Tải bản đầy đủ
Chỉ tiêu giá trị sản xuất

Chỉ tiêu giá trị sản xuất

Tải bản đầy đủ

Ngoài những nguyên nhân chủ quan do bản thân doanh nghiệp thì các yếu tố khách
quan bên ngoài tác động cũng làm cho giá trị sản xuất của doanh nghiệp cũng tăng lên.
Có thể đưa ra một số nguyên nhân chính như sau:
- Do nhu cầu trên thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng tăng cao.
Đứng trước cơ hội kiếm lời cao, doanh nghiệp đã chủ động sản xuất nhiều hơn để đáp
ứng nhu cầu của thị trường. Do vậy, giá trị sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ nghiên
cứu tăng lên. Nguyên nhân khách quan tích cực này góp phần to lớn trong việc tăng
mạnh giá trị sản xuất của doanh nghiệp.
Giá trị sản xuất của doanh nghiệp tăng lên cho thấy doanh nghiệp đã có sự mở rông quy
mô sản xuất, đa dạng hoá loại hình hoạt động
2. Lao động, tiền lương
Tình hình lao động của doanh nghiệp được thể hiện qua 4 chỉ tiêu : tổng số lao động,
năng suất lao động, tổng quỹ lương và tiền lương bình quân. Qua bảng phân tích ta thấy
tất cả các chỉ tiêu này ở kì nghiên cứu đều tăng lên so với kì gốc. Cụ thể như sau:
a. Tổng số lao động:
Tổng số lao động của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc đạt 101,33%, tăng
1,33% tương ứng với 9 người. Đây là nhân tố có tốc độ tăng chậm nhất trong tất cả các
nhân tố. Tổng số lao động của doanh nghiệp tăng lên là do:
- Để đáp ứng nhu cầu về sản phẩm trên thị trường, doanh nghiệp đã mở rộng đầu
tư sản xuất bằng việc xây dựng thêm 2 phân xưởng mới và đưa vào hoạt động. Việc mở
rộng quy mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải có công nhân để vận hành máy móc và
làm việc. Do đó, doanh nghiệp đã tuyển thêm lao động ở bên ngoài làm cho số lao động
của doanh nghiệp tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
- Doanh nghiệp đã đa dạng hoá loại hình công việc của mình, ngoài việc sản xuất
sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp còn nhận kinh doanh thêm một số dịch vụ
kèm theo như vận chuyển hàng hoá, tư vấn về sản phẩm. Đây là một cơ hội kinh doanh
đem lại khả năng sinh lời tương đối lớn cho công ty. Tuy nhiên, đội ngũ lao động trong
15

doanh nghiệp chưa đủ khả năng và chưa có đủ thời gian để có thể thực hiện công việc
một cách thành thạo. Vì vậy, doanh nghiệp đã thuê thêm một số nhân viên để đảm nhận
phần công việc mới này. Đây cũng là một nguyên nhân chủ quan làm cho số lao động
của doanh nghiệp tăng lên.
- Doanh nghiệp là một chi nhánh của tổng công ty. Trong kỳ, tổng công ty đã điều
chuyển một số lao động từ chi nhánh khác sang để thực hiện luân chuyển công tác cho
các cán bộ. Do vậy, số lao động của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng lên.
Tổng số lao động tăng làm tăng chi phí tiền lương. Số lao động tăng cho thấy quy mô
sản xuất của doanh nghiệp đã được mở rộng. Đồng thời, tốc độ tăng số lao động nhỏ hơn
rất nhiều so với tốc độ tăng năng suất lao động. Điều này cho thấy doanh nghiệp biết
khai thác tốt khả năng của nguồn lao động và việc tăng số lao động của doanh nghiệp là
hợp lý.
b.Năng suất lao động
Qua bảng ta thấy năng suất lao động của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kì gốc
đạt 129,88%, tăng 29,88% tương ứng với 42.165 (103 đồng/người). Năng suất lao động
của doanh nghiệp tăng lên là do những nguyên nhân sau:
- Doanh nghiệp đã mở các lớp đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho các cán bộ,
công nhân trong doanh nghiệp. Ở các lớp đào tạo này, người công nhân được hướng dẫn
cụ thể và khoa học về các thao tác vận hành máy móc thiết bị, thao tác sử dụng nguyên
vật liệu theo đúng quy trình thiết kế. Nhờ đó, người công nhân làm việc hiệu quả hơn,
làm ra nhiều sản phẩm hơn. Kết quả là năng suất lao động tăng lên. Đây là nguyên nhân
chủ quan tích cực trong việc bồi dưỡng nguồn nhân lực.
- Cùng với việc đào tạo tay nghề, doanh nghiệp còn chú trọng đến việc đào tạo và
rèn luyện ý thức làm việc của công nhân. Song song với việc tuyên truyền về ý thức
trách nhiệm, doanh nghiệp còn sử dụng các chính sách khuyến khích người công nhân
bằng cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần như chính sách lương, thưởng, chế độ đãi ngộ
và thăng tiến.... Nhờ vậy, ý thức làm việc của công nhân được nâng cao. Người công
16

nhân có ý thức tự giác làm việc một cách nhiệt tình, không lơ là, không tự ý ngừng việc
hay bỏ việc. Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan làm năng suất lao động tăng
lên
- Đứng trước xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay, doanh nghiệp cũng
từng bước đầu tư, hiện đại hoá trang thiết bị máy móc của mình. Những máy móc thiết
bị đã cũ kĩ hay lạc hậu đều được thay thế bằng các dây chuyền công nghệ hiện đại hơn.
Nhờ vậy, mức độ cơ giới hoá, tự động hoá trong doanh nghiệp được nâng cao. Máy móc
thiết bị dần thay thế sức lao động của con người, làm cho năng suất lao động tăng lên.
- Công tác sữa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị cũng được chú trọng. Doanh
nghiệp thường tổ chức bảo dưỡng máy móc theo định kì để đảm bảo máy móc hoạt động
liên tục, không bị trục trặc hay gián đoạn trong quá trình sản xuất. Do đó, thời gian lãng
phí do phải chờ đợi khi có hỏng hóc bị giảm xuống, làm cho năng suất lao động tăng
lên.
- Công tác cung cấp và phân phối nguyên vật liệu đầu vào cũng được thực hiện
khá tốt. Nguyên vật liệu được cung cấp đầy đủ và kịp thời giúp cho quá trình sản xuất
được liên tục, không bị gián đoạn. Đồng thời, chất lượng nguyên vật liệu được đảm bảo,
làm hạn chế những trục trặc về máy móc trong quá trình vận hành. Nguyên nhân khách
quan tích cực này cũng góp phần làm tăng năng suất lao động.
- Giữa các bộ phận có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ. Hầu như bán thành
phẩm của phân xưởng này sản xuất ra đều được các phân xưởng khác hoàn thiện ngay
lập tức. Không có tình trạng bán thành phẩm của phân xưởng nào đó bị ứ đọng lại, hay
bộ phận này phải chờ đợi bộ phận kia, dẫn đến năng suất lao động tăng lên
Năng suất lao động tăng lên cho thấy chất lượng của đội ngũ lao động đang có xu hướng
tăng. Đồng thời tốc độ tăng năng suất lao động tăng nhanh hơn số lao động cho thấy
doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả nguồn lao động của mình
c.Tổng quỹ lương:

17

Tổng quỹ lương của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kì gốc đạt 104,50%, tăng
4,5% tương ứng với 124.362 (103 đồng). Các nguyên nhân làm cho tổng quỹ lương của
doanh nghiệp tăng lên có thể là:
- Do nhu cầu về sản phẩm trên thị trường tăng lên, đòi hỏi doanh nghiệp phải mở
rộng quy mô sản xuất. Đồng thời phải tuyển thêm một số lao động từ bên ngoài. Điều
này làm cho số lao động trong doanh nghiệp tăng lên, cùng với đó là việc doanh nghiệp
phải bỏ ra khoản chi phí lương cho người lao động nhiều hơn. Vì vậy, tổng quỹ lương
trong doanh nghiệp tăng lên. Đây là nguyên nhân mang tính khách quan
- Do tốc độ lạm phát của nền kinh tế tăng lên, là cho giá cả các mặt hàng tăng
theo, đòi hỏi tiền lương bình quân của người lao động phải tăng lên để có thể thoả mãn
các nhu cầu thiết yếu của họ trong cuộc sống. Tiền lương bình quân tăng làm cho tổng
quỹ lương tăng lên. Đây là nguyên nhân khách quan
- Doanh nghiệp đã tuyển thêm một số lao động có tay nghề cao từ bên ngoài
nhằm đáp ứng nhu cầu của việc đa dạng hoá loại hình hoạt động. Do vậy, số lượng lao
động trong doanh nghiệp tăng lên, đồng thời chất lượng lao động cũng biến động theo xu
hướng tăng. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chi phí tiền lương của doanh
nghiệp tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan.
- Doanh nghiệp đã áp dụng chính sách tiền thưởng, phụ cấp nhằm khuyến khích
người lao động hăng hái sản xuất. Nhờ vậy, tất cả các công nhân đều ra sức làm việc, cố
gắng hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra. Điều này làm cho không khí
thi đua làm việc trong doanh nghiệp vô cùng náo nhiệt, đem lại nhiều hiệu quả bất ngờ.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực tác động vào tâm lý của công nhân.
Tổng quỹ lương tăng lên cho thấy quy mô sản xuất của doanh nghiệp đã có sự mở
rộng, thu nhập của người lao động cũng được tăng lên. Tuy nhiên, tổng quỹ lương tăng
lên làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng qua
bảng ta cũng có thể thấy tốc độ tăng tiền lương chậm hơn rất nhiều so với tốc độ tăng

18

năng suất lao động và tốc độ tăng lợi nhuận, do đó có thể thấy việc tăng tổng quỹ lương
của doanh nghiệp là hợp lí và có hiệu quả.
d. Tiền lương bình quân :
Tiền lương bình quân của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu đạt 103,13% so với kỳ gốc,
tăng 3,13%, tương ứng với 128(103 đồng/người-tháng).Tiền lương bình quân của doanh
nghiệp tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau :
- Lạm phát kinh tế diễn ra với tốc độ lớn, kéo theo là giá cả tất cả các mặt hàng
tăng lên cao. Nếu chỉ được nhận mức lương như năm trước thì người lao động khó có thể
thoả mãn được các nhu cầu thiết yếu của họ trong cuộc sống. Thực tế này đòi hỏi tiền
lương bình quân của người lao động phải tăng lên. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu
cực
- Nhà nước đã đưa ra chính sách tăng mức lương cơ bản cho người lao động. Là
một doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, doanh
nghiệp phải thực hiện đúng các chủ trương chính sách của nhà nước. Do đó, tiền lương
bình quân trong doanh nghiệp tăng lên. Đây là nguyên nhân khách quan.
- Doanh nghiệp thực hiện hình thức trả lương theo sản phẩm kết hợp với lương
thời gian. Đồng thời doanh nghiệp cũng có kế hoạch quản lý tốt thời gian làm việc.Năng
suất lao động và thời gian làm việc tăng lên làm cho số sản phẩm sản xuất ra nhiều hơn,
làm tăng tiền lương bình quân. Đây là nguyên nhân chủ quan.
Tiền lương bình quân tăng lên góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động,
cải thiện đời sống của họ. Đồng thời nó cũng thể hiện phần nào vị thế cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường, tạo khả năng thu hút những lao động có trình độ cao vào
làm việc
3. Chỉ tiêu tài chính
Các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua 3 chỉ tiêu: tổng doanh thu,
tổng chi phí và lợi nhuận. Nhìn chung, cả 3 chỉ tiêu này ở kì nghiên cứu so với kì gốc
đều tăng lên.
19

a.Tổng thu:
Qua bảng ta thấy, doanh thu của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu đạt 119,20% so với kỳ
gốc, tăng 19,2%, tương ứng với 14.332.667(10 3 đồng). Doanh thu của doanh nghiệp tăng
lên cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã có nhiều tiến triển thuận lợi. Các
nguyên nhân làm cho doanh thu củâ doanh nghiệp tăng lên có thể là:
- Công tác quảng cáo trong doanh nghiệp đã được chú trọng. Ngoài việc quảng
cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng, doanh nghiệp còn in nhiều
catalog quảng bá về sản phẩm và mở các cuộc hội thảo chuyên đề nhằm giới thiệu sản
phẩm của mình. Vì vậy, ngày càng nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng sản phẩm
của doanh nghiệp. Khối lượng hàng hoá tiêu thụ tăng vọt làm cho tổng doanh thu của
doanh nghiệp tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
- Doanh nghiệp đã mở thêm nhiều đại lý phân phối mới trên các thị trường mới.
Do chất lượng sản phẩm hoàn toàn vượt trội, doanh nghiệp đã đánh bại các đối thủ cạnh
tranh trên các thị trường này, thị phần của doanh nghiệp ngày càng mở rộng. Doanh
nghiệp đã chiếm lĩnh được một thị trường vô cùng rộng lớn, cả ở trong nước và nước
ngoài. Điều này đẩy khối lượng hàng tiêu thụ của doanh nghiệp tăng lên, làm tăng doanh
thu. Đây là nguyên nhân chủ quan.
-Việc làm tốt các dịch vụ trong và sau bán hàng cũng là thế mạnh góp phần giúp
doanh nghiệp tăng khối lượng tiêu thụ, dẫn đến tăng doanh thu.
- Trong năm, Nhà nước đã thực hiện chính sách giảm thuế xuất khẩu đối với các
công ty xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Một số
mặt hàng xuất khẩu của công ty nằm trong diện được miễn hoặc giảm thuế. Nhờ vậy,
doanh thu của công ty tăng lên do khoản thuế xuất khẩu phải nộp giảm xuống.
Tổng doanh thu tăng lên là một xu hướng tốt đối với hoạt động của doanh nghiệp. Tổng
doanh thu tăng làm tăng lợi nhuận, đồng thời thể hiện quy mô và lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường
b. Tổng chi
20

Dựa vào bảng ta thấy tổng chi phí của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu tăng 10,1% so với
kỳ gốc, tương ứng với 6.892.087 (103 đồng). Tổng chi phí của doanh nghiệp ở kỳ nghiên
cứu tăng lên do ảnh hưởng của cả các nguyên nhân sau:
- Do công tác quản lý, cấp phát nguyên vật liệu chưa được quản lý chặt chẽ. Tại
nhiều bộ phận, việc cấp phát nguyên vật liệu chỉ căn cứ trên giấy đề nghị cấp mà không
xem xét đến tình hình thực tế tại các phân xưởng. Điều này dẫn đến làm thất thoát nhiều
nguyên vật liệu do hành vi tham ô của một số cán bộ quản lý. Từ đó làm cho chi phí
nguyên vật liệu tăng lên, dẫn đến tổng chi phí của doanh nghiệp tăng. Đây là nguyên
nhân khách quan tiêu cực ảnh hưởng lớn đến chi tiêu của doanh nghiệp.
- Hệ thống kho bãi bảo quản vẫn còn chưa tốt. Một số dãy nhà kho rơi vào tình
trạng xuống cấp nghiêm trọng, không đủ ánh sáng, độ ẩm cao, nhiều côn trùng và gặm
nhấm...Vì vây, lượng nguyên vật liệu bảo quản trong kho bị hao hụt nhiều, một số bị hư
hỏng một phần, một số bị hư hỏng toàn bộ, không đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất.
Doanh nghiệp buộc phải mua thêm một lượng lớn nguyên vật liệu để bù đắp vào phần
thiếu hụt, làm cho chi phí nguyên vật liệu tăng, dẫn đến tổng chi phí tăng. Đây là nguyên
nhân chủ quan tiêu cực.
- Người công nhân đã có ý thức làm việc chăm chỉ nhưng họ chưa có ý thức trong
việc sử dụng tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu. Sự lãng phí này làm cho chi phí nguyên vật
liệu của doanh nghiệp tăng lên, làm tăng tổng chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu
cực.
- Biến động kinh tế trên thế giới đã đẩy mức giá của hầu hết các loại hàng hoá
tăng lên. Do đó chi phí cho các khoản dịch vụ khác của doanh nghiệp như dịch vụ sửa
chữa máy móc thiết bị, hoa hồng bán hàng, tiền điện chiếu sáng cho sản xuất...cũng tăng
lên làm tăng tổng chi phí. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
Tổng chi phí tăng lên cho thấy quy mô sản xuất của doanh nghiệp đã được mở rộng.
Nhưng phần nào nó cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác quản lý các nguồn lực, làm
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên tốc độ tăng chi phí (10,1%) chậm hơn rất
21

nhiều so với tốc độ tăng doanh thu (19,2%). Điều này cho thấy việc tăng chi phí của
doanh nghiệp là hợp lí
c. Lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa doanh thu trong kì và các khoản chi
phí bỏ ra để có được doanh thu đó. Dựa vào bảng ta thấy lợi nhuận của doanh nghiệp ở
kỳ nghiên cứu đạt 215,83% so với kỳ gốc, tăng 115,83% tương ứng với 7.440.580 (10 3
đồng). Đây là chỉ tiêu có tốc độ tăng lớn nhất trong tất cả các chỉ tiêu. Lợi nhuận của
doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu tăng lên so với kỳ gốc là do các nguyên nhân sau:
- Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh chính, doanh nghiệp còn thực hiện nhiều
hoạt động khác như gia công hàng hoá hay dịch vụ tư vấn... Các hoạt động này cũng
đem lại một nguồn thu khá lớn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, số tiền đầu tư thông qua việc
mua cổ phiếu của một số công ty khác cũng tạo ra cho doanh nghiệp khoản lợi nhuận lớn
do các công ty này làm ăn có lãi. Các khoản thu từ các hoạt động ngoài sản xuất kinh
doanh cơ bản làm cho tổng lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên. Đây là nguyên nhân
chủ quan tích cực của doanh nghiệp.
- Một số đối thủ cạnh tranh cùng ngành của doanh nghiệp đã chuyển sang kinh
doanh mặt hàng khác nên sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp giảm bớt. Doanh
nghiệp có cơ hội để tiêu thụ một khối lượng sản phẩm khá lớn. Khối lượng tiêu thụ tăng
làm tăng doanh thu, từ đó giúp tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân
chủ quan tích cực.
Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Vì vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp
tăng lên đã cho thấy việc mở rộng quy mô sản xuất là cần thiết để tận dụng và khai thác
hết các nguồn lực sẵn có. Lợi nhuận tăng cho phép doanh nghiệp quan tâm hơn đến việc
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

22

4. Các chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ với ngân sách
Các chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ của doanh nghiệp với ngân sách bao gồm thuế giá trị
gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp ( TNDN), bảo hiểm xã hội và thuế thu
nhập cá nhân.
a. Thuế GTGT
Thuế GTGT phải nộp được xác định bằng 10% doanh thu.
Dựa vào bảng ta thấy thuế GTGT mà doanh nghiệp phải nộp ở kỳ nghiên cứu đạt
119,2% so với kỳ gốc, tăng 19,2%, tương ứng với 1.433.266 (10 3 đồng). Thuế GTGT mà
doanh nghiệp phải nộp ở kỳ nghiên cứu tăng lên là do một số nguyên nhân sau:
- Doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ. Trong kỳ,
doanh nghiệp đã nhập khẩu thêm 2 dây chuyền sản xuất mới từ cộng hoà liên bang Đức
nhằm thay thế các máy móc thiết bị đã cũ kĩ, lạc hậu. Nhờ vậy, chất lượng sản phẩm của
doanh nghiệp được nâng cao, tạo được sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Nó kéo theo
khối lượng bán tăng lên và mức giá bán cũng cao hơn, từ đó tăng doanh thu và tăng thuế
GTGT phải nộp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
- Doanh nghiệp đã thực hiện việc tìm kiếm nhiều thị trường mới tiềm năng. Trong
kỳ doanh nghiệp đã mở thêm được 6 đại lý tiêu thụ ở sáu tỉnh thành phố của cả nước.
Nhờ vậy, khai thác được một khối lượng lớn khách hàng tiềm năng và tiêu thụ thêm
được một lượng hàng khá lớn. Khối lượng tiêu thụ tăng làm tăng doanh thu, từ đó góp
phần tăng thuế GTGT nộp cho ngân sách nhà nước. Đây là nguyên nhân chủ quan.
- Loại hàng hoá mà doanh nghiệp sản xuất trên thị trường đang khan hiếm. Nguồn
cung không đáp ứng đủ nhu cầu đã đẩy mức giá bán tăng lên. Nhờ vậy, doanh thu của
doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu tăng lên, làm tăng thuế GTGT.
Thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước tăng lên cho thấy doanh thu của doanh
nghiệp trong kỳ đã gia tăng. Nó biểu hiện quy mô sản xuất của doanh nghiệp đã có sự
mở rộng. Khoản thuế này góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
b. Thuế thu nhập doanh nghiệp
23

Thuế TNDN là khoản thuế tính trên thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Thuế TNDN
được tính bằng 22% lợi nhuận trước thuế. Thuế TNDN trong kỳ nghiên cứu đạt 215,83%
so với kỳ gốc, tăng 115,83%, tương ứng với 1.636.928 (10 3 đồng). Các nguyên nhân làm
cho thuế TNDN tăng lên là do lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ đã tăng lên. Bao
gồm các nguyên nhân sau:
- Do doanh nghiệp đã biết cách mở rộng quy mô sản xuất một cách hợp lý, lợi
nhuận của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng lên làm tăng thuế TNDN. Đây là
nguyên nhân chủ quan
- Sản phẩm của doanh nghiệp được nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng,
làm cho khối lượng hàng bán và doanh thu tăng lên. Mặt khác chi phí cho công tác
quảng cáo tiếp thị lại nhỏ hơn rất nhiều so với doanh thu thu được, dẫn đến lợi nhuận
tăng, làm tăng thuế TNDN. Đây là nguyên nhân chủ quan
- Nhà nước có chính sách tăng giá một số loại sản phẩm nhằm kìm chế việc lạm
phát đang gia tăng trong nền kinh tế. Do đó, giá bán của doanh nghiệp cũng tăng theo xu
hướng chung ,làm tăng doanh thu, dẫn đến tăng lợi nhuận và thuế TNDN. Đây là nguyên
nhân khách quan.
- Thu nhập của người dân tăng lên nên nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của họ cũng
nhiều hơn. Vì vậy, khối lượng hàng bán của doanh nghiệp tăng lên, làm cho doanh thu
tăng. Doanh thu tăng lên kéo theo lợi nhuận và thuế TNDN cũng tăng lên. Đây là nguyên
nhân khách quan.
c. Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội được tính bằng 18% lương cơ bản ( lương thời gian ). Bảo hiểm xã hội
mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách trong kì nghiên cứu đạt 104,5% so với kỳ gốc,
tăng 4,5%, tương ứng với 22.385 (103 đồng). Bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp phải nộp
trong kỳ nghiên cứu tăng lên là do lương thời gian tăng lên. Các nguyên nhân có thể là:
- Doanh nghiệp đã thực hiện việc tuyển mộ thêm lao động ở bên ngoài vào làm
nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất làm cho số lao động trong doanh
24