Tải bản đầy đủ
PHỤ LỤC 2:NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 1986-2011

PHỤ LỤC 2:NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 1986-2011

Tải bản đầy đủ

46

NỢ NƯỚC NGOÀI (%GDP)

NỢ NƯỚC NGOÀI
(%GDP)

GIAI ĐOẠN 1986-2011

TỶ LỆ

200
180
160
140
120
100
80
60
40
20
0

GIAI ĐOẠN

1986

1987-1990 1991-1996 1998-1999 2000-2005 2006-2011

Nguồn: Chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB, các chỉ số kinh tế và tài
chính của ADB
Theo hình PL 2.1, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng lên rất nhanh trong nửa cuối
thập niên 80, phần lớn số dư nợ này là những khoản vay từ Liên Xô (cũ), Trung
Quốc và các nước XHCN Đông âu; ngoài ra còn có một số khoản vay của một số tổ
chức tài chính quốc tế. Sau đó số nợ tăng chậm lại trong nửa đầu thập niên 90, số nợ
tồn đọng phát sinh cho đến cuối năm 1990 là 23,27 tỷ USD chủ yếu từ các khoản
vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong những năm kinh tế khó khăn lúc đó. Và do chủ
yếu phục vụ tiêu dùng nên số vốn vay nước ngoài khi đó không có khả năng tái tạo
ra nguồn thu nhập, nhất là thu nhập ngoại tệ, để trả nợ nước ngoài. Bên cạnh vay
cho tiêu dùng, còn có một số khoản vay để đầu tư như phát triển giao thông, bưu
điện, văn hoá, thông tin, xã hội, y tế và phục vụ an ninh quốc phòng, nhưng hiệu
quả đầu tư thấp, thời hạn thu hồi vốn quá lâu nên cũng không có khả năng tạo
nguồn thu nhập để trả nợ. Chính vì vậy mà số nợ nước ngoài thời kỳ này đã tăng lên
rất nhanh. Hiệu quả sử dụng các khoản vay nợ thời kỳ này cũng khá yếu kém, trong
khi tỷ giá liên tục tăng lên làm cho giá trị nợ nước ngoài tính theo nội tệ ngày càng
lớn và làm cho nhiều doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ. Tình trạng nợ nước
ngoài quá cao cũng là một nguyên nhân quan trọng làm bùng nổ cuộc khủng hoảng

47

tín dụng và nợ năm 1990 vì các doanh nghiệp không còn tiền trả Ngân hàng nhà
nước và trả nợ Chính phủ, làm cho Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ không có
tiền trả nước ngoài. Tính chung cả nước, số khoản nợ không được hoàn trả đúng lộ
trình nêu trong hợp đồng vay nợ ngày càng tăng, làm tăng nhanh số nợ quá hạn và
làm giảm uy tín của đất nước đối với các chủ nợ.
Thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế 1991-2000 với đường lối
tăng cường hội nhập và mở cửa, từ năm 1991, Việt Nam đã bắt đầu triển khai các
hoạt động nhằm xử lý các khoản nợ quá hạn, đặc biệt là tham gia các vòng đàm
phán xử lý nợ quá hạn. Kết quả là đến năm 1993, các nước thành viên Câu lạc bộ
Paris đã đồng ý giảm 50% số dư nợ thương mại cho Việt Nam, đồng thời hoãn trả
nợ trong 23 năm. Nợ ODA cũng được hoãn trả trong 30 năm với lãi suất ưu đãi hơn
và thấp hơn so với lãi suất ban đầu. Đến năm 1997, Việt Nam đã đạt được thoả
thuận xử lý nợ qua Câu lạc bộ Luân Đôn kết quả giảm 53% nghĩa vụ nợ theo
phương án Brady qua hình thức như mua lại nợ, chuyển đổi nợ thành các trái phiếu
chiết khấu, chuyển đổi nợ thành trái phiếu ngang giá, chuyển đổi nợ thành trái phiếu
có lãi. Tháng 12/1997, Việt Nam đã hoàn tất được thỏa thuận giảm nợ là 672 triệu
USD, trong đó nợ lãi là 304 triệu USD của các Ngân hàng Thương Mại.
Nhờ 2 đợt xử lý nợ năm 1993 và 1997, đặc biệt là đợt năm 1997, và nhờ những cố
gắng trả nợ của Chính phủ, tình hình nợ nước ngoài bằng các loại ngoại tệ mạnh đã
được cải thiện rõ rệt. Tiếp đến tổng số nợ ổn định trong 2 năm 1998-1999. Rồi tiếp
tục giảm mạnh đến cuối năm năm 2000 số nợ là 12,82 tỷ USD. Từ năm 2001-2007,
nợ nước ngoài của Việt Nam tăng lên rất chậm. Từ năm 2007, Việt Nam đón nhận
một nguồn vốn lớn từ nước ngoài, nhưng ngân hàng nhà nước chưa có kinh nghiệm
trung hòa dòng tiền tăng đột biến này dẫn đến lạm phát và bong bóng trên thị
trường tài sản như thị trường chứng khoán và bất động sản. Trong dư nợ nước ngoài
của Chính phủ, khoản vay ODA là lớn nhất chủ yếu đến từ Nhật Bản, Ngân hàng
Thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á.

48

Nợ nước ngoài so với GDP năm 2011 là 32,65% < 45% mức an toàn theo các chỉ
tiêu quy định tại Quyết định số 231/2006/QĐ-TTg ngày 16 tháng 10 năm 2006 của
Thủ tướng chính phủ về xây dựng và quản lý hệ thống các chỉ tiêu đánh giá, giám
sát tình trạng nợ nước ngoài của quốc gia. Cho đến nay Việt Nam thành công trong
việc xử lý nợ đến hạn, khống chế được luồng nợ vay ngắn hạn, nhưng một số vấn
đề trong sử dụng và quản lý nợ ở nước ta còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết.
Thời gian qua tình trạng sử dụng vốn vay từ nợ nước ngoài và viện trợ chưa đúng
tiến độ và hiệu quả đầu tư thấp. Nếu tiếp tục xu hướng này và không có các biện
pháp kiểm soát và quản lý nợ có thể khiến nợ nước ngoài trở nên không an toàn.
Hình PL 2.2 : Đồ thị Cơ cấu dư nợ nước ngoài của chính phủ tính đến 31/12/2010

CƠ CẤU DƯ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ TÍNH ĐẾN 31/12/2010
0.30%
1.20%
SONG PHƯƠNG

7.25%

ĐA PHƯƠNG

46.66%

NGƯỜI NẮM GiỮ TRÁI PHIẾU
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CÁC CHỦ NỢ TƯ NHÂN KHÁC

44.59%

Nguồn: Bản tin số 7 nợ nước ngoài của Bộ Tài Chính
Với số nợ hiện tại, năm 2011 nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ nước ngoài của
Chính phủ, tính cả gốc và lãi khoảng 1,1 tỉ USD; tăng trong các năm tiếp theo nếu
không vay thêm đỉnh điểm lên đến trên 1,7 tỷ USD vào năm 2016.

49

2.2. Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1986-201112
Tình hình vay nợ nước ngoài do sự thiếu hụt về tiết kiệm trong nước thấp hơn so
với so với đầu tư cần thiết để đạt mức tăng trưởng kinh tế như mong muốn giai
đoạn 1986-2011 như sau:
Hình PL 2.3: Đồ thị Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1986-2011
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1986-2011
9

TỶ LỆ

8
7
6
5
4
3
2
1
0

GIAI ĐOẠN

1986-1990 1991-1995 1996-2000 2001-2005 2006-2010

2011

Nguồn: Chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB
Giai đoạn 1986-1990, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,8%/năm, đây là giai đoạn
chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước
quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và giải phóng sức sản xuất.
Giai đoạn 1991-1995, nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái,
đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8,2%, đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh
tế, bắt đầu đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
Giai đoạn 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy
mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặc dù chịu tác động của khủng
hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp Việt
Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.
2

Tổng hợp từ WB và phân tích của tác giả

50

Giai đoạn 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục,
tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,5%/năm, GDP theo giá hiện hành đạt 838 nghìn
tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người/năm đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với
640 USD.
Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 7%, dù khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng Việt Nam vẫn thu hút vốn đầu tư nước
ngoài cao, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.061USD. Việt Nam đã
chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu
chuẩn của Ngân hàng Thế giới. Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn
khoảng cách rất xa so với các nước trong Đông Nam Á, dù đã được cải thiện nhiều
do đổi mới và mở cửa từ năm 1985. Tuy nhiên, xét về nhiều mặt, động thái tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi
nguy cơ tụt hậu phát triển.
Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 5,89%; giảm sút chủ yếu do giảm sút của
khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Trong vài năm gần đây, nền kinh tế còn
bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng. Do đó cho
thấy sự cấp thiết của chính phủ trong việc hoạch định chính sách để thu hút mọi
nguồn lực từ khu vực tư nhân.
2.3 Nợ nước ngoài so với xuất khẩu giai đoạn 1986-2011 3
Hình PL 2.4: Đồ thị nợ nước ngoài so với xuất khẩu giai đoạn 1986-2011

51

NỢ NƯỚC NGOÀI SO VỚI XUẤT KHẨU

NỢ NƯỚC NGOÀI
SO VỚI XUẤT KHẨU

GIAI ĐOẠN 1986-2011
900.00

TỶ LỆ

800.00
700.00
600.00
500.00
400.00
300.00
200.00
100.00
0.00
19861989

19901993

19941999

20002005

20062008

2009- GIAI ĐOẠN
2011

Nguồn: : Chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB và tính toán của tác giả
Hình PL 2.4 cho thấy trong giai đoạn 1986-1989, tỷ lệ nợ nước ngoài trên xuất khẩu
rất cao (gần 800%); nguyên nhân là do xuất khẩu khi đó quá thấp và Việt Nam
Đồng bị đánh giá quá cao
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 1999, nhờ kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng
nhanh, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP đã liên tục giảm nhanh, đến năm 1999 tỷ lệ nợ
nước ngoài trên xuất khẩu chỉ còn 161.94%.
Tương tự như tổng số nợ trên GDP, tình hình đã thay đổi mạnh kể từ năm
2000 khi số nợ Liên xô cũ được xử lý. Tỷ lệ nợ nợ nước ngoài trên xuất khẩu từ
năm 2000 đến nay liên tục thấp hơn 80%, chỉ tiêu nợ nước ngoài so với xuất khẩu
nằm ở trong ngưỡng an toàn và có xu hướng giảm. Nếu như năm 2004, tỷ lệ này là
60.07% thì đến năm 2008, tỷ lệ này giảm xuống còn 35.16% . Đến năm 2011 chỉ ở
mức 40.46 %. 1

3

Tổng hợp từ WB và phân tích của tác giả

52

2.4 So sánh thâm hụt ngân sách các nước trong khu vực Đông Nam Á giai đoạn
2009-201114
Hình PL 2.5: Đồ thị Thâm hụt ngân sách các nước trong khu vực Đông Nam Á
giai đoạn 2009-2011
THÂM HỤT NGÂN SÁCH (% GDP) GIAI ĐOẠN 2009-2011

Malaysia, 6.53
Vietnam, 3.83
Philippines, 3.08
Thailand, 2.19
Indonesia, 1.42
-

1.00

2.00

3.00

4.00

5.00

6.00

7.00

Nguồn: chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB
Tiết kiệm ròng nội địa bao gồm tiết kiệm ròng khu vực Chính phủ và tiết kiệm
khu vực tư nhân. Thâm hụt ngân sách của Chính phủ mang dấu âm dai dẵng trong
thời gian dài từ 2000-2011 để phục vụ cho mô hình tăng trưởng đã đóng góp lớn
vào tỉ lệ tiết kiệm nội địa thấp. Trung bình trong ba năm 2009-2011, con số thâm
hụt ngân sách của Việt Nam đứng thứ hai so với các nước trong khu vực, vào
khoảng 4 % GDP/năm. Con số này cao gần gấp khoảng 3 lần so với con số tương
ứng của Indonesia, và xấp xỉ gấp 2 lần so với Thái Lan. Thâm hụt ngân sách tăng
cao là do Việt Nam thực hiện nhiều cam kết WTO và cam kết đa phương, song
phương về giảm thuế nhập khẩu thì nguồn thu ngân sách còn lại là nguồn thu từ
thuế đồng thời Chính phủ kích thích tiêu dùng và chi tiêu đầu tư công quá lớn trong
khi tiết kiệm nội địa còn hạn chế như đầu tư khu vực nhà nước hiệu quả rất thấp đã
làm tăng thâm hụt ngân sách nhà nước liên tiếp từ năm 2009-2011 khiến cho Chính
phủ Việt Nam phải bù đắp bằng các nguồn vốn. Nguồn để bù đắp cho thâm hụt
4

Tổng hợp từ WB và phân tích của tác giả

53

ngân sách nhà nước chủ yếu hiện nay từ nguồn: phát hành trái phiếu chính phủ và
vay nợ nước ngoài. Giai đoạn từ 2000-2011, nợ nước ngoài của Việt Nam tăng từ
25.6% lên tới 32,65%GDP
2.5 So sánh chỉ tiêu tiết kiệm, đầu tư, thương mại (%GDP) các quốc gia khu vực
Đông Nam Á từ 2006-2011
Hình PL 2.6: Đồ thị Tiết kiệm, đầu tư, thương mại (%GDP) các quốc gia khu vực
Đông Nam Á từ 2006-2011

SO SÁNH CHỈ TIÊU TIẾT KIỆM, ĐẦU TƯ, CHÊNH LỆCH TIẾT KIỆMĐẦU TƯ VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI (%GDP) TỪ 2006-2011
Tiết kiệm/GDP

50.00
40.00

Đầu tư/GDP

TỶ LỀ

30.00
Chênh lệch tiết
kiệm-Đầu
tư/GDP
Cán cân thương
mại/GDP

20.00
10.00
(10.00)

Indonesia

Malaysia

Philippines

Thailand

VietNam

QUỐC GIA

(20.00)

Nguồn: Chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB và tính toán của tác giả
Để đo lường hiệu quả đầu tư các nhà kinh tế thường lấy hệ số ICOR để đánh giá.
Theo Harrod – Domar để tăng trưởng kinh tế thì phải tăng tỷ lệ tích luỹ (tiết kiệm)
và giảm hệ số ICOR (tăng hiệu quả sử dụng vốn). 1
Hình PL 2.6 cho thấy chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư/GDP của Việt Nam giảm
mạnh -6.68% giai đoạn từ 2006-2011 đi kèm là thâm hụt thương mại cũng tăng là 10.45 %, trong khi các quốc gia trong khu vực có tiết kiệm ròng, thậm chí ở mức rất
cao như Malaysia 15.47%. Để nợ nước ngoài trong ngưỡng an toàn thì cần phải
5

Tổng hợp từ WB và phân tích của tác giả

54

nâng cao hiệu quả đầu tư trong nước, khuyến khích tiết kiệm toàn dân. Nếu xem xét
nợ nước ngoài trong quan hệ cán cán cân thương mại dưới góc độ xuất nhập khẩu
thì đây là một khoản vay mà các nhà đầu tư nước ngoài cho Chính phủ và người
tiêu dùng trong nước vay để thanh toán cho việc tiêu dùng quá mức, khi đó để giảm
nợ nước ngoài cần cải thiện cán cân thương mại, thực hiện các giải pháp gia tăng
xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tiết kiệm ròng của Việt Nam giảm nhiều đến
thế? Thực ra Việt Nam không phải là nước có tỉ lệ tiết kiệm thấp mà từ 2006-2011
tỉ lệ tiết kiệm trung bình của Việt Nam là 31,93% tương đương với Thái Lan và
Indonesia. Vậy nguyên nhân chính là tỉ lệ đầu tư nội địa ở mức quá cao. Việt Nam
đang duy trì tăng trưởng bằng cách dựa vào vốn đầu tư nhưng thiếu hiệu quả vì vậy
tổng đầu tư toàn xã hội liên tục tăng và duy trì ở mức cao để đạt mục tiêu về tăng
trưởng. Tỉ lệ đầu tư/GDP đã tăng từ 29,61% năm 2000 lên 35.01% năm 2011 bình
quân giai đoạn 2000-2011 là 36%, trong đó giai đoạn 2006-2011 tỉ trọng này là
38,61%, gấp đôi Malaysia và gần gấp rưởi Indonesia và Thái Lan, cho thấy nợ nước
ngoài là nguồn bổ sung cho khoảng chênh lệch tiết kiệm trong nước thấp và mức
đầu tư tăng cao.
2.6 Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1986-201116
Hình PL 2.8: Đồ thị Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1986-2011

6

Tổng hợp từ WB và phân tích của tác giả

55

LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN 1986-2011

Lạm phát
(năm %)

1,000
TỶ LỆ

800
600
400
200
1 98
6
198
7
1 98
8
1 98
9
1 99
0
199
1
1 99
2
199
3
1 99
4
1 99
5
1 99
6
199
7
1 99
8
1 99
9
2 00
0
2 00
1
2 00
2
200
3
200
4
2 00
5
2 00
6
2 00
7
2 00
8
2 00
9
201
0
2 01
1

NĂM

(200)

Nguồn: Chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB
Năm 1986 tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên 774,7% nền kinh tế rơi vào tình trạng
khủng hoảng trên nhiều mặt do cải cách giá, tiền lương và một loạt chính sách theo
hướng tự do hoá giá cả đã mở ra một giai đoạn lạm phát cao chưa từng có trong lịch
sử kinh tế Việt Nam. Đến năm 1987 lạm phát là 223,1% do chính phủ khuyến khích
nông dân sản xuất lúa gạo, hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng, nhiều hơn và đa dạng
hơn. Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm đến năm 1988 lạm phát là
393,8% Từ năm 1989 lạm phát được kiềm chế dần dần còn 34,7%, Việt Nam bắt
đầu xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn. Quá trình giảm phát giảm
nhanh, đến năm 1992 là 17,5% .Thời kỳ 1991-1999 được coi là giai đoạn phát triển
thành công của Việt Nam, gắn với hai nhiệm kỳ của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (từ
tháng 8 năm 1991 – tháng 9 năm 1997). Giai đoạn 1993-1997 là thời kỳ kinh tế Việt
Nam kiềm chế thành công lạm phát đồng thời lại tăng trưởng nhanh chóng. Việt
Nam đang từng bước chuyển đổi tuần tự sang kinh tế thị trường với nhiều cuộc điều
chỉnh giá hàng hoá và dịch vụ trong khu vực kinh tế nhà nước để thực hiện xoá bao
cấp qua giá, xu thế giảm phát ổn định đến năm 1997 tỉ lệ lạm phát là 3,21%. Sau đó,
kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm 1998-1999. Đến năm 2000-2001 rơi vào
tình trạng giảm phát. Trước tình hình này một kế hoạch kích thích kinh tế thông qua

56

nới lỏng tín dụng và mở rộng đầu tư nhà nước bắt đầu được thực hiện vào năm 2000
và tháng 11/2006 gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) duy trì chính sách
kích thích liên tục những năm sau đó thúc đẩy mức độ giao lưu thương mại, đầu tư
quốc tế và dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp tăng mạnh đã giúp nền kinh tế tăng
trưởng nhưng đây chính là nguyên nhân gây ra lạm phát năm 2007-2008. Thời gian
này nền kinh tế tăng trưởng thấp và lạm phát cao. Tháng 5 năm 2009, Chính phủ
tung ra gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 7 tỷ USD), sau đó tăng
lên 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD). Gói kích cầu có ảnh hưởng tốt nhất
định (kích thích tổng cầu tăng, dẫn tới tăng GDP), tuy nhiên cũng để lại nhiều hệ
lụy sau này: tạo bong bóng đầu cơ chứng khoán và bất động sản, lạm phát tăng cao,
thâm hụt ngân sách dẫn tới nợ nhà nước tăng cao, gây bất ổn định tỷ giá và bất ổn
định kinh tế vĩ mô. Ngày 25/11/2009 VND bị phá giá khoảng 5% và đến tháng 12,
Chính phủ phải tuyên bố dừng gói kích cầu . Trong năm 2011, lạm phát Việt Nam
tăng lên mức 22%. Nghị quyết số 11 được Chính phủ đưa ra thắt chặt tiền tệ, nhằm
mục tiêu giảm lạm phát. Theo đó, lãi suất ngân hàng tăng rất cao, các doanh nghiệp
(nhất là ở các lĩnh vực phi sản xuất) bị hạn chế cho vay. Cuối năm 2011 lạm phát
còn 18,68% cho thấy Nghị Quyết 11 đã phát huy tác dụng.
2.7 Các chỉ tiêu đánh giá¸giám sát tình trạng nợ nước ngoài
1. Tiêu chí của Ngân hàng thế giới đánh mức độ nợ của các quốc gia vay nợ:

STT

Chỉ số

Mức độ
bình thường

Mức độ
khó khăn

Mức độ
trầm trọng

1

Tỷ lệ % tổng nợ nước ngoài
so với GDP

 30%

30-50%

0%

2

Tỷ lệ % tổng nợ nước ngoài
so với kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa và dịch vụ

 165%

165-200%

200%

3

Tỷ lệ % nghĩa vụ trả nợ so với
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
và dịch vụ

 18%

18-30%

0%