Tải bản đầy đủ
Chương 3 NÂNG CAO HIệU QUả VIệC áP DụNG NHữNG QUY ĐịNH CủA Bộ luật Hình sự đối với các tội phạm về môi trường

Chương 3 NÂNG CAO HIệU QUả VIệC áP DụNG NHữNG QUY ĐịNH CủA Bộ luật Hình sự đối với các tội phạm về môi trường

Tải bản đầy đủ

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Chương 3
NÂNG CAO HIệU QUả VIệC áP DụNG
NHữNG QUY ĐịNH CủA Bộ luật Hình sự
đối với các tội phạm về môi trường

3.1. Sự CầN THIếT PHảI NÂNG CAO HIệU QUả áP DụNG NHữNG QUY
ĐịNH CủA Bộ luật Hình sự đối với các tội phạm về môi trường

Trong những năm qua, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính
thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra một giai đoạn mới
trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, tạo ra những thuận lợi
lớn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta. Bên cạnh việc
tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nước ta về cơ bản là ổn định.
Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và tiềm lực kinh tế tiếp tục được tăng cường,
quan hệ quốc tế không ngừng được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình hội nhập kinh tế sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới thì
cũng nảy sinh nhiều vấn đề thách thức, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường.
Việc phát triển kinh tế - xã hội, không những làm cho môi trường bị ô nhiễm
mà còn gây cạn kiệt nguồn tài nguyên, thiên nhiên. Các khu công nghiệp, làng
nghề, khu đô thị được hình thành nhanh chóng làm cho nguồn rác thải công
nghiệp cũng như rác thải sinh hoạt đưa vào môi trường ngày càng nhiều, gây
ô nhiễm không khí, đất, nước. Hầu hết các khu công nghiệp chưa có hệ thống
xử lý môi trường tập trung hoặc có nhưng không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật; việc
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất xả nước thải trực tiếp ra sông, biển là khá
phổ biến. Tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức
phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong nước, kể cả thiết bị công nghệ lạc hậu
dẫn đến nguy cơ biến nước ta thành bãi thải công nghiệp. Tình trạng săn bắt,
buôn bán động vật quý hiếm xảy ra hết sức nghiêm trọng, làm giảm tính đa
dạng sinh học; số vụ ngộ độc thực phẩm, ngộ độc hoá chất bảo vệ thực vật

102

tăng nhanh làm cho tình hình tội phạm về môi trường và vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường ở Việt Nam gia tăng một cách nhanh chóng trong những năm
qua.
Trong thời gian tới, tình hình tội phạm về môi trường tiếp tục diễn
biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ vi phạm.
Nhóm tội gây ô nhiễm môi trường đối với nguồn đất, nguồn nước do hành vi
thải trực tiếp các chất thải nguy hại ra môi trường, đặc biệt ở các khu đô thị,
khu công nghiệp, các vùng ven biển và các lưu vực sông, các làng nghề. Các
hoạt động nhập khẩu thiết bị, công nghệ lạc hậu, phế liệu không tuân thủ ác
quy trình, tiêu chuẩn môi trường đã và đang gây suy thoái, huỷ hoại môi
trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoả của con người, làm mất ổn
định trật tự an toàn xã hội. Tình hình buôn lậu động vật, thực vật hoang dã
xuyên quốc gia đang có chiều hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi,
phương tiện hoạt động hiện đại. Việc khai thác có tính chất huỷ diệt đối với
nguồn lợi sinh vật trên cạn và dưới nước; nạn chặt phá rừng, săn bắn, buôn bán
lâm sản và cá loài động vật hoang dã, quý hiếm chưa được ngăn chặn. Tình
trạng trên đây đang là những thách thức lớn đối với công tác bảo vệ môi
trường ở nước ta hiện nay, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có những biện
pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.
Đặc biệt, trong lúc nền kinh tế toàn cầu đang trong thời kỳ khủng
hoảng, giá cả trên thị trường thế giới có những biến động, nạn dịch bệnh mới
xuất hiện, những diễn biến bất thường về thời tiết và khí hậu, sự chống phá
của các thế lực thù địch gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ phát
triển đất nước. Nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Nguy cơ tụt
hậu hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn đang
tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn còn
nghiêm trọng. Trong nền kinh tế thị trường, cùng với cơ hội làm ăn kinh tế
tăng lên nhưng bên cạnh đó vì mục đích lợi nhuận, lợi ích kinh tế là trên hết

103

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

mà một số người đã bất chấp tất cả để duy trì sự tồn tại, để làm giàu kể cả
việc thực hiện hành vi phạm tội.
Trong thời gian qua, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung
và áp dụng những quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về môi
trường nói riêng đã có những đóng góp quan trọng vào việc giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
dân. Tuy nhiên, việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự đối với
các tội phạm về môi trường cũng bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém, chưa
đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện
nay, còn nhiều khó khăn vướng mắc trong áp dụng pháp luật về bảo vệ môi
trường, từ đó làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Do đó, để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự nói chung,
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội
phạm về môi trường nói riêng là yêu cầu mang tính cấp thiết hiện nay. Ngoài
những yêu cầu mang tính định hướng trên, sự cần thiết nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường
còn xuất phát trên những cơ sở sau:
+ Về yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp.
Nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến việc cải
cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, nhằm đáp ứng tốt yêu
cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay và thời
gian tới. Các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về vấn đề này trong
những năm qua được thể hiện qua Nghị quyết số 08/NQ-TƯ ngày 02-01-2002
của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới", Nghị quyết số 48/NQ-TƯ ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị "Về
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020", Nghị quyết số 49/NQ-TƯ của Bộ Chính trị

104

"Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020". Nghị quyết số 41-NQ/TW
của Bộ Chính trị (ngày 15/11/2004) xác định rõ quan điểm, mục tiêu và
nhiệm vụ bảo vệ môi trường:
Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của
nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của
nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội,
ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế
quốc tế của nước ta. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một
trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể
hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển
kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phuơng [19].
Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Chính phủ đã ra
Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP về tăng cường công tác phòng chống tội phạm
trong tình hình mới. Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 138/CP
để chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm
trong thời gian tới. Ngày 8-11-2004, Thủ tướng Chính phủ cũng có chỉ thị số
37/2004/CT-TTg về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP và
Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010.
Tại Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho từng Bộ,
Ngành, Chính quyền địa phương trong việc tổ chức, phối hợp đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Ngày 22/2/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Chương trình hành động để thể chế hoá các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện
Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị trong những nhiệm vụ trọng tâm có
nhấn mạnh:
Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý
nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các bộ, ngành và các địa phương;
tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong
việc bảo vệ môi trường. Kiện toàn tổ chức quản lý môi trường ở các

105

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

bộ, ngành; xác định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bảo vệ môi
trường trong cơ cấu, tổ chức của bộ, ngành; nâng cao năng lực quản
lý bảo vệ môi trường cho các bộ, ngành; tăng cường chức năng
nhiệm vụ của Bộ Công an trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ
môi truờng [19].
Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết trên, công cuộc cải cách tư pháp đã
được các cấp ủy, các tổ chức Đảng lãnh đạo thực hiện với quyết tâm cao đạt
được nhiều kết quả. Nhận thức được sự quan tâm của toàn xã hội đối với công
tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung, đối với các tội phạm về môi trường nói riêng đã
nâng lên một bước góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế.
+ Về yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội
phạm về môi trường nói riêng.
Sau khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước, tình hình tội phạm cũng có sự biến đổi
về số lượng, phạm vi, tính chất và mức độ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư
kinh doanh. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
biện pháp cấp bách tăng cường an ninh, trật tự an toàn xã hội, cùng các biện
pháp tăng cường quản lý Nhà nước thông qua việc củng cố, kiện toàn bộ máy,
tổ chức Nhà nước và hệ thống pháp luật. Chiến lược cải cách tư pháp đã được
đề ra và phổ biến rộng rãi, hàng loạt văn bản pháp quy được ban hành theo
nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, tình hình tội phạm đang có diễn biến phức tạp, nhóm các tội về môi
trường có xu hướng gia tăng. Không những vậy, có nhiều vụ vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường có tính chất hết sức nghiêm trọng, hậu quả ảnh

106

hưởng rộng lớn đối với người dân, làm mất ổn định tình hình trật tự an ninh
xã hội.
Các tội phạm môi trường đang có diễn biến phức tạp. Hành vi phạm
tội ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn, thực hiện bằng nhiều phương
pháp và thủ đoạn khác nhau. Có nhiều nguyên nhân làm phát triển loại tội này
trong đó có nguyên nhân từ tác động của nền kinh tế thị trường. Trong cơ chế
kinh tế thị trường, vì mục đích lợi nhuận, lợi ích kinh tế là trên hết. Chính vì
vậy, nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội nảy sinh, các giá trị đạo đức,
chuẩn mực truyền thống bị phá vỡ. Tính chất cạnh tranh gay gắt đã xuất hiện
sự đua chen, đố kỵ, sống thực dụng, chạy theo đồng tiền hám lợi ở một bộ
phận không nhỏ trong nhân dân. Người thực hiện tội phạm này cũng chịu ảnh
hưởng và trong họ xuất hiện tâm lý tiêu cực dẫn đến cố ý vi phạm phạm pháp
luật, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Mặt khác,
trong cơ chế thị trường, dư luận xã hội nhạy bén hơn, công khai hơn nhưng
cũng bộc lộ một số biểu hiện tiêu cực trong dư luận xã hội. Trong xã hội hiện
nay, nhìn chung dư luận chưa thật sự quan tâm và chưa có thái độ quyết liệt
trong việc góp phần đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
môi trường, không ít người còn thờ ơ trước hành vi vi phạm pháp luật về môi
trường. Bên cạnh đó, một số bộ phận dân cư còn có trình độ nhận thức hạn
chế và sự kém hiểu biết, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật và đặc biệt là pháp
luật về bảo vệ môi trường. Cùng với chính sự bất cập của pháp luật trong việc
quản lý xã hội đã dẫn đến thái độ tâm lý tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, coi
thường pháp luật về bảo vệ môi trường.
Những tồn tại trong đấu tranh phòng, chống tội phạm là trách nhiệm
của toàn xã hội, từ người dân đến tổ chức, cơ quan nhà nước. Trong đó, trách
nhiệm chính và chủ yếu xuất phát từ phía các cơ quan tư pháp. Về phía Cơ
quan Công an, dù đã được tranh bị đầy đủ kiến thức, công cụ, phương tiện...
nhưng hoạt động phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về môi trường

107

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

nói riêng vẫn còn chưa đạt hiệu quả cao. Về phía Viện kiểm sát, công tác truy
tố tuy kịp thời nhưng quá trình kiểm sát điều tra chưa thực sự đạt hiệu quả
không phát hiện hoặc thiếu triệt để trong việc định hướng điều tra, sợ trách
nhiệm dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Về phía Tòa án, việc xét xử kịp thời các vụ án
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã góp phần to lớn vào việc đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Tuy vậy, việc xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường bằng pháp luật hình sự còn hạn chế đã không đem lại tác dụng
giáo dục, răn đe người phạm tội.
Mặt khác, hoạt động tuyên truyền giáo dục những quy định của pháp
luật về các tội phạm môi trường còn kém hiệu quả. Công tác tuyên truyền
nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác cho nhân dân chưa được các cấp, các
ngành thực hiện thường xuyên, có chiều sâu và bề rộng. Do đó, cần thiết phải
nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự đối với
các tội phạm về môi trường, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội
phạm nói chung, tội phạm về môi trường nói riêng.
+ Về yêu cầu phải khắc phục những yếu kém của việc áp dụng những
quy định của pháp luật hình sự về tội phạm môi trường.
Trong thời gian qua, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố
gắng trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội
phạm về môi trường. Tuy nhiên, thời gian qua, chất lượng công tác tư pháp
nói chung, hoạt động áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về các tội
phạm môi trường nói riêng chưa đáp ứng với yêu cầu và đòi hỏi của Đảng và
Nhà nước cũng như niềm tin của người dân.
Trong công tác điều tra, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các biện
pháp nghiệp vụ trinh sát với công tác điều tra tố tụng. Trong công tác kiểm sát
điều tra và thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên nhiều khi chỉ chú trọng
kiểm sát hồ sơ về tố tụng mà chưa thật sự sắc sảo trong nội dung vụ án để từ
đó định hướng điều tra, phối hợp điều tra các hành vi phạm tội. Nhiều vụ án

108

đưa ra truy tố trước Tòa chậm. Việc đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với
các hành vi phạm tội không đồng đều, cùng một hành vi phạm tội giống nhau
nhưng mức hình phạt đựoc đề nghị áp dụng khác nhau. Trong công tác xét xử,
tại phiên tòa, việc xét xử vẫn mang tính hình thức, có nhiều hạn chế, vai trò
của Hội thẩm nhân dân chưa được phát huy. Các Thẩm phán nhiều khi không
đảm bảo được nguyên tắc độc lập xét xử. Những vụ án phức tạp, án điểm, có
nhiều sức ép, Hội đồng xét xử không thực hiện được quyền tự quyết mà phải
quyết định theo chỉ đạo từ trước. Một số Tòa án áp dụng không đúng những
điều khoản của Bộ luật Hình sự, xử phạt quá nhẹ hoặc quá nặng, chưa đảm
bảo sự nghiêm minh của pháp luật cũng như chính sách pháp luật hình sự.
Nguyên nhân của tình trạng này là do đánh giá không đúng tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, việc xác định tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không chính xác. Vì vậy, yêu
cầu phải khắc phục những yếu kém của việc áp dụng những quy định của
pháp luật hình sự về tội phạm môi trường là đòi hỏi cấp thiết hiện nay.
3.2. CáC GIảI PHáP NÂNG CAO HIệU QUả áP DụNG NHƯNG QUY ĐịNH
CủA Bộ luật Hình sự đối với các tội phạm về môi trường

Thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về cải
cách tư pháp và trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, có thể đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của Bộ
luật Hình sự đối với nhóm các tội phạm về môi trường, nhằm đáp ứng yêu cầu
đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội phạm về môi trường
nói riêng.
3.2.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về các tội
phạm về môi trường
Đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ chế quản lý
chưa thật đồng bộ, chính sách kinh tế-xã hội còn nhiều sơ hở, thiếu sót. Hệ

109

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

thống pháp luật của chúng ta tuy đã có nhiều về số lượng, thay đổi về chất
lượng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm
đặc biệt là các tội phạm về môi trường. Hiện nay, nước ta đã gia nhập WTO,
chúng ta cần có hệ thống pháp luật đầy đủ để điều chỉnh mọi mặt của đời sống
xã hội, phục vụ cho quản lý kinh tế và quản lý xã hội.
Việc không ngừng ban hành và sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật
hình sự về đấu tranh phòng, chống tội phạm một cách toàn diện, kịp thời và
chặt chẽ sẽ nâng cao được hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện cải cách
tư pháp và đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện nay, việc nghiên cứu
để tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự
cho phù hợp với tình hình thực tiễn cũng là điều cần thiết và quan trọng. Bởi
lẽ, cùng với việc đổi mới pháp luật nói chung thì việc đổi mới pháp luật hình
sự Việt Nam chính là một trong nhiều yếu tố cơ bản mà thiếu nó thì việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền không thể thành công, các quy định của pháp luật
hình sự chính là những căn cứ pháp lý chủ yếu và quan trọng nhất của Nhà
nước pháp quyền để đấu tranh chống tội phạm và xử lý nghiêm minh những
người phạm tội.
Trên cơ sở phân tích những quy định về các tội phạm môi trường,
những vướng mắc mà thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này đặt ra
cho khoa học pháp lý hình sự phải nghiên cứu giải quyết như:
- Trong cấu thành tội phạm về môi trường (tr-íc khi söa ®æi) phần lớn
đòi hỏi phải có đồng thời ba yếu tố mới xử lý hình sự được: (1) thải chất
gây ô nhiễm môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép; (2) hành vi thải
chất gây ô nhiễm môi trường trước đó phải bị xử phạt vi phạm hành
chính nhưng cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục; (3) gây
hậu quả nghiêm trọng. Quy định này hạn chế khả năng truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với các tội phạm này, bởi lẽ, việc chờ hội tụ đủ cả 3 yếu

110

tố nói trên là rất khó khăn, nhất là trong việc xác định hậu quả về môi
trường. Có nhiều trường hợp hậu quả không thể xảy ra ngay mà sau một
thời gian dài, có thể vài chục năm, khi đó thì đã hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, nếu các cơ quan quản lý nhà nước về
môi trường và chính quyền các cấp không nhận thức đầy đủ về quyền
năng và trách nhiệm của mình trong việc quản lý nhà nước về môi
trường, không phát hiện và xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền
thì các cơ quan tố tụng cũng không thể xử lý hình sự các tội phạm này
được. Vấn đề này ngày 19-6-2009, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 0101-2010), trong đó đã loại bỏ tình tiết bắt buộc là "đã bị xử phạt hành
chính" ở một số điều luật. Một số điều luật chỉ cần có hành vi vi phạm ở
mức độ nghiêm trọn là đã đủ cấu thành tội phạm.
- Tuy nhiên, trong cấu thành của các điều luật, các khái niệm định tính,
định lượng "ô nhiễm nghiêm trọng", "mức độ nghiêm trọng", "gây hậu
quả nghiêm trọng", " rất nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng", "đặc
biệt nghiêm trọng khác", "số lượng lớn", "số lượng rất lớn", "đặc biệt
lớn" "…về hành vi này mà còn vi phạm" v.v... chưa có hướng dẫn tiêu
chí đánh giá cụ thể nên không có căn cứ áp dụng trong truy tố, định tội
danh và khung hình phạt (trừ một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội
phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản có
Thông tư 19/2007/TTLT-BNN&PTNT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC
hướng dẫn thi hành). Mặt khác, với đặc điểm là cấu thành viện dẫn, tất
cả các điều luật về tội phạm môi trường của Bộ luật Hình sự được giải
thích làm rõ qua các luật chuyên ngành khác, thậm chí là các vấn đề
khoa học kỹ thuật, đồng thời liên quan đến trách nhiệm của nhiều ngành
khác nhau như tài nguyên môi trường, công thương, nông nghiệp phát
triển nông thôn, y tế v.v… trong khi hệ thống văn bản pháp luật của các
ngành này chưa được đồng bộ, việc phối hợp, thống nhất giữa các ngành
không phải lúc nào cũng thuận lợi.

111

Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

- Ngoài ra, trong thực tiễn đã nảy sinh một số loại vi phạm các quy
định về bảo vệ môi trường theo điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có
khả năng gây hậu quả lớn cho sức khoẻ con người, nhưng hiện tại vẫn chưa
được quy định trong luật hình sự, như: hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt
chuẩn cho phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xác định là khu vực cấm do mức độ nguy hiểm về môi trường đối với sức
khoẻ và tính mạng của con người; hành vi cản trở hoạt động bảo vệ môi
trường…
- Một số tội phạm đã được quy định tại các chương khác của Bộ luật
Hình sự 1999 nhưng có liên quan trực tiếp đến môi trường, như Điều 172 (Tội
vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên), Điều 175
(Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng). Quá trình lập pháp
xác định khách thể chính bị xâm hại là trật tự quản lý kinh tế, nhưng thực tế
cho thấy hậu quả nghiêm trọng, trước nhất của các tội phạm này là rừng bị
huỷ hoại, nguồn tài nguyên bị cạn kiệt, xâm hại trực tiếp đến an ninh môi
trường. Do vậy cũng cần thiết phải nghiên cứu để điều chỉnh, đưa một số điều
thuộc các chương khác của Bộ luật Hình sự về chương tội phạm môi trường
cho phù hợp với yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm môi trường.
- Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Hình sự quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá
nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân. Vì vậy
đây là lỗ hổng của pháp luật cần phải sửa đổi, bổ sung để thiết lập chế định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vi vi
phạm của các tổ chức, doanh nghiệp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
ngày một gia tăng trong điều kiện hiện nay.
Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế như đã nêu trên, chúng tôi
xin đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật hình sự hiện hành
về các tội phạm về môi trường như sau:

112