Tải bản đầy đủ
5 Phân tích kết quả hồi quy mô hình tƣơng tác

5 Phân tích kết quả hồi quy mô hình tƣơng tác

Tải bản đầy đủ

55

Bảng 3.8 Kết quả hồi quy mô hình Mincer với các biến tƣơng tác.
Biến độc lập
Số năm đi học
Số năm đi học *giới tính
Số năm kinh nghiệm
Số năm kinh nghiệm *giới tính
Số năm kinh nghiệm bình phƣơng
Số năm kinh nghiệm bình phƣơng*giới tính
Trình độ trên đại học
Trình độ trên đại học *giới tính
Trình độ đại học, cao đẳng
Trình độ cao đẳng, đại học*giới tính
Trình độ dƣới trung học phổ phông
Trình độ dƣới THPT *giới tính
Bằng dạy nghề
Bằng dạy nghề *giới tính
Thành thị
Thành thị *giới tính
Nông nghiệp
Nông nghiệp *giới tính
Khu vực kinh tế nhà nƣớc
Khu vực kinh tế nhà nƣớc *giới tính
Khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN *giới tính
Lao động có CMKT bậc trung, cao
Lao động có CMKT bậc trung, cao*giới tính
Lao động có CMKT bậc thấp
Lao động có CMKT bậc thấp*giới tính
Thành phố lớn (Hà Nội/ Tp.HCM)
Thành phố lớn (HN, Tp.HCM) *giới tính
Giới tính
Tung độ gốc
Số quan sát
R2 hiệu chỉnh
Prob (F-statistic)

Hệ số hồi quy
0,037
-0,016
0,022
-0,01
0,000
0,000
0,622
-0,444
0,496
-0,304
0,361
-0,343
0,114
-0,041
0,219
-0,014
-0,355
-0,106
0,199
0,077
0,344
0,046
0,162
0,122
-0,076
0,215
0,241
-0,005
0,513
1,258
10070
0,1796
0.0000

P>t
0,000
0,015
0,000
0,100
0,003
0,158
0,000
0,042
0,000
0,057
0,000
0,001
0,056
0,565
0,000
0,756
0,000
0,025
0,000
0,206
0,000
0,613
0,030
0,205
0,056
0,000
0,000
0,924
0,000
0,000

t- static
7,44
-2,44
4,80
-1,65
-2,97
1,41
4,1
-2,04
4,26
-1,9
5,25
--3,37
1,91
-0,57
6,18
-0,31
-9,47
-2,25
4,13
1,27
5,71
0,51
2,17
1,27
-1,91
4,34
5,17
-0,1
4,34
14,78

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS2010

56

Hệ số biến tƣơng tác giới tính và số năm đi học mang dấu âm (-) có ý nghĩa
thống kê cho thấy có sự khác biệt của tác động của số năm đi học lên mức thu nhập.
Với hệ số của nó là -0.016 cho biết số năm đi học ở nam, nữ có tác động khác nhau
đến thu nhập của họ. Cụ thể, mức tác động này yếu hơn ở nhóm nam so với nhóm
nữ hay việc nam học nhiều không tác động mạnh đến việc gia tăng thu nhập hơn so
với nhóm nữ (do hệ số của yearsch là 0.037 > 0).
Tƣơng tự, hệ số biến tƣơng tác giới tính với trình độ trên đại học, giới tính và
trình độ cao đẳng, đại học và giới tính với trình độ dƣới THPT đều cho kết quả âm
có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (riêng biến trình độ đại học cao đẳng xấp xỉ 10%)
nhấn mạnh sự khác biệt của tác động của trình độ giáo dục lên mức thu nhập.Các hệ
số hồi quy của biến trình độ trên đại học, trình độ cao đẳng, đại học và trình độ dƣới
THPT đều phản ánh mức tác động này ở nữ lớn hơn ở nam. Điều này cho thấy cải
thiện trong trình độ giáo dục sẽ mang lại cho lao động nữ mức thu nhập cao hơn.
Do đó, nếu chúng ta có chính sách khuyến khích sự học tập của ngƣời nữ thì sẽ là
một nhân tố làm giảm sự bất bình đẳng giới cố hữu thông qua sự thu hẹp khác biệt
mức thu nhập ban đầu do nỗ lực học tập của ngƣời lao động nữ.
Đối với biến tƣơng tác trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp và giới tính, hệ số
của biến này là 0.215 và có mức ý nghĩa thống kê 1% cho thấy tác động của mức kỹ
năng thấp ở nhóm lao động nam cao hơn nhóm lao động nữ. Tuy nhiên, do hệ số
của trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp là -0.07 nên tác động này là tác động giảm
thu nhập. Lao động nam có kỹ năng thấp thì sẽ có thu nhập thấp hơn so với lao
động nữ cùng mức kỹ năng này. Hệ số biến tƣơng tác giới tính và trình độ chuyên
môn kỹ thuật thấp mang dấu dƣơng (+) và có ý nghĩa thống kê cho biết có sự phân
biệt giới trong thu nhập đang diễn ra tại khu vực này.
Hệ số của biến tƣơng tác giới tính và yếu tố khu vực kinh tế nông nghiệp
mang dấu dƣơng và có ý nghĩa thống kê. Điều này thể hiện sự khác biệt giới trong
thu nhập đang diễn ra tại khu vực kinh tế nông nghiệp.

57

TÓM TẮT Ý CHÍNH CỦA CHƢƠNG 3
Các kết quả hồi quy hàm thu nhập Miner đƣợc vận dụng và phân tích để kiểm
chứng tác động của các yếu tố kinh tế lên thu nhập của lao động nam và lao động
nữ. Công cụ phân tách tiền lƣơng Oaxaca cho thấy giữa nam và nữ vẫn còn tồn tại
khoảng cách trong thu nhập khi tham gia trên thị trƣờng lao động. Với kết quả phân
tích hồi quy tƣơng tác giữa các biến với hàm thu nhập Mincer một lần nữa khẳng
định sở dĩ chênh lệch thu nhập trên thị trƣờng lao động cho nam và nữ vẫn chƣa xóa
bỏ là do vẫn còn tồn tại định kiến về giới, các quan niệm sai lầm về lao động
nữ.Ngoài ra, kết quả phân tích cũng cho thấy phân biệt giới hiện đang tồn tại trong
khu vực nông nghiệp, khu vực lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp và cả ở lao
động có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học. Nội dung chƣơng cũng đi sâu
vào sự khác biệt tiền lƣơng cho từng nhóm tuổi nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp,
cụ thể cho từng đối tƣợng khác nhau.

58

CHƢƠNG 4
KẾT LUẬN VÀ G I Ý CHÍNH SÁCH
Chƣơng này sẽ trình bày tóm tắt những phát hiện chính của nghiên cứu.Trên
cơ sở những phát hiện đó tác giả đƣa ra những gợi ý chính sách và hạn chế cũng
nhƣ điểm mới của đề tài nghiên cứu.
4.1 Kết luận
Kết quả phân tích thống kê số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2010
cho thấy vẫn đã có nhiều chuyển biến tích cực trong vấn đề lƣơng giữa lao động
nam và lao động nữ ở Việt Nam. Khoảng cách thu nhập ngày càng rút ngắn chứng
tỏ sự nổ lực của bản thân lao động nữ trong việc nâng cao kỹ năng và năng suất
làm việc, đồng thời đó cũng là sự chuyển biến mới trong chính sách lao động của
nhà nƣớc ta.Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy vẫn còn tồn tại vấn đề bất bình đẳng
giới trong thu nhập. Năm 2010, bình quân thu nhập/giờ của lao động nữ bằng
98,7% so với nam giới. Nếu xét trên nhiều đặc điểm thống kê phụ nữ đều bất lợi
hơn nam giới về thu nhập. Cụ thể, xét về trình độ giáo dục, đa số ở các bậc học phụ
nữ đều nhận đƣợc mức thu nhập thấp hơn nam giới. Trình độ này ở các nhóm tuổi
cũng có sự khác biệt. Giai đoạn từ 15-25 tuổi, lao động nữ có mức thu nhập trung
bình cao hơn nam giới, tuy nhiên, bƣớc sang giai đoạn 26-46 mức tăng thu nhập của
nam giới cao hơn nữ, từ độ tuổi 46 trở lên, thu nhập của nam và nữ có xu hƣớng
tăng chậm lại.
Sự tách biệt các cơ hội việc làm dành cho nam giới và nữ giới cũng nhƣ việc
gắn giá trị thấp cho các công việc của phụ nữ ở một số lĩnh vực cụ thể tạo nên khác
biệt trong thu nhập giữa hai giới. Nhìn chung, tiền lƣơng trong khu vực kinh tế tập
thế và khu vực hộ sản xuất kinh doanh cá thế là thấp nhất. Tuy nhiên, so với các
khu vực khác, khu vực hộ sản xuất kinh doanh cá thể, kinh tế tƣ nhân, kinh tế tập
thể, lao động nữ có mức thu nhập cao hơn nam giới. Và khoảng cách tiền lƣơng lớn
nhất là ở bộ phận làm việc cho khu vực kinh tế nhà nƣớc và các công ty có vốn đầu

59

tƣ nƣớc ngoài, nơi nam giới đƣợc trả lƣơng cao. Điều này chắc hẳn do nam giới
thƣờng đƣợc tuyển dụng vào các vị trí quản lý công ty trong khi phụ nữ thƣờng giữ
vị trí nhân viên hỗ trợ hoặc công nhân nhà máy nhƣ ở các nhà máy dệt may. Bên
cạnh đó, khu vực hộ tƣ nhân ít chịu sự ràng buộc và kiểm soát chặt chẽ của pháp
luật đối với việc thực thi các quy định về lao động, tiền lƣơng do vậy các chính sách
đối với lao động nữ thƣờng bị bỏ ngỏ.
Về khu vực địa lý, nhìn chung lao động ở khu vực nông thôn có mức thu nhập
bình đẳng hơn giữa nam và nữ so với lao động ở khu vực thành thị, tƣơng tự lao
động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp có thu nhập gần với thu nhập của lao
động nam hơn trong các ngành nghề thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp.
Bằng phƣơng pháp hồi quy hàm thu nhập Mincer và phân tích Oaxaca đã cho
phép xác định mức độ phân biệt đối xử trong thu nhập giữa lao động nam và lao
động nữ ở Việt Nam. Nếu tính Logarithm thu nhập bình quân theo giờ, thu nhập của
phụ nữ bằng 98,7% thu nhập nam giới năm 2010 và khoảng cách thu nhập là 0.028
(ngàn đồng/giờ). Phƣơng pháp phân tích Oaxaca cho kết quả: trong khoảng cách thu
nhập giữa lao động nam và lao động nữ ở Việt Nam năm 2010 phần lớn là do sự
phân biệt về các đặc điểm quan sát đƣợc.
Mô hình tƣơng tác một lần nữa khẳng định bất bình đẳng giới trong thu nhập
có nguyên nhân xuất phát từ quan niệm của xã hội về giới và bất bình đẳng giới
trong thu nhập đang tập trung ở khu vực lao động có trình độ cao đẳng, đại học, trên
đại học và trình độ dƣới THPT. Ngoài ra sự phân biệt đối xử còn tồn tại trong cả
khu vực lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp.
Nhƣ vậy, để hƣớng đến giải quyết bất bình đẳng giới trong thu nhập, các giải
pháp sẽ phải tập trung theo hai hƣớng: xóa bỏ các yếu tố phân biệt đối xử trong lao
động và thu nhập và san bằng những khác biệt về đặc tính năng suất giữa lao động
nam và lao động nữ.

60

4.2 Gợi ý chính sách
Phân biệt đối xử trong thu nhập đối với lao động nữ xuất phát từ nhiều nguyên
nhân, có thể do quan điểm sai lầm về vai trò giới trong xã hội; tƣ tƣởng truyền
thống hay định kiến giới… những yếu tố này chỉ có thể đƣợc xóa bỏ thông qua các
hoạt động giáo dục. Chính phủ cần thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp mang
tính giáo dục có tính hệ thống nhƣ: giáo dục trong gia đình, giáo dục trong nhà
trƣờng, thực hiện các chiến dịch thông tin tuyên truyền, xây dựng và thực hiện các
chính sách phát triển kinh tế xã hội hƣớng đến mục tiêu bình đẳng giới… nhằm thay
đổi quan điểm về vai trò giới trong xã hội, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới.
Bên cạnh đó, giảm bất bình đẳng giới trong thu nhập cần thực hiện thông qua
các giải pháp nâng cao vai trò cũng nhƣ trình độ chuyên môn cho lao động nữ, giúp
lao động nữ có thể bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và năng lực
tạo thu nhập. Cụ thể:
Hàm thu nhập Mincer cũng nhƣ một số nghiên cứu thực nghiệmđã chứng
minh giáo dục đào tạo mang lại cải thiện thu nhập cho cả lao động nam và lao động
nữ đồng thời giúp phụ nữ rút ngắn đƣợc khoảng cách thu nhập với lao động nam ở
các bậc đào tạo phổ thông và cao đẳng. Lao động Việt Nam phần lớn là lao động có
trình độ dƣới phổ thông, đây là một bất lợi làm giảm thu nhập của cả hai giới, vì
vậy, nhà nƣớc nên chú ý phổ cập giáo dục phổ thông, đặc biệt cho lao động nam vì
bậc giáo dục này có tác dụng làm giảm mức thu nhập của lao động nam nhiều hơn
lao động nữ. Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ để tạo cơ hội hoàn thành các
bậc học giáo dục phổ thông cho ngƣời lao động bằng nhiều hình thức nhƣ mở khóa
học ngắn hạn, bổ túc... Bên cạnh đó cũng cần tuyên truyền, giáo dục nhằm xóa bỏ
tƣ duy ƣu tiên cho bé trai đi học hơn là bé gái đặc biệt trong các gia đình nông thôn
và miền núi. Đặc biệt tăng cƣờng đầu tƣ, khuyến khích nâng cao trình độ văn hoá
cao, nhƣ bậc đại học, cao đẳng. Nên tạo điều kiện cho ngƣời lao động có thể hoàn
thành bậc học này nhằm tăng mức lƣơng cho lao động nữ.

61

Không chỉ phân biệt lƣơng ở các khu vực kinh tế khác, khu vực kinh tế nhà
nƣớc cũng cho thấy có sự phân biệt đối xử về thu nhập của nam và nữ. Đây là nơi
điều tiết và hoạch định chính sách, cần phải có giải pháp thƣởng, phạt đối với các
cơ quan, tổ chức nhà nƣớc nào có hiện tƣợng phân biệt giới trong tuyển dụng từ đó
có thể quản lý sự khác biệt ở các khu vực khác tốt hơn.
Kiện toàn và nâng cao hiệu lực thực thi và tính pháp lý của hệ thống thể chế
nhằm kiểm soát việc đảm bảo thực hiện đầy đủ các chế độ lao động tiền lƣơng tại
các tổ chức kinh tế, đặc biệt đối với các tổ chức thuộc loại hình kinh tế có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài.
Khu vực nông thôn có mức thu nhập bình đẳng hơn thành thị, tuy nhiên thu
nhập giữa lao động nông thôn và thành thị vẫn còn khoảng cách. Do vậy, để có thể
vừa rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị đồng thời giảm bất
bình đẳng giới trong thu nhập cần thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nông
thôn, đa dạng ngành nghề và mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nông thôn.
Ngoài ra, nhà nƣớc cần tập trung vào thực hiện hiệu quả và nghiêm túc việc
lồng ghép giới trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động nhằm bảo đảm
bình đẳng giới về cơ hội, đối xử và thu nhập. Trong đó, nên đặc biệt quan tâm đến
việc xem xét điểu chỉnh độ tuổi nghỉ hƣu của lao động nữ; quyền đƣợc tạm hoãn
thực hiện hợp đồng lao động vì lý do thai sản của lao động nữ; quyền và trách
nhiệm của lao động nam trong việc chia sẻ công việc gia đình và chăm sóc con.
Nghiên cứu cho thấy sở dĩ vẫn còn khoảng cách khác biệt về thu nhập của hai giới
là do phụ nữ có thời gian tạm hoãn lao động vì lý do thai sản.Trong thời gian đó,
ngoài các chế độ về lƣơng đã giảm, nữ giới còn hạn chế trong việc xét khen thƣởng
thi đua. Vì vậy, nhà nƣớc nên tìm các giải pháp, nghiên cứu, rà soát và từng bƣớc
sửa đổi những quy định tạo ra sự phân biệt đối xử gián tiếp về cơ hội, đối xử trong
việc làm, nghề nghiệp và thu nhập giữa lao động nữ và lao động nam, ví dụ: xóa
bỏ những quy định hạn chế quyền đƣợc xét thi đua khen thƣởng của lao động nữ
khi nghỉ sinh con; điều chỉnh danh mục những công việc không đƣợc sử dụng lao
động nữ; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật theo hƣớng mở rộng phạm vi điều
chỉnh quan hệ lao động ở các khu vực kinh tế.