắn hạn cũng như dài hạn đến tỷ giá, bao gồm các
yếu tố sau đây:
a/ Cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ
của một nước so với các nước khác trong quan hệ giao dịch quốc tế lẫn nhau, cán
cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia bội chi hoặc bội thu:
- Nếu cán cân thanh toán quốc tế bội chi: (chi > chi), thì quốc gia đó phải xuất
ngoại tệ trả nợ, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá cho xu hướng
tăng lên.
- Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế bội thu (thu > chi), nước ngoài trả
nợ bằng ngoại tệ, dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm.

3

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
- Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái nói trên chỉ xảy ra trong
trường hợp điều kiện môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh
tế - chính trị trọng đại, vì những biến động và chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh
chóng đến sự thay đổi của tỷ giá.
b/ Lãi suất
Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các
công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền
khác nhau khi tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền này có chiều hướng thay đổi. Vấn
đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu thập đầu tư từ các đồng
tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất.
Thông thường các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao,
được thể hiện bằng cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển
đổi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền lãi suất cao bằng nhiều
hình thức nhằm hưởng lợi nhuận do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Điều này
sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường,từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá.
Tuy nhiên trong suốt thời gian đầu tư hay cho vay,… tỷ giá biến động tăng
hoặc giảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia
tăng tỷ giá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Thực tế,
thông thường đồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều
nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn
c/ Ngang giá sức mua:
Ngang giá sức mua chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đối của hai
đồng tiền, được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai
nước khác nhau được tính theo đồng tiền của hai nước.
4

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
Nếu cùng một số tiền ngang nhau người ta mua được một lượng hàng ngang
nhau ở mọi nước thì như vậy mậu dịch quốc tế sẽ không có lãi và không kích thích
ngoại thương phát triển, điều đó có nghĩa là, các đồng tiền đều ở trong tình trạng
ngang nhau về sức mua.
Vì vậy cần phải hiểu nền tảng của ngang giá sức mua được thể hiện: nếu như
một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ hơn thì xuất khẩu mặt hàng đó sang một
nước khác giá đắt hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu một mặt hàng trong quốc
gia sản xuất đắt hơn so với giá thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khẩu
mặt hàng đó sẽ có lợi hơn. Vấn đề này lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một
mặt hàng ở các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ
có điều kiện thuận lợi sản xuất ra hàng hóa với chi phí thấp, sẽ là cơ hội để các
nước này đẩy mạnh xuất khẩu và ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng đó
sản xuất trong nước giá cao hơn. Sự gia tăng thương mại mậu dịch thế giới dẫn đến
thực hiện các khoản thu chi ngoại tệ, từ đó làm ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ
trên thị trường và tác động đến tỷ giá hối đoái.
d/ Các điều kiện kinh tế:
Về ngắn hạn, các hoạt động kinh doanh và đầu tư hàng ngày đều tác động
trực tiếp đến cung và cầu vốn đặc biệt là các khoản giao dịch với quy mô lớn trên
thị trường. Những yếu tố kinh tế chính trị tác động tức thời đã làm thay đổi đáng kể
các khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua,… Mức cung, cầu ngoại
tệ biến động trên thị trường thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các luồng thu chi ngoại tệ,
từ đó tác động đến tỷ giá hối đoái.
Về dài hạn, tỷ giá hối đoái bị ảnh hưởng bởi tình hình và xu hướng phát triển
kinh tế quốc gia cũng như các biến động trên thị trường thế giới, được thể hiện qua
những yếu tố cơ bản như sau: cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm
5

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
phát, thất nghiệp, thuế suất, cung và cầu vốn,… Tất cả những nhân tố trên tạo nên
áp lực cung và cầu vốn trên thị trường, vốn ngoại tệ sẽ chảy vào một nước khi các
nhà đầu tư thấy có cơ hội kinh doanh và một số nước cần vốn và đưa ra các mức lãi
suất hấp dẫn, còn các nước khác thừa tiền thì có khả năng đầu tư sang các nước
khác, dẫn đến làm dịch chuyển luồng vốn đầu tư giữa các nước. Tuy nhiên, các nhà
đầu tư không phải luôn luôn lúc nào cũng đầu tư chỉ vì lãi suất cao mà còn phải
tính đến các yếu tố chiến lược khác như: môi trường kinh tế - chính trị ổn định,
chính sách thuế quan,…
e/ Những yếu tố chính trị:
Sự biến động của tỷ giá trong ngắn hạn cũng như dài hạn đều bị ảnh hưởng
bởi các yếu tố chính trị, mức độ bất ổn trong tình hình chính trị và các chính sách
điều tiết của nhà nước. Có thể nói sự ổn định về chính trị được xem như là điều
kiện hấp dẫn thu hút vốn đầu tư, và làm dịch chuyển vốn đầu tư nhanh chóng. Tình
hình chính trị bất ổn sẽ dẫn đến hiện tượng tháo chạy vốn, đảo ngược dòng vốn,…
là nguyên nhân nguy cơ khủng hoảng tài chính.
f/ Các yếu tố khác:
Tỷ giá còn chịu tác động của các yếu tố khác như: tâm lý, chính sách kinh tế,
môi trường đầu tư,…
Tóm lại, những biến động các nhân tố nêu trên đã tác động làm thay đổi cung
cầu ngoại tệ, giá trị đồng tiền sẽ tăng hoặc giảm trên thị trường.

6

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC

CHƯƠNG II: BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM
Nhìn lại cơ chế điều hành tỷgiá VIệt nam Trong quan hệ với các nước thuộc
khối XHCN trước đây, tỷ giá của Việt Nam được tính theo đồng Rúp clearing (sau
này đổi là rúp chuyển khoản- transferable ruble) đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh
toán mậu dịch giữa các nước thuộc khối XHCN tự quy định với nhau để làm sao
cho tài khoản các bên, sau khi trao đổi ngoại thương theo khối lượng đã được quy
định trong hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm không còn số dư. Đặc trưng
7

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
của chế độ tỷ giá Việt nam trong thời kỳ này là cố định, đã bộc lộ nhiều mặt bất
hợp lý, nó không những không thể hiện vai trò điều tiết tỷ giá hối đoái trong việc
cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm các hoạt động
kinh tế đối ngoại của nước ta là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế trong
một thời gian dài. Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những
chủ trương và giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã
từng bước xoá bỏ cơ chế độc quyềnngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế
được phép xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực
tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại
thương chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý
kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay
đổi phù hợp với bối cảnh thực tế. Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ
quan bao cấp, xa rời với thị trường; tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh theo các
quan hệ và điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường. Cơ chế một tỷ giá linh
hoạt, có sự điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù
kinh tế vận động theo quy luật cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều
tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước. Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh
hoạt có sự quản lý của nhà nước nhưng việc điều hành của nhà nước trong từng
năm có khác nhau, ta có thể chia ra 3 giai đoạn:

1.Giai đoạn thả nổi tỷgiá: 1989-1993
Tổng quát mà nói, trong khoảng thời gian này, tỷ giá VND/USD có khuynh
hướng tăng và được nhà nước điều chỉnh sát với giá thị trường tự do, điều này
chứng tỏ nhà nước bắt đầu thả nổi tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan
tâm đầy đủ hơn, tuy nhiên sự thả nổi tỷ giá đã:
_ Kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ, nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá.
8

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
_ Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những
cơn sốc USD làm mất ổn ddịnh nền kinh tế.
_ Quản lý ngoại tệ của chính phủ không đạt được kết quả như mong muốn.
_ Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ. Tình trạng leo thang
của giá đồng Đôla đã kích thích tâm lý dự trữ Đôla. Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại
không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa
các tổ chức trong nước.Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại kết
quả, thậm chí có những quyết định của chính phủ về quản lý ngoại tệ đã bị mất hiệu
lực ngay khi vừa mới công bố.Giai đoạn này, ngân hàng không kiểm soát được lưu
thông ngoại tệ.Trước tình hình đó, từ năm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay
đổi cách quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái VND/USD.
Nội dung chính của những thay đổi về chính sách và cơ chế nêu trên là:
_ Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vịkinh tế quốc doanh có
ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định băngf biện pháp kinh tế: mở
trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi mua
bán ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận.
_ Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương
giữa ngân sách với các tổ chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu.Thay vào đó, trên
cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ, ngân hàng nhà nước công
bố tỷ giá chính thức. Cơ chế hình thành và quản lý tỷ giá hối đoái mềm dẻo như
vậy cộng với sự can thiệp điều tiết của ngân hàng nhá nước đối với lượng ngoại tệ
mua bán tại các phiên giao dịch đã giải toả được tâm lý đầu cơ ngoại tệ, ngăn được
xu hướng tăng quá mức giá Đôla Mỹ trên thị trường. Từ tháng 3/1992 giá USD bắt
đầu giảm.
2.Giai đoạn cố định tỷ giá từ 1993-1996
9

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
Tình trạng nhập siêu liên tục trong giai đoạn này đã tác động xấu đến xuất
khẩu và khuyến khích nhập khẩu, gây thâm hụt cán cân thương mại dẫn tới tình
trạng hặc phải tiêu giảm dự trữ ngoại hối quốc gia, hoặc phải vay nợ nước ngoài để
bù đắp cán cân thanh toán. Tuy cơ cấu nhập khẩu có thay đổi, tỷ trọng nhập máy
móc thiết bị công nghệ này càng tăng, nhưng nhập siêu vẫn kéo dài làm đất nước
lún sâu vào nợ nần, khó khăn cho nền tài chính quốc gia.
Bốn năm phát triển kinh tế đất nước (1993 - 1996) tốc độ lạm phát tăng tổng
cộng là 36,8% trong khi tỷ giá VND so với USD chỉ tăng 2% đưa đến thực tế giá
bán hàng nội địa đã tăng trên 30% so với hàng nhập ngoại. Hàng nhập ngoại đã trở
nên rẻ hơn và được nhập vào thị trường nước ta với số lượng lớn cạnh tranh với
hàng nội địa, thể hiện qua sự gia tăng thâm hụt cán thương mại quốc tế của nước ta
trong những năm 1993-1996 từ nhập siêu 939 triệu USD năm 1993 lên 1,7 tỷ USD
năm 1994 lên 2,7 tỷ USD năm 1995 lên 3,8 tỷ USD năm 1996 .
Đứng trước tình hình đó, nhà nước đã có những chỉ đạo:
+ Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mở LC
thanh toán tràn lan và cuối năm 1996 thông qua khống chế mức mở LC At Sight là
chủ yếu, hạn chế mở LC trả chậm, xem xét cho nhập khẩu những mặt hàng cần
thiết chủ yếu là những mặt hàng về tư liệu sản xuất, dựa vào huy động vốn trung và
dài hạn ngày càng được nâng cao và huy động vốn bằng mọi biện pháp thông qua
mức ký quỹ bắt buộc.
+ Điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường.

10

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
3 .Quá trình đi tới một chính sách tỷgiá hối đoái tự chủ theo cơ chế thị trường
(1992 - 1997)
Vào thời điểm cuối năm 1992, do kết quả sự can thiệp của ngân hang nhà nước vào
thị trường ngoại tệ, tỷ giá VND/USD dần dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ của
các doanh nghiệp được giải toả khỏi yếu tố đầu cơ, hướng mạnh vào kinh doanh
xuất nhập khẩu. Đồng thời ngoại tệ từ bên ngoài vàonhiều nên kinh doanh cung cầu
ngoại tệ đảo ngược so với cùng kỳ mội năm, giá Dola giảm mạnh, mức giá phổ
biến trên thị trường tư nhân Hà nội năm 1993 là 10.300 đến 10.400. Tình trạng giá
USD giảm mạnh đã ảnh hýởng xấu ðến xuất khẩu và kích thích nhập khẩu quá
mức, nên ngân hàng nhà nýớc lại phải can thiệp nhằm tăng giá đồng USD.
Trong hầu hết các phiên giao dịch của quý I năm 1993, hệ thống ngân hang phải
mua Dola vào nhằm ngăn chặn xu hướng giảm giá của đồng tiền này.Từ tháng
3/1993 USD đã lên giá dần và duy trì xu hướng lên giá một cách ổn định (ở đây nói
về tỷ giá danh nghĩa VND/USD). Tháng 10/1994 khi thị trường ngoại tệ đã phát
triển đến một giai đoạn nhất định, xét trên khía cạnh phạm vi cũng như cơ cấu tổ
chức, hai trung tâm giao dịch ngoại tệ không còn phù hợp. Số lượng ngân hàng
tham gia vào giao dịch tăng nhanh. Phạm vi và cường độ giao dịch cũng ngày càng
phát triển và mở rộng.
Trước tình hình mới Ngân hàng Nhà nước đã cho phép thị trường ngoại tệ liên
Ngân hàng ra đời, thay thế hoạt động của hai trung tâm giao dịch. Bởi thị trường
liên Ngân hang có qui mô lớn hơn và mang tính thị trường khách quan, linh hoạt
hơn, tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước cũng càng sát
với thực tế hơn. Đồng thời qua thị trường, Ngân hàng Nhà nước có thể bắt nắm
được nhu cầu tổng thể của nền kinh tế về ngoại tệ trong từng thời kỳ, điều tiết kịp
thời tỷ giá hối đoái. Ngân hàng Nhà nước đã thông qua thị trường lien Ngân hang
để nắm bắt tín hiệu của tỷ giá hối đoái, sử dụng tỷ giá chính thức công bố hang
ngày và biên độ qui định tỷ giá giao dịch cho các Ngân hàng thương mại làm công
11

TIỂU LUẬN: KINH TẾ HỌC
cụ hỗ trợ, can thiệp và điều hoà hướng tỷ giá thị trường theo mục tiêu của chính
sách tỷ giá và chính sách tiền tệ. Thực lực của Ngân hàng Nhà nước về ngoại tệ
cũng đã tăng lên, tỷ giá đã phản ánh tương đối khách quan sức mua của đồng tiền
Việt Nam và quan hệ cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế, đủ điều kiện cho phép
Ngân hàng Nhà nước dần dần nới hơn đối với cơ chế điều hành tỷ giá. Thực tế tỷ
giá chính thức đã được điều chỉnh ngày một linh hoạt, theo sát với thực tế và biên
độ giao dịch cho các Ngân hàng thương mại đã được mở rộng liên tục ( tử # 0,5% ,
+_ 0,1% đến #5% so với tỷ giá chính thức )
4 .Từ năm 1997 đến nay:
Theo số liệu của Tổng cục Thống kể, nếu như năm 2008 giá USD (tỷ giá
VND/USD) tăng 6,31%, năm 2009 tăng tới 10,07%, năm 2010 tăng 9,68% thì năm
2011 chỉ tăng có 2,2% và từ đầu năm 2012 đến nay giảm gần 1%. Cụ thể trong 10
tháng đầu năm 2012, thì có 5 tháng tỷ giá tăng nhẹ, còn 5 tháng giảm; tính chung
10 tháng tỷ giá giảm gần 0,88%. Dự báo với diễn biến hiện nay và mặc dù trong
gần 2 tháng cuối năm thị trường ngoại tệ có thể biến động hơn nhưng tỷ giá cả năm
tăng không quá 1,5%, nằm trong dự báo và định hướng điều hành của NHNN ngay
từ đầu năm. Đây là một hiện tượng hiếm thấy về diễn biến tỷ giá trên thị trường
trong nhiều năm qua, chính xác là kể từ năm 1996 đến nay.
Diễn biến tỷ giá nói trên có những tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã
hội.Trước hết, tỷ giá ổn định đã tác động tích cực đến tâm lý của người dân, tâm lý
của thị trường tài chính. Người dân, giới đầu tư tin tưởng vào sự ổn định của đồng
Việt Nam, hay đồng Việt Nam được coi trọng. Điều này làm giảm hẳn tình trạng
người dân lựa chọn việc cất trữ tài sản của mình bằng việc mua ngoại tệ, góp phần
đẩy lùi tình trạng đô la hóa trong xã hội; hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ trên
tài khoản của các doanh nghiệp.
Song tác động của thành công nổi bật hơn cả đó là thực hiện mục tiêu kiềm
chế lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ.Nói cụ thể hơn, đó là Việt Nam
12