Tải bản đầy đủ
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam

Tải bản đầy đủ

11

hàng loạt, đột ngột. Các NHTM chỉ làm được điều này khi có đủ tiền và các tài sản lưu
động khác cũng như có khả năng huy động vốn nhanh chóng từ các nguồn khác nhau
để có thể đáp ứng khả năng chi trả cho người gửi tiền và các cam kết tài chính khác kịp
thời. Trong trường hợp ngân hàng bị rút tiền hàng loạt, đột ngột ngân hàng có thể đối
mặt với vấn đề thanh khoản. Trong trường hợp này bắt buộc các ngân hàng phải tăng
thêm các tài sản có tính thanh khoản bằng cách đi vay hoặc bán bớt những tài sản có
tính thanh khoản kém hơn, các khoản đi vay ngắn hạn thông thường có chi phí cao. Khi
ngân hàng bán tháo tài sản lưu động sẽ tạo ấn tượng cho các nhà đầu tư là ngân hàng
đang cố gắng bán các tài sản xấu do vậy nhà đầu tư sẽ trả giá thấp cho các tài sản lưu
động này nên ngân hàng sẽ bị lỗ. Cả hai trường hợp này đều có ảnh hưởng ngược chiều
lên lợi nhuận của ngân hàng. Điều này đã xảy ra ở Mỹ trong năm 2007 – 2008 giai
đoạn đầu của cuộc khủng hoảng tài chính hầu hết các ngân hàng trãi qua rút tiền hàng
loạt và thị trường cho vay liên ngân hàng bị đóng băng bởi vì sự mất niềm tin vào hệ
thống ngân hàng đây là kết quả của rất nhiều khoản cho vay dưới tiêu chuẩn và giá bán
của khoản vay dưới tiêu chuẩn giảm nghiêm trọng. Điều này đã gây khó khăn cho vấn
đề tái cấp vốn cho các khoản cho vay dưới tiêu chuẩn và việc vay mượn của ngân hàng
trở nên đắt đỏ.Vì vậy basel III đã đưa ra tỷ lệ thanh khoản an toàn yêu cầu các NHTM
phải có đủ tài sản lưu động có chất lượng cao.
Devinaga Rasiah (2010) kết luận rằng tỷ suất sinh lời của tài sản có tính thanh khoản
và dư thừa nguồn huy động - những nguồn vốn chưa được đầu tư ảnh hưởng ngược
chiều lên lợi nhuận của ngân hàng. Cũng chính vì lý do này mà việc quản lý thanh
khoản là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, cũng
không nhất thiết các ngân hàng phải nắm giữ một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi do chi
phí cơ hội của việc nắm giữ vốn là ngân hàng phải gánh chịu giảm doanh thu và lợi
nhuận. Ngân hàng càng có khả năng chuyển nguồn vốn huy động sang cho vay và đầu
tư càng nhiều thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao. Eichengreen và Gibson (2001)
cũng tìm ra bằng chứng cho thấy càng có ít nguồn vốn đầu tư vào tài sản có tính thanh

12

khoản cao thì lợi nhuận ngân hàng càng lớn. Tuy nhiên, khi LDR tăng cao cho thấy
ngân hàng cho thấy ngân hàn có ít hơn “tấm đệm” để tài trợ cho tăng trưởng và bảo vệ
mình khỏi nguy cơ rút tiền đột ngột nhất là những ngân hàng tăng trưởng dựa quá
nhiều vào nguồn vốn tiền gửi. Đặc biệt, khi LDR tăng đến một mức khá cao thì các nhà
quản trị ngân hàng ít muốn cho vay và đầu tư, hơn nữa, ngân hàng sẽ thận trọng và thắt
chặt tín dụng do đó lãi suất có chiều hướng tăng lên.
Công thức:

Tổng cho vay

LDR =
Tổng huy động
 Tổng cho vay gồm: cho vay khách hàng và cho vay các TCTD khác
 Tổng huy động gồm: huy động từ khách hàng, vay và huy động từ NHNN và
các TCTD khác, phát hành giấy tờ có giá.
 Tỷ lệ huy động vốn (DEP)
Đo lường lượng tiền gửi phù hợp với quy mô của ngân hàng. Ngân hàng có nguồn vốn
tự có nhỏ mà vốn huy động lớn có thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách hàng rút tiền
hàng loạt, ngược lại, nếu ngân hàng có vốn tự có lớn sẽ được phép huy động nguồn
vốn lớn. Nguồn vốn huy động có chi phí rẻ và là nguồn chính để ngân hàng đầu tư, cho
vay nhằm tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Do vậy theo Davydenko (2010), Guru và các
cộng sự (2002), Kosmidou (2006) có mối tương quan tích cực giữa lợi nhuận của ngân
hàng và tỷ lệ huy động vốn.
Công thức:

Tiền gửi khách hàng
DEP =
Tổng tài sản

 Rủi ro tín dụng (RR)

13

Đo lường chất lượng khoản cho vay. Các nghiên cứu trước đã cho thấy rủi ro tín dụng
là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Chất
lượng của khoản vay đóng vai trò rất quan trọng bởi khi danh mục cho vay có rủi ro
càng cao, nhiều khoản cho vay khách hàng mất khả năng thanh toán, thì ngân hàng
phải trích lập dự phòng càng nhiều do đó lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống. Vì vậy
chất lượng khoản vay quan trọng hơn số lượng. Theo kết quả nghiên cứu Duca và
McLaughlin (1990), Bourke (1989), Miller và Noulas (1997) có mối quan hệ nghịch
biến giữa rủi ro tín dụng với lợi nhuận ngân hàng. Trong nghiên cứu này tác giả cũng
dự đoán mối quan hệ nghịch biến giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng.
Công thức:

Dự phòng tín dụng

RR =
Tổng dư nợ cho vay
 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CA)
Đo lường sức mạnh của nguồn vốn ngân hàng. Tỷ lệ này là biện pháp an toàn vốn và
đạt được sự an toàn mức trung bình của tổ chức tài chính. Theo lý thuyết về cấu trúc
vốn nếu sử dụng nợ cao hơn phạm vi cho phép của vốn, gọi là cấu trúc vốn mục tiêu có
thể làm giảm (tăng) chi phí sử dụng vốn. Vì vậy việc ước tính vốn chủ sở hữu trên tài
sản hiệu quả làm tăng (giảm) hiệu quản quản lý cơ cấu vốn ngân hàng. Tỷ lệ vốn chủ
sở hữu cao làm giảm rủi ro của vốn chủ sở hữu do đó làm giảm suất sinh lời đòi hỏi
của các nhà đầu tư. Ngoài ra, tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao sẽ làm giảm lợi nhuận sau thuế
bằng cách sử dụng tấm chắn thuế do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế theo Staikouras
và Wood (2004).
Mặt khác, Molyneux và Thorton (1992), Williams, Molyneux và Thorton (1994) cho
thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận ngân hàng vì thực tế cho
thấy các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn và thị trường tài

14

sản tốt hơn do các ngân hàng này có ít rủi ro hơn. Hơn nữa, các ngân hàng có tỷ lệ vốn
cao duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay.
Công thức:

Vốn chủ sở hữu

CA =
Tổng tài sản
 Quy mô ngân hàng (BS)
Quy mô ngân hàng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng vì
trên thực tế các ngân hàng luôn tìm cách gia tăng tài sản và nguồn vốn để mở rộng hoạt
động kinh doanh bằng cách mở thêm nhiều chi nhánh hay phòng giao dịch. Vậy có tồn
tại một ngân hàng có quy mô tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận không? Theo Smirlock
(1985), Akhavein và các cộng sự (1997), Bourke (1989), Molyneux và Thornton
(1992) quy mô ngân hàng tăng trưởng có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận ngân hàng
do hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Hiệu quả kinh tế nhờ quy mô sẽ giúp các ngân hàng
gia tăng thị phần dẫn đến tăng tỷ suất sinh lợi, cung cấp các dịch vụ với chi phí rẻ hơn
làm tăng lợi nhuận. Mặt khác, một ngân hàng lớn hơn có nhiều sản phẩm hơn và các
hình thức tín dụng đa dạng hơn những ngân hàng nhỏ. Về lý thuyết, nếu lợi thế nhờ
quy mô tồn tại các tổ chức tài chính lớn hơn có thể cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn với
chi phí thấp hơn trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Và nếu chính phủ tạo ra
các rào cản nhằm hạn chế sự thành lập của ngân hàng mới (Như Việt Nam vào năm
1997) các ngân hàng lớn sẽ thu được lợi nhuận cao hơn theo nghiên cứu của
Athanasoglou P và các cộng sự (2006).
Ngược lại, cũng có những quan điểm cho rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa quy
mô ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng bởi vì chi phí hoạt động, chi phí hành chính và
còn nhiều loại chi phí phát sinh khác Dietrich và Wanzernied (2009). Quy mô ngân
hàng ảnh hưởng tiêu cực lên lợi nhuận của ngân hàng lớn nhưng có ảnh hưởng tích cực
lên lợi nhuận của ngân hàng nhỏ Vong và Chan (2009).

15

Công thức:
BS = logarit (tổng tài sản)
 Tỷ lệ chi phí lương và các chi phí nhân viên khác (OVRE1)
Bourke (1989) và Molynuex và Thorton (1992), Steinherr and Huveneers (1994) cho
rằng chi phí lương của nhân viên liên quan trực tiếp đến chi phí hoạt động của ngân
hàng , đây là khoản chi phí chiếm phần lớn chi phí hoạt động của ngân hàng. Lương
nhân viên và chi phí nhân viên khác có mối quan hệ nghịch biến với lợi nhuận của
ngân hàng.
Công thức:

Chi phí lương và các chi phí nhân viên khác

OVRE1 =
Tổng tài sản
1.3.2 Yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát trong quản lý của ngân
hàng. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng gián tiếp rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng.
Theo Karkrah và Ameyaw (2010) các biến kinh tế vĩ mô là thành phần chính tác động
đến lợi nhuận của ngân hàng. Các yếu tố vĩ mô được các nghiên cứu trước xác định
gồm lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP thực, cung tiền.
 Tốc độ tăng trưởng sản phẩm quốc dân thực(RGDP)
GDP đo lường sản lượng đầu ra của một nền kinh tế. GDP thực đo lường sự gia tăng
thực tế của hàng hóa dịch vụ của một quốc gia đã loại trừ yếu tố lạm phát. Các nghiên
cứu của Naceur (2003), Demirguc – Kunt (1999), Kosmidou (2008) đều cho rằng tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ làm tăng lợi nhuận ngân hàng ở nhiều quốc gia do tang
trưởng kinh tế thì các doanh nghiệp sẽ cần nhiều vốn hơn để tài trợ cho các hoạt động
của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng dẫn đến ngân

16

hàng tăng hoạt động tín dụng và hoạt động dịch vụ khác. Hơn nửa, trong tình hình kinh
tế phát triển hiệu quả tài chính doanh nghiệp tốt nên khả năng trả nợ cho ngân hàng cao
làm tăng lợi nhuận ngân hàng.
 Lạm phát (P)
Theo Kaya (2002) trong số các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng là tỷ
lệ lạm phát và thâm hụt ngân sách. Revel (1980) cho rằng lạm phát ảnh hưởng đến lợi
nhuận của ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau như lãi suất, giá cả, tỷ giá hối
đoái, chi phí tiền lương và chi phí hoạt động.... Perry (1992) cho rằng lạm phát ảnh
hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng phụ thuộc vào lạm phát kỳ vọng có được ngân
hàng dự đoán đầy đủ không. Nếu ngân hàng dự kiến được đầy đủ lạm phát hàng năm
khi đó ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất cho vay và lãi suất huy động phù hợp từ đó làm
tăng lợi nhuận của ngân hàng. Các nghiên cứu của các tác giả trước đưa ra kết luận tỷ
lệ lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất và lợi nhuận của ngân hàng trong dài hạn như
Bourke (1989), Molyneux và Thorton (1992), . Lạm phát cao sẽ làm lãi suất cho vay
cao và do đó lợi nhuận ngân hàng cao. Tuy nhiên nếu lạm phát không dự đoán được
cao và ngân hàng không điều chỉnh lãi suất kịp thời làm cho tốc độ chi phí tăng nhanh
hơn tốc độ tăng của doanh thu dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm sút.
 Cung tiền (M2)
Trong trường hợp tăng trưởng của thị trường, khi thị trường mở rộng có thể làm tăng
khả năng sản xuất và do đó làm tăng lợi nhuận của ngân hàng. Sự mở rộng thị trường
được đại diện bởi sự mở rộng của cung tiền và nó có quan hệ tích cực với lợi nhuận
của ngân hàng theo nghiên cứu của Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992),
Karkrah và Aaron Ameyaw (2010).
Tuy nhiên, Harvard Business Review (2008) cho rằng ngành ngân hàng càng phát
triển, sự mở rộng thị trường càng lớn thì cạnh tranh càng sâu sắc do đó lợi nhuận ngân
hàng sẽ giảm. Như vậy có sự tương quan nghịch biến giữa cung tiền và lợi nhuận của
ngân hàng.

17

1.3.3 Các yếu tố khác
 Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước
Ngân hàng là trung gian tài chính nối khu vực tiết kiệm và đầu tư do vậy những biến
động về kinh tế xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành ngân hàng.
Nếu môi trường kinh tế xã hội ổn định sẽ kích thích mở rộng quá trình sản xuất, kinh
doanh do đó nhu cầu vốn để sản xuất kinh doanh sẽ tăng cao, nền kinh tế phát triển tạo
điều kiện thuận lợi phát triển các hoạt động ngân hàng tín dụng và dịch vụ và nợ xấu
ngân hàng giảm do năng lực tài chính của doanh nghiệp được cải thiện. Ngược lại môi
trường kinh tế xã hội bất ổn sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của ngân hàng như
nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giảm, nguy cơ nợ xấu nợ quá hạn
tăng làm hiệu quả hoạt động của ngân hàng giảm sút.
 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và tính đầy đủ của hệ thống pháp luật. Sự
phát triển của nền kinh tế thị trường trong những năm qua đã cho thấy hệ thống pháp
luật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Nếu hệ thống luật pháp được
xây dựng không phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế sẽ trở thành rào cản kìm hãm
sự phát triển của kinh tế. Việt Nam vừa trải qua quá trình đổi mới kinh tế nên hệ thống
luật pháp của chúng ta chưa hoàn thiện, đồng bộ và còn nhiều thiếu sót nên đây cũng là
một rào cản đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Đồng thời Việt Nam cũng là
một thành viên trong quá trình toàn cầu hóa nên cần sớm sửa đổi các điều luật cho phù
hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi trường pháp lý hoàn chỉnh để giải quyết các tranh
chấp khiếu nại nếu có khi xảy ra. Như vậy, môi trường luật pháp có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, là cơ sở tiền đề để
ngành ngân hàng phát triển nhanh, bền vững.
 Hình thức sở hữu ngân hàng
Vermon (1971) đã nghiên cứu tác động của hình thức sở hữu ngân hàng lên lợi nhuận
của ngân hàng. Trong nghiên cứu của mình Vermon cho thấy có sự khác biệt giữa hình

18

thức quản lý và sở hữu. Bourke (1989) đã nghiên cứu tác động của sở hữu nhà nước
lên lợi nhuận ngân hàng và kết quả cho thấy có sự biến động cùng chiều. Sau đó
Molyneux và Thorton (1992) đã phát triển nghiên cứu của Bourke khi nghiên cứu
mười tám nước Châu Âu trong giai đoạn năm 1986 – 1989 cũng cho thấy quyền sở hữu
của chính phủ các ngân hàng Châu Âu có tác động tích cực lên chỉ tiêu ROE. Do vậy
có thể kết luận rằng ngân hàng tư nhân tạo ra lợi nhuận trên vốn thấp hơn ngân hàng
quốc doanh.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các nghiên cứu trước đây, hầu hết đều sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản
(ROA), lợi nhuận trên vốn sở hữu (ROE) là biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng được chia thành hai nhóm là các biến ảnh hưởng đến đặc
điểm nội tại của ngân hàng và các biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô.
Các yếu tố nội tại của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của nhà quản lý
gồm: tỷ lệ cho vay (LDR), tỷ lệ huy động vốn (DEP), rủi ro tín dụng (RR), tỷ lệ vốn
chủ sở hữu (CA), quy mô ngân hàng (BS), tỷ lệ chi phí lương và các chi phí nhân viên
khác (OVRE1).
Các yếu tố vĩ mô là các yếu tố không chịu ảnh hưởng của các quyết định quản lý của
ngân hàng gồm: tốc độ tăng trưởng sản phẩm quốc dân thực (RGDP), lạm phát (P),
cung tiền (M2).

19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
2.1

Giới thiệu về hệ thống NHTM Việt Nam

Trước những năm đổi mới 1986 nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống NHTM
nói riêng hoạt động không theo định hướng nền kinh tế thị trường. Vì vậy chỉ có
NHNN hoạt động với tư cách là công cụ điều hành chính sách của chính phủ. Tuy
nhiên Đại hội Đảng lần thứ sáu vào năm 1986 đã chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp
sang nền kinh tế thị trường. Chính điều này cũng đã dẫn đến sự thay đổi của hệ thống
NHTM Việt Nam.
Những bước phát triển quan trọng của hệ thống tài chính Việt Nam
Năm

Nội dung

Từ những NHTMCP được phép hoạt động, các NHNNg được phép tham gia
năm 1991

vào thị trường tài chính Việt Nam thông qua mở chi nhánh hoặc liên
doanh với các ngân hàng trong nước.

1993

Việt Nam bình thường hóa các quan hệ tín dụng với các TCTD quốc
tế (Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng
phát triển Châu Á (ADB)).

1995

Nghị quyết gỡ bỏ thuế doanh thu đối với Ngân hàng.

1997

Luật NHNN và luật các TCTD được Quốc hội thông qua.

1999

Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập.

2000

Tái cơ cấu về tổ chức và tài chính của ngân hàng quốc doanh và
NHTMCP. Công ty quản lý tài sản của từng ngân hàng được thành
lập.

2001

Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ được ký kết theo đó
thị trường tài chính và các ngân hàng của Việt Nam sẽ dần mở cửa;
vào năm 2010 các tổ chức tài chính Mỹ được đối xử ngang bằng với

20

các tổ chức tài chính Việt Nam.
2002

Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của các TCTD được tự do hóa
– đây là bước cuối cùng để hoàn toàn tự do hóa lãi suất của tổ chức
tín dung.

2003

Tái cơ cấu toàn diện hoạt động của các NHTM theo chuẩn quốc tế,
Ngân hàng chính sách được thành lập thay cho ngân hàng dành cho
người nghèo; Luật NHNN được sửa đổi.

2010

Luật mới của NHNN và Luật các TCTD được Quốc hội khóa 12
thông qua.

Kể từ đó hệ thống ngân hàng phát triển nhanh chóng về số lượng và đa dạng hóa về
hình thức sở hữu, bảng chi tiết sau:
Bảng 2.1 Cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2005 - 2013
Loại hình ngân hàng

2005

2007

2009

2011

2013

NHTM Nhà nước

5

5

5

5

5

NHTM Cổ phần

37

34

37

39

35

Ngân hàng liên doanh

5

5

5

6

4

Chi nhánh NHNNg

31

41

45

45

50

Tổng cộng

78

85

92

95

94

(Nguồn: Báo cáo của NHNN)
Số lượng các NHNN và Ngân hàng liên doanh vẫn ổn định từ năm 2005 đến 2013; Còn
các NHTMCP có sự biến động nhẹ do các quy định có liên quan đến vốn điều lệ tối
thiểu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu dẫn đến sự sáp nhập và hợp nhất của một loạt các
NHTMCP yếu kém. Chi nhánh NHNNg gia tăng qua các năm đây là kết quả của việc
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào năm 2007 và chính thức
mở cửa thị trường tài chính, đồng thời hệ thống luật pháp Việt Nam cho phép NHNNg
có thể mua cổ phần của các ngân hàng trong nước. Sự hợp tác này đã mang lại lợi ích
cho hai bên. Đối với ngân hàng trong nước có thể tiếp cận quy trình chuyên nghiệp,