Tải bản đầy đủ
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH

PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH

Tải bản đầy đủ

42

EXDX

Null Hypothesis: D(EXDX) has a unit root
Exogenous: None
Lag Length: 0 (Fixed)

Augmented Dickey-Fuller test statistic
Test critical values: 1% level
5% level
10% level

t-Statistic

Prob.*

-5.530076
-2.664853
-1.955681
-1.608793

0.0000

*MacKinnon (1996) one-sided p-values.

Variable

Coefficient

Std. Error t-Statistic

Prob.

D(EXDX(-1))

-1.141499

0.206417 -5.530076

0.0000

R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood

0.570749
0.570749
292.5990
1969127.
-169.8351

Mean dependent var -0.034167
S.D. dependent var
446.5987
Akaike info criterion 14.23626
Schwarz criterion
14.28534
Durbin-Watson stat
2.033734

Nguồn: Kết quả từ Eview 5.1

43

INF

Null Hypothesis: INF has a unit root
Exogenous: None
Lag Length: 0 (Fixed)

Augmented Dickey-Fuller test statistic
Test critical values: 1% level
5% level
10% level

t-Statistic

Prob.*

-8.389422
-2.660720
-1.955020
-1.609070

0.0000

*MacKinnon (1996) one-sided p-values.

Variable
INF(-1)

Coefficient Std. Error

t-Statistic

Prob.

-0.652783

0.077810 -8.389422

0.0000

R-squared
0.732622
Adjusted R-squared 0.732622
S.E. of regression
70.33258
Sum squared resid
118720.1
Log likelihood
-141.2941

Mean dependent var
S.D. dependent var
Akaike info criterion
Schwarz criterion
Durbin-Watson stat

-30.24080
136.0172
11.38353
11.43228
2.819601

Nguồn: Kết quả từ Eview 5.1

44

EXR

Null Hypothesis: EXR has a unit root
Exogenous: None
Lag Length: 0 (Fixed)

Augmented Dickey-Fuller test statistic
Test critical values: 1% level
5% level
10% level

t-Statistic

Prob.*

2.462674
-2.660720
-1.955020
-1.609070

0.9952

*MacKinnon (1996) one-sided p-values.

Variable

Coefficient Std. Error

t-Statistic

Prob.

EXR(-1)

0.046665 0.018949

2.462674

0.0214

R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood

Mean dependent
-0.298328 var
-0.298328 S.D. dependent var
Akaike info
1213.021 criterion
35314081 Schwarz criterion
-212.4849 Durbin-Watson stat
Nguồn: Kết quả từ Eview 5.1

825.5480
1064.575
17.07879
17.12755
1.204244

45

PHỤ LỤC 2:

NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1986-2011

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu kinh tế thế giới năm 2011 mặc dù đang
trên đà phục hồi nhưng nhìn chung vẫn chưa ổn định và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi
đến nền kinh tế nước ta. Nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
mặt về quản lý tài chính và công nghệ, thì Việt Nam luôn đối mặt với bốn sự thiếu
hụt kinh niên: sự thiếu hụt về tiết kiệm trong nước thấp hơn so với so với đầu tư cần
thiết để đạt mức tăng trưởng mong muốn. Sự thiếu hụt về ngoại tệ do xuất khẩu
thấp hơn so với nhập khẩu. Sự thiếu hụt trong ngân sách chính phủ và sự thiếu hụt
công nghệ. Trong bốn sự thiếu hụt này, sự thiếu hụt về ngoại tệ được được bù lại
bằng: Các khoản tiền gửi từ nước ngoài, đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài,
thu nhập từ khách du lịch, thu nhập và tài sản ròng từ nước ngoài và nợ nước ngoài.
Trong các khoản bù đắp này, nợ nước ngoài có khuynh hướng gia tăng và có nguy
cơ khủng hoảng nợ nếu vay mượn trong điều kiện lãi suất thế giới tăng tương đối so
với lãi suất trong nước, đồng tiền trong nước bị phá giá hay và lạm phát trong nước
cao tương đối so với thế giới hay các đối tác thương mại, xuất khẩu giảm và khoản
tiền đi vay này không được sử dụng hiệu quả. Nghiên cứu trình bày sơ lược tình
hình thực tiễn của các yếu tố vĩ mô nền kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn từ
1986-2011 như sau:1
2.1. Tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1986-2011 1
Hình PL 2.1: Đồ thị nợ nước ngoài (% GDP) giai đoạn 1986-2011

1

Tổng hợp từ WB, ADB và phân tích của tác giả

46

NỢ NƯỚC NGOÀI (%GDP)

NỢ NƯỚC NGOÀI
(%GDP)

GIAI ĐOẠN 1986-2011

TỶ LỆ

200
180
160
140
120
100
80
60
40
20
0

GIAI ĐOẠN

1986

1987-1990 1991-1996 1998-1999 2000-2005 2006-2011

Nguồn: Chính sách kinh tế và nợ nước ngoài của WB, các chỉ số kinh tế và tài
chính của ADB
Theo hình PL 2.1, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng lên rất nhanh trong nửa cuối
thập niên 80, phần lớn số dư nợ này là những khoản vay từ Liên Xô (cũ), Trung
Quốc và các nước XHCN Đông âu; ngoài ra còn có một số khoản vay của một số tổ
chức tài chính quốc tế. Sau đó số nợ tăng chậm lại trong nửa đầu thập niên 90, số nợ
tồn đọng phát sinh cho đến cuối năm 1990 là 23,27 tỷ USD chủ yếu từ các khoản
vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong những năm kinh tế khó khăn lúc đó. Và do chủ
yếu phục vụ tiêu dùng nên số vốn vay nước ngoài khi đó không có khả năng tái tạo
ra nguồn thu nhập, nhất là thu nhập ngoại tệ, để trả nợ nước ngoài. Bên cạnh vay
cho tiêu dùng, còn có một số khoản vay để đầu tư như phát triển giao thông, bưu
điện, văn hoá, thông tin, xã hội, y tế và phục vụ an ninh quốc phòng, nhưng hiệu
quả đầu tư thấp, thời hạn thu hồi vốn quá lâu nên cũng không có khả năng tạo
nguồn thu nhập để trả nợ. Chính vì vậy mà số nợ nước ngoài thời kỳ này đã tăng lên
rất nhanh. Hiệu quả sử dụng các khoản vay nợ thời kỳ này cũng khá yếu kém, trong
khi tỷ giá liên tục tăng lên làm cho giá trị nợ nước ngoài tính theo nội tệ ngày càng
lớn và làm cho nhiều doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ. Tình trạng nợ nước
ngoài quá cao cũng là một nguyên nhân quan trọng làm bùng nổ cuộc khủng hoảng