Tải bản đầy đủ
III)Phân tích chi tiết

III)Phân tích chi tiết

Tải bản đầy đủ

máy móc trong kỳ nghiên cứu giảm hơn so với kỳ gốc. Có thể xem
nguyên nhân này vừa tiêu cực vừa tích cực.
Trong kỳ nghiên cứu một số doanh nghiệp của Nhật bản tiến hành

-

thu mua máy móc cũ với giá trị cao nhằm lấy 1 số thiết bị quan trọng trong
máy móc và chế tạo lại. Doanh nghiệp có 1 số thiết bị sản xuất tình trạng
kém nên doanh nghiệp quyết định bán để thu nguồn lợi này. Cũng do nhu
cầu về sản phẩm của doanh nghiệp đang suy thoái nên doanh nghiệp không
mua lại máy mới cho số máy móc đã bán đi. Đây là nguyên nhân khách
quan tích cực vì không cần đầu tư nhiều vào nguồn không mang lại nhiều
lợi ích và thu nhập lâu dài của doanh nghiệp.
-Kỳ trước doanh nghiệp nhận 1 lô máy móc do nhà cung cấp Trung

-

Quốc. Sau 1 kỳ sử dụng số máy móc thiết bị này đã bị hỏng và phải tiến
hành sửa chữa thường xuyên. Thấy máy móc hoạt động kém lại tốn tiền
sửa chữa doanh nghiệp đã đưa số thiết bị này vàkho chờ thanh lý. Đây là
nguyên nhân khách quan tiêu cực.
-

b.Số ngày làm việc bình quân
Số ngày làm việc bình quân kỳ gốc là 213 ngày/chiếc, ở kỳ nghiên

-

cứu là 220 ngày/chiếc tăng 7 ngày/chiếc tương ứng với tăng 3,29% so với
kỳ gốc, làm cho giá trị sản xuất tăng 2.817.501 (103 đồng) tương ứng tăng
2,96%. Số ngày làm việc bình quân tăng có thể do một số nguyên nhân
sau:
-

- Vì được đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị mới nên ít bị hỏng
nên số ngày làm việc tăng lên so với kỳ gốc. Kỳ gốc số máy móc thiết bị
hiện có của doanh nghiệp thường xuyên bị hỏng , gây gián đoạn cho quá
trình sản xuất , mỗi khi máy hỏng phải sửa chữa mất nhiều thời gian và
công nhân không có máy móc thiết bị để làm việc. Tình trạng này đã được
khắc phục ở kỳ nghiên cứu khi số máy móc thiết bị cũ được thay thế, dây
33

chuyền sản xuất được hiện đại hoá. Máy móc thiết bị ít bị hỏng hơn, số
ngày làm việc được tăng lên, tình trạng công nhân không có máy để làm
được hạn chế. Đây là một nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực , tác
động tốt tới giá trị sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ.
-Vì thời tiết bớt khô hạn hơn nên tình trạng mất điện ít xảy ra hơn , do đó

-

số ngày làm việc của một thiết bị cũng được tăng lên . Đây là một nguyên nhân tích cực
bởi đã khắc phục được tình trạng gián đoạn trong sản xuất , các máy móc thiết bị không
phải đợi có điện để vận hành nữa . Do đó , khối lượng sản xuất tăng lên trong kỳ , giảm
thiểu được số ngày không làm việc lãng phí của máy móc thiết bị cũng như công nhân .
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực
-

- Nguồn nguyên liệu được cung cấp đầy đủ và kịp thời nên thời
gian làm việc của máy móc không bị gián đoạn. Đây là nguyên nhân
khách quan tích cực.

-

c.Số giờ làm việc bình quân của một thiết bị trong ngày
Số giờ làm việc bình quân ở kỳ gốc là 7,12 giờ/chiếc, ở kỳ nghiên
cứu là 7,3 giờ/người tăng 0,18 giờ/chiếc so với kỳ gốc tương ứng với tăng
4,3%, làm cho giá trị sản xuất tăng 3.091.297(10 3 đồng) tương đương với
tăng 3,25%. Số giờ bình quân trong kỳ tăng như vậy có thể do một số
nguyên nhân sau:

-

- Sở điện lực không tiến hành cắt điện luân phiên nữa đồng thời số giờ mất

điện trong kỳ nghiên cứu giảm đi nên đã tăng được số giờ làm việc bình quân của một
thiết bị của doanh nghiệp . Đây là một nguyên nhân khách quan mang tính tích cực bởi
đã góp phần giảm thiểu đáng kể số giờ lãng phí của máy móc thiết bị . Quá trình sản xuất
không bị gián đoạn , giá trị sản xuất tạo ra nhiều hơn .
-

- Công tác tổ chức nơi làm việc của doanh nghiệp có nhiều tiến bộ . Các

dụng cụ làm việc được sắp xếp một cách có khoa học hơn , gọn gàng hơn , đúng chỗ đã
góp phần làm giảm thời gian máy móc thiết bị phải chờ người lao động đi tìm dụng cụ
34

phục vụ cho việc sản xuất . Do đó , số giờ làm việc bình quân của một thiết bị trong kỳ
của doanh nghiệp tăng lên . Nguyên nhân này có ảnh hưởng rất tích cực tới quá trình sản
xuất , làm tăng giá trị sản xuất trong kỳ . Công nhân làm việc cảm thấy thoải mái hơn vì
việc lấy dụng cụ làm việc trở nên dễ dàng , thuận tiện hơn .
- Việc phối hợp giữa các bộ phận sản xuất được tiến hành ăn khớp hơn với

-

nhau , không còn tình trạng bộ phận này phải chờ bộ phận kia nên đã làm giảm số giờ
lãng phí trong lúc sản xuất .
- Bộ phận quản đốc phân xưởng giám sát chặt chẽ quá trình làm việc của

-

công nhân , công nhân làm việc tập trung hơn , tình trạng làm việc riêng không còn tái
diễn do đó số giờ làm việc của công nhân cũng như của máy móc thiết bị cũng được tăng
lên . Đây là nguyên nhân tích cực bởi việc giám sát chặt chẽ sẽ khiến công nhân không
thể lơ là trong công việc , sản phẩm làm ra vừa đạt về số lượng cũng như chất lượng
được đảm bảo . Ngoài việc giám sát chặt chẽ , doanh nghiệp nên đưa ra chế độ khen
thưởng những nhân tố điển hình trong lao động và xử phạt những công nhân có thái độ ,
ý thức kém trong sản xuất một cách hợp lý để nâng cao tinh thần làm việc của người lao
động .
-

d. Năng suất giờ bình quân của một thiết bị
Năng suất giờ bình quân ở kỳ gốc là 6.281,2133 (103 đồng /giờ), ở kỳ
nghiên cứu là 8.673,672 (103 đồng /giờ) tăng 2392,4587 (103 đồng
đồng/giờ) tương ứng với tăng 38,09% so với kỳ gốc, làm cho giá trị sản
xuất tăng 30.110.889 (103 đồng). Năng suất giờ bình quân tăng do một số
nguyên nhân sau:

-

- Trong giai đoạn cuối năm kỳ nghiên cứu, giá nguyên liệu đầu vào tăng

vọt, giá cho một tấn nguyên liệu đã tăng lên so với năm ngoái. Giá cả nguyên liệu tăng
lên làm cho giá trị sản xuất của doanh nghiệp cũng tăng lên, dẫn đến năng suất binh quân
cũng tăng lên. Giá cả nguyên liệu tăng đã ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp, chi phí sản

35

xuất tăng lên, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu
cực.
-Ngay từ đầu năm kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã chú trọng đến công tác

-

đào tạo công nhân, nâng cao tay nghề cho họ. Bằng chứng là, đối với những công nhân
mới tuyển thì doanh nghiệp tổ chức ngay lớp để đào tạo tay nghề cho họ, và cho họ
xuống xưởng để học hỏi kinh nghiệm một thời gian sau đó mới thực sự vào làm; còn đối
với những công nhân cũ, doanh nghiệp tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề bằng cách mời
những kỹ sư tài giỏi về giảng dạy cho họ. Vì thế, thao tác tay nghề công nhân ngày càng
nhanh, chính xác, nâng cao năng suất lao động, sản lượng tăng lên, doanh số bán tăng,
tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
-

Do doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu nhập một số máy móc thiết bị từ nước

ngoài, hiệu quả trong việc sản xuất của những máy này hơn hơn hẳn so với những máy
cũ.
Môi trường làm việc ngày càng được cải thiện, do doanh nghiệp đã

-

sửa sang, xây dựng lại phân xưởng thông thoáng hơn, sạch sẽ hơn tạo
thuận lợi cho việc sản xuất cũng là nguyên nhân làm tăng năng suất lao
động
-

§3- KẾT LUẬN

-

Như vậy qua phân tích các chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử
dụng máy móc thiết bị ta thấy việc khai thác và sử dụng máy móc thiết bị
đã có hiệu quả làm cho giá trị sản xuất tăng lên do một số nguyên nhân chủ
yếu:

-

Trong kỳ , doanh nghiệp đầu tư nhiều máy móc thiết bị mới nên ít bị hỏng
nên số ngày làm việc tăng lên so với kỳ gốc

-

Công tác cung ứng vật liệu đầu vào được doanh nghiệp thực hiện tốt hơn
về mặt số lượng cũng như chất lượng
36

-

Trong kỳ , vào mùa cao điểm của sản xuất doanh nghiệp thường bị thiếu
công nhân nên doanh nghiệp yêu cầu công nhân làm thêm vào ngày thứ
bảy

-

Doanh nghiệp thành lập đội sửa chữa máy móc thiết bị tại ngay phân
xưởng sản xuất do chính các công nhân có chuyên môn về máy móc thực
hiện nên các sự cố hỏng hóc thông thường , không quá khó về máy móc
thiết bị được khắc phục ngay tại chỗ đã giúp cho số giờ máy móc thiết bị bị
hỏng giảm đi

-

Công tác tổ chức nơi làm việc của doanh nghiệp có nhiều tiến bộ

-

Việc phối hợp giữa các bộ phận sản xuất được tiến hành ăn khớp hơn với
nhau , không còn tình trạng bộ phận này phải chờ bộ phận kia nên đã làm
giảm số giờ lãng phí trong lúc sản xuất

-

Bộ phận quản đốc phân xưởng giám sát chặt chẽ quá trình làm việc của
công nhân , công nhân làm việc tập trung hơn , tình trạng làm việc riêng
không còn tái diễn do đó số giờ làm việc của công nhân cũng như của máy
móc thiết bị cũng được tăng lên

-

Ngay từ đầu năm kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã chú trọng đến công tác
đào tạo công nhân, nâng cao tay nghề cho họ

-

Do đó,doanh nghiệp cần tiếp tục phát huy và duy trì thông qua thực hiện
một số biện pháp:

-

- Để từng bước hiện đại hoá, mở rộng sản xuất doanh nghiệp cần mua sắm thêm

những trang thiết bị. Đồng thời cần lưu ý đặc điểm về kỹ thuật và công nghệ sản xuất sản
phẩm nâng cấp công nghệ thiết kế quy trình công nghệ.
-

- Lập kế hoạch chủ động bảo dưỡng máy móc thiết bị, sửa chữ đúng kỳ
hạn, làm tăng chất lượng máy móc thiết bị dài lâu.

-

- Thực hiện chế độ đãi ngộ hợp lý với công nhân, khen thưởng kịp thời
những người làm tốt cũng như kiểm điểm hay phạt những người vi phạm
37

qui định của doanh nghiệp... để luôn duy trì tính tổ chức, kỷ luật cao trong
doanh nghiệp.
-

- Cần chú trọng công tác tổ chức, quản lý lao động sao cho đạt được hiệu
quả cao nhất, quan tâm tới công tác bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ
cho công nhân đảm bảo đáp ứng được yêu cầu sản xuất ngày càng cao.

-

- Phân công lao động phải phù hợp với trình độ, năng lực để người lao
động có thể phát huy hết khả năng của mình.

-

- Trước khi sửa chữa phải có kế hoạch, dự trù cụ thể, tránh tình trạng kéo
dài, dàn trải làm ảnh hưởng đến sản xuất.

-

- Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát đối với công nhân, thực hiện hình thức

khoán sản phẩm nhằm tăng năng suất lao động..., đồng thời có những hình thức khen
thưởng đối với những công nhân có thành tích tốt.
-

- Thực hiện tiết kiệm triệt để nhằm tránh tình trạng mất điện mất nước gây gián

đoạn giờ làm việc, ngày làm việc.
-

- Kiện toàn lại bộ máy tổ chức, cắt giảm một số lao đông dư thừa, kém
trình độ, số nhân viên phục vụ tại các phòng ban cũng nên cắt giảm.

-

- Công ty giải quyết chế độ chính sách cho người đủ tuổi về hưu, chuyển cơ quan

về chế độ.
-

- Cải tạo và xây mới hệ thống nhà xưởng.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần có kế hoạch tuyển dụng những lao động giỏi,

có tay nghề cao để đảm bảo đạt được kết quả lao động cao. Các cán bộ lãnh đạo, quản lý
của doanh nghiệp luôn phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm gương cho công nhân,
quan tâm đến đời sống của nhân viên, tạo niềm tin cho người lao động trong doanh
nghiệp để họ làm việc tốt hơn, nhiệt tình hơn. Và điều quan trọng là tạo được một tập thể
đoàn kết, vững chắc thì mới có thể phát triển lâu dài được.
-

38

- PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
-

I) KẾT LUẬN

-

Kết quả sản xuất kinh doanh là kết quả của cả một quá trình do nhiều
nguyên nhân khách quan, chủ quan tác động. Thông qua tiến trình phân
tích kết quả kinh doanh giúp cho các nhà quản trị có cái nhìn tổng quan,
tường tận mọi nguồn gốc vấn đề: như những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả
kinh doanh gồm những yếu tố nào, yếu tố biến động ra sao, nguyên nhân
của sự biến động, nguyên nhân nào là chủ quan, nguyên nhân nào là khách
quan, nguyên nhân nào là trọng yếu, những biện pháp khắc phục tương
ứng với từng nguyên nhân là gì...Qua phân tích có rất nhiều vấn đề được
hé mở, những nhận xét đánh giá trong phân tích đòi hỏi phải xác thực,
khách quan, người tiến hành phân tích phải là người có chuyên môn, có cái
nhìn rộng, bao quát… Có như vậy, những lời nhận xét, đánh giá trong bản
phân tích mới có hiệu quả cao, có phạm vi sử dụng rộng rãi, có sự tham
mưu cho các cấp lãnh đạo một cách chuẩn xác.

-

Thực hiện phân tích chỉ tiêu doanh thu theo mặt hàng và chỉ tiêu giá trị sản
xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị giúp em nghiệm ra rất
nhiều bài học. Kết quả nhận xét được rút qua bài phân tích này có thể tóm
lược như sau:

-

Doanh nghiệp có tình hình sản xuất trong năm tốt. Doanh thu của toàn
doanh nghiệp năm nay tăng nhiều so với năm trước.. Nhìn chung doanh
thu của doanh nghiệp tăng do doanh thu của các mặt hàng tăng nhanh hơn
so với kỳ gốc. Sự biến động này có thể giả định một số nguyên nhân sau:

-

1.Doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm nhiều máy móc
thiết bị hiện đại và tiên tiến hơn.

39

-

2.Doanh nghiệp chú trọng đến công tác tiêu thụ sản phẩm, công tác bán
hàng

-

3. Trong kỳ, doanh nghiệp tuyển thêm nhiều nhân công với tay nghề cao,
tuyển thêm nhiều nhân viên bán hàng. Đồng thời, doanh nghiệp nâng cao
trình độ của công nhân viên bằng cách cử một bộ phận nhân viên đi học
nâng cao trình độ chuyên môn.

-

4. Doanh thu của một số mặt hàng tăng nhanh hơn so với kỳ gốc. Do
doanh nghiệp đã chú trọng đến chất lượng của sản phẩm

-

5. Doanh nghiệp chưa làm tốt công tác quản lý vật tư, công tác thu mua
phế liệu dẫn đến chi phí nguyên vật liệu tăng.

-

Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác làm ảnh hưởng đến tình hình
thực hiện doanh thu và chi phí của doanh nghiệp.

-

II) KIẾN NGHỊ

-

Những nguyên nhân trên vừa tác động tích cực, tiêu cực đến doanh nghiệp.
Để phát huy hay khắc phục những nguyên nhân trên, em xin mạnh dạn đề
ra một số biện pháp cho doanh nghiệp như sau:

-

1. Tăng cường đầu tư máy móc thiết bị, đặc biệt là phương tiện vận
chuyển, chú trọng đến tính kinh tế khi sử dụng các phương tiện này, đảm
bảo tiết kiệm nhiên liệu.

-

2. Nâng cao ý thức làm việc của nhân viên bán hàng, gắn lợi ích của họ
vào lợi ích của doanh nghiệp. Phải cho họ hiểu rằng khi tình hình doanh
thu có tiến triển tốt thì bản thân người lao động là người được hưởng lợi
trực tiếp đầu tiên. Từ đó họ gắng sức làm việc thúc đẩy việc tăng doanh
thu.

-

3.Cần có chiến lược trả lương thích đáng, và theo em hình thức trả lương ở
bộ phận bán hàng cần xác định theo mức sản phẩm dịch vụ tiêu thụ được,
40