Tải bản đầy đủ
Các chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ với ngân sách

Các chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ với ngân sách

Tải bản đầy đủ

Thuế TNDN là khoản thuế tính trên thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Thuế TNDN
được tính bằng 22% lợi nhuận trước thuế. Thuế TNDN trong kỳ nghiên cứu đạt 215,83%
so với kỳ gốc, tăng 115,83%, tương ứng với 1.636.928 (10 3 đồng). Các nguyên nhân làm
cho thuế TNDN tăng lên là do lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ đã tăng lên. Bao
gồm các nguyên nhân sau:
- Do doanh nghiệp đã biết cách mở rộng quy mô sản xuất một cách hợp lý, lợi
nhuận của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng lên làm tăng thuế TNDN. Đây là
nguyên nhân chủ quan
- Sản phẩm của doanh nghiệp được nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng,
làm cho khối lượng hàng bán và doanh thu tăng lên. Mặt khác chi phí cho công tác
quảng cáo tiếp thị lại nhỏ hơn rất nhiều so với doanh thu thu được, dẫn đến lợi nhuận
tăng, làm tăng thuế TNDN. Đây là nguyên nhân chủ quan
- Nhà nước có chính sách tăng giá một số loại sản phẩm nhằm kìm chế việc lạm
phát đang gia tăng trong nền kinh tế. Do đó, giá bán của doanh nghiệp cũng tăng theo xu
hướng chung ,làm tăng doanh thu, dẫn đến tăng lợi nhuận và thuế TNDN. Đây là nguyên
nhân khách quan.
- Thu nhập của người dân tăng lên nên nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của họ cũng
nhiều hơn. Vì vậy, khối lượng hàng bán của doanh nghiệp tăng lên, làm cho doanh thu
tăng. Doanh thu tăng lên kéo theo lợi nhuận và thuế TNDN cũng tăng lên. Đây là nguyên
nhân khách quan.
c. Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội được tính bằng 18% lương cơ bản ( lương thời gian ). Bảo hiểm xã hội
mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách trong kì nghiên cứu đạt 104,5% so với kỳ gốc,
tăng 4,5%, tương ứng với 22.385 (103 đồng). Bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp phải nộp
trong kỳ nghiên cứu tăng lên là do lương thời gian tăng lên. Các nguyên nhân có thể là:
- Doanh nghiệp đã thực hiện việc tuyển mộ thêm lao động ở bên ngoài vào làm
nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất làm cho số lao động trong doanh
24

nghiệp tăng lên. Số lao động tăng làm tăng lương thời gian mà doanh nghiệp phải trả,
dẫn đến khoản BHXH trích theo lương cũng tăng lên.
- Doanh nghiệp đã thực hiện việc tăng mức lương cơ bản cho người lao động.
Đây là một chiến lược có ý nghĩa đặc biệt của doanh nghiệp nhằm thu hút lực lượng lao
động có tay nghề cao. Việc làm này bước đầu có thể làm cho khoản BHXH mà doanh
nghiệp phải nộp tăng nhưng nó có ỹ nghĩa lâu dài, đem lại nhiều lợi ích trong tương lai
cho doanh nghiệp thông qua việc kích thích tinh thần lao động sáng tạo cho người lao
động và có đội ngũ lao động có trình độ cao. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính
tích cực.
- Do nền kinh tế đang rơi vào tình trạng lạm phát nhanh, làm cho giá cả các mặt
hàng có xu hướng tăng lên. Để đảm bảo cho người lao động có thể đáp ứng được các
nhu cầu thiết yếu của mình trong cuộc sống, nhà nước đã có chính sách tăng mức lương
cơ bản cho người lao động. Vì vậy, khoản BHXH trích theo lương cơ bản cũng tăng lên.
§3- KẾT LUẬN
Qua việc phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã cho ta thấy
doanh nghiệp đã có sự mở rộng và phát triển vượt bậc. Đồng thời doanh nghiệp cũng đã
quan tâm hơn đến đời sống của người lao động trong doanh nghiệp, thực hiện tốt các
nghĩa vụ đối với nhà nước. Để thực hiện được điều này, đội ngũ cán bộ quản lý và công
nhân trong doanh nghiệp đã không ngừng phấn đấu, thi đua vì lợi ích chung của toàn
doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn tồn tại một số hạn
chế nhất định. Công tác quản lý các yếu tố đầu vào chưa thực sự chặt chẽ, làm hao hụt
nhiều nguyên vật liệu. Đồng thời doanh nghiệp cũng mới chỉ quan tâm đầu tư đến khâu
sản xuất nhưng khâu dự trữ và bảo quản chưa được chú ý nên gây ra nhiều thiệt hại cho
doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần quản lý tốt hơn nữa quá trình thu mua cấp phát nguyên
vật liệu, duy tu lại hệ thống kho bãi bảo quản để tránh những thiệt hại không cần thiết.

25

Qua đây ta cũng thấy được bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp đã được tổ
chức sắp xếp và hoạt động khá hiệu quả. Để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển bền
vững trên thị trường, thì cần phải tìm ra các biện pháp quản lý tốt hơn nữa.

26

Chương II: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá chị sản xuất theo các chỉ tiêu
sử dụng máy móc thiết bị
§1.MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA
1.Ý nghĩa
Giúp người quản lý doanh nghiệp thấy được thực trạng của doanh nghiệp về máy móc
thiết bị, thấy được nhiều măt yếu cần bổ sung, sửa đổi về cơ cấu, quy mô máy móc thiết
bị, từ đó có kế hoạch và biện pháp tăng giảm máy móc thiết bị trong doanh nghiệp một
cách hợp lý và hiệu quả. Từ đó doang nghiệp có biện pháp cụ thể sử dụng máy móc thiết
bị của mình có hiệu quả hơn.
2.Mục đích
Máy móc thiết bị là cơ sở vật chất quan trọng của mỗi doanh nghiệp, nó giữ vai trò
quan trọng đối với hiệu qủa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đạt được hiệu quả
cao, máy móc thiết bị phải sử dụng triệt để cả về công suất và thời gian. Tình hình sử
dụng máy móc thiết bị do đó cũng có ảnh hưởng lớn đến giá trị sản xuất.
Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ sử dụng máy móc
thiết bị có những mục đích sau.
Thứ nhất: Xác định các nhân tố, các nguyên nhân thúc đẩy việc sử dụng triệt để
máy móc thiết bị cũng như các nguyên nhân gây lãng phí.
Thứ hai: Nghiên cứu kết cấu và sự biến động của máy móc thiết bị để xác định kết
cấu hợp lý nhất và xác định khả năng tiềm tàng.
Thứ ba: Đánh giá trình độ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và những kinh
nghiệm sản xuất tiên tiến trong việc trang bị và sử dụng máy móc thiết bị của doanh
nghiệp.
Thứ tư : Tìm ra phương hướng biện pháp khai thác những khả năng tiềm tàng của
máy móc thiết bị trong doanh nghiệp, hạn chế những lãng phí , bất hợp lý . Tiến hành đổi
mới các loại máy móc thiết bị để có kết cấu hợp lý, hiệu quả sử dụng cao, nâng cao năng
suất lao động.

27

§2. PHÂN TÍCH
I)Lập biểu số hiệu
-

Phương trình kinh tế
Gs = ...Pg
Trong đó:

Gs : Giá trị sản xuất
N: Số máy móc có bình quân trong kỳ( chiếc)
T
t

: Số ngày làm việc bình quân( ngày/ chiếc)5
: Số giờ làm việc bình quân( giờ/ ngày)

Pg

: Năng suất giờ bình quân( 103 đồng/giờ)

28

PHÂN TÍCH CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT THEO CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT

-

BỊ
-

-

Chỉ tiêu

-

-

-

-

-

-

Đ

K

K

S

C

-

MĐAH

-

đến Gs
T
u

-

y

n


t
đ

i
-

(
1
0
3

đ

n
g
29

-

)
-

9
.

-

-

Số máy móc
có bình quân

-

-

-

C

1

-

9

-

-

9

-

5

-

2
5
.
8
3
-

7
2
8

-

Số ngày làm
việc

-

bình

-

-

-

-

-

n

2

2

1

quân

1

-

-

7

7

5
0
1

-

-

Số giờ làm
việc

bình

-

-

-

-

-

-

gi

7

7,

1

0

quân

-

-

3
0

30

9
1
2
9
-

7
1
9

-

Năng

suất

giờ

bình

-

-

-

-

-

-

9

1

6

8

1

2

6

quân

-

0
9
7

-

-

Giá trị sản
xuất

-

-

-

-

-

-

1

9

1

1

3

-

31

-

-

-

-

II) Đánh giá chung.
Qua bảng phân tích ta thấy giá trị sản xuất kỳ gốc là 925.258.369

-

đồng, kỳ nghiên cứu là 125.369.258 đồng tăng 30.110.889 đồng so với kỳ
gốc tương đương với tăng 31,61%. Giá trị sản xuất bị tác động bởi các
nhân tố: số may móc có bình quân trong kỳ, số ngày làm việc bình quân,
số giờ làm việc bình quân và năng suất giờ bình quân. Nhìn chung tất cả
các nhân tố đều có xu hướng tăng, có một nhân tố giảm duy nhất đó là máy
móc có bình quân giảm 1 chiếc tương đương với giảm 10% so với kỳ gốc,
nhân tố tăng nhiều nhất là năng suất giờ bình quân, tăng 2.392,4587
đồng/giờ tương đương với tăng 38,09% so với kỳ gốc.
-

III)Phân tích chi tiết

-

a. Số máy móc bình quân

-

Trong kỳ số máy móc bình quân giảm 10%, tương ứng với giảm 1 thiết bị
làm cho giá trị sản xuất giảm 9.525.837(103 đồng).Nguyên nhân chủ yếu
có thể do:

-

Trong kỳ, doanh nghiệp đưa một thiết bị sản xuất từ doanh nghiệp đi góp
vốn

-

Doanh nghiệp được nhận tài sản của doanh nghiệp là một đối tác làm ăn
lâu năm với doanh nghiệp. Điều này sẽ giữ được mối làm ăn lâu dài với
doanh nghiệp nên nguyên nhân làm giảm máy móc này không hẳn là tiêu
cực. Có thể coi đây là nguyên nhân chủ quan tích cực cho quan hệ ngoại
giao của công ty.

-

-Tình trang máy móc của doanh nghiệp đang giảm xuống, có một số
máy móc thiết bị hỏng không còn sử dụng được nữa cần phải thanh lý.
Đáng ra phải thay thế mới nhưng máy móc đã thanh lý tuy nhiên do nhu
cầu thị trường về mặt hàng mà doanh nghiệp đang sản xuất giảm nên
doanh nghiệp quyết định không đầu tư máy móc thiết bị mới làm cho số
32

máy móc trong kỳ nghiên cứu giảm hơn so với kỳ gốc. Có thể xem
nguyên nhân này vừa tiêu cực vừa tích cực.
Trong kỳ nghiên cứu một số doanh nghiệp của Nhật bản tiến hành

-

thu mua máy móc cũ với giá trị cao nhằm lấy 1 số thiết bị quan trọng trong
máy móc và chế tạo lại. Doanh nghiệp có 1 số thiết bị sản xuất tình trạng
kém nên doanh nghiệp quyết định bán để thu nguồn lợi này. Cũng do nhu
cầu về sản phẩm của doanh nghiệp đang suy thoái nên doanh nghiệp không
mua lại máy mới cho số máy móc đã bán đi. Đây là nguyên nhân khách
quan tích cực vì không cần đầu tư nhiều vào nguồn không mang lại nhiều
lợi ích và thu nhập lâu dài của doanh nghiệp.
-Kỳ trước doanh nghiệp nhận 1 lô máy móc do nhà cung cấp Trung

-

Quốc. Sau 1 kỳ sử dụng số máy móc thiết bị này đã bị hỏng và phải tiến
hành sửa chữa thường xuyên. Thấy máy móc hoạt động kém lại tốn tiền
sửa chữa doanh nghiệp đã đưa số thiết bị này vàkho chờ thanh lý. Đây là
nguyên nhân khách quan tiêu cực.
-

b.Số ngày làm việc bình quân
Số ngày làm việc bình quân kỳ gốc là 213 ngày/chiếc, ở kỳ nghiên

-

cứu là 220 ngày/chiếc tăng 7 ngày/chiếc tương ứng với tăng 3,29% so với
kỳ gốc, làm cho giá trị sản xuất tăng 2.817.501 (103 đồng) tương ứng tăng
2,96%. Số ngày làm việc bình quân tăng có thể do một số nguyên nhân
sau:
-

- Vì được đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị mới nên ít bị hỏng
nên số ngày làm việc tăng lên so với kỳ gốc. Kỳ gốc số máy móc thiết bị
hiện có của doanh nghiệp thường xuyên bị hỏng , gây gián đoạn cho quá
trình sản xuất , mỗi khi máy hỏng phải sửa chữa mất nhiều thời gian và
công nhân không có máy móc thiết bị để làm việc. Tình trạng này đã được
khắc phục ở kỳ nghiên cứu khi số máy móc thiết bị cũ được thay thế, dây
33

chuyền sản xuất được hiện đại hoá. Máy móc thiết bị ít bị hỏng hơn, số
ngày làm việc được tăng lên, tình trạng công nhân không có máy để làm
được hạn chế. Đây là một nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực , tác
động tốt tới giá trị sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ.
-Vì thời tiết bớt khô hạn hơn nên tình trạng mất điện ít xảy ra hơn , do đó

-

số ngày làm việc của một thiết bị cũng được tăng lên . Đây là một nguyên nhân tích cực
bởi đã khắc phục được tình trạng gián đoạn trong sản xuất , các máy móc thiết bị không
phải đợi có điện để vận hành nữa . Do đó , khối lượng sản xuất tăng lên trong kỳ , giảm
thiểu được số ngày không làm việc lãng phí của máy móc thiết bị cũng như công nhân .
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực
-

- Nguồn nguyên liệu được cung cấp đầy đủ và kịp thời nên thời
gian làm việc của máy móc không bị gián đoạn. Đây là nguyên nhân
khách quan tích cực.

-

c.Số giờ làm việc bình quân của một thiết bị trong ngày
Số giờ làm việc bình quân ở kỳ gốc là 7,12 giờ/chiếc, ở kỳ nghiên
cứu là 7,3 giờ/người tăng 0,18 giờ/chiếc so với kỳ gốc tương ứng với tăng
4,3%, làm cho giá trị sản xuất tăng 3.091.297(10 3 đồng) tương đương với
tăng 3,25%. Số giờ bình quân trong kỳ tăng như vậy có thể do một số
nguyên nhân sau:

-

- Sở điện lực không tiến hành cắt điện luân phiên nữa đồng thời số giờ mất

điện trong kỳ nghiên cứu giảm đi nên đã tăng được số giờ làm việc bình quân của một
thiết bị của doanh nghiệp . Đây là một nguyên nhân khách quan mang tính tích cực bởi
đã góp phần giảm thiểu đáng kể số giờ lãng phí của máy móc thiết bị . Quá trình sản xuất
không bị gián đoạn , giá trị sản xuất tạo ra nhiều hơn .
-

- Công tác tổ chức nơi làm việc của doanh nghiệp có nhiều tiến bộ . Các

dụng cụ làm việc được sắp xếp một cách có khoa học hơn , gọn gàng hơn , đúng chỗ đã
góp phần làm giảm thời gian máy móc thiết bị phải chờ người lao động đi tìm dụng cụ
34