Tải bản đầy đủ
3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm

3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Tải bản đầy đủ

11

Nghiên cứu phân tích hồi quy đƣợc sử dụng rộng rãi tạo tiền đề cho một
phƣơng pháp luận khác đƣợc sử dụng để phân tích những phân biệt đối xử về mặt
thu nhập giữa các nhóm lao động. Phƣơng pháp này đƣợc phát triển bởi BlinderOaxaca, và đƣợc gọi là phƣơng pháp phân rã tiền lƣơng.Phƣơng pháp này giải thích
khoảng cách tiền lƣơng bằng cách phân rã chêch lệch tiền lƣơng thành hai thành
phần.Thành phần thứ nhất giải thích sự khác biệt về đặc điểm và thành phần thứ hai
phản ánh những phân biệt đối xử. Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc sử dụng để phân
tích khoảng cách tiền lƣơng tại một thời điểm và đã đƣợc ứng dụng rộng rãi ở nhiều
quốc gia trên thế giới
1.3.1.

hình hàm thu nhập

incer

Phƣơng trình tiền lƣơng cơ bản đƣợc sử dụng là phƣơng trình Mincerian mô tả
mối quan hệ giữa tiền lƣơng của ngƣời lao động và vốn nhân lực bao gồm trình độ
giáo dục và kinh nghiệm. Biến số bên trái vì vậy là logarithm tiền lƣơng. Vế bên
phải ngoài các đặc điểm của vốn nhân lực là một số biến giả đo lƣờng các đặc điểm
của ngành nghề. Dạng cơ bản có thể tóm tắt nhƣ sau:
lnwage =

0+

1exper

+

2exper

2

+

3school

+ Ui

(1.1)

Trong đó:
-

wage: tiền lƣơng theo giờ, và lnwage là logarithm cơ số e của wage

-

exper: số năm kinh nghiệm

-

exper2: số năm kinh nghiệm bình phƣơng

-

school: số năm đi học

-

Ui : là sai số ngẫu nhiên

và các giả định là:
1)

Lƣơng chịu ảnh hƣởng của giáo dục và kinh nghiệm theo chiều hƣớng

thuận, tức là ngƣời đi học nhiều hơn sẽ có lƣơng cao hơn và ngƣời có kinh nghiệm

12

làm việc nhiều hơn sẽ có lƣơng cao hơn. Hay hệ số của exper và school mang dấu
dƣơng, tức
2)

1và

3>

0.

Kinh nghiệm hiệu ứng tác động biên giảm dần, tức là ở những ngƣời đã

có nhiều kinh nghiệm thì mức độ tăng lƣơng khi tăng thêm kinh nghiệm sẽ ít hơn so
với những ngƣời có ít kinh nghiệm. Hay hệ số của exper2 mang dấu âm, tức
3)

2<

0.

Ngoài ra còn có ý kiến cho rằng có sự khác biệt giữa mức lƣơng của nam

so với mức lƣơng của nữ, cụ thể là mức lƣơng của nam sẽ cao hơn mức lƣơng của nữ.
Đây là dạng thô sơ nhất của hàm thu nhập cá nhân. Mô hình sau đó đƣợc phát
triển và mở rộng ra cho phép ƣớc lƣợng thêm nhiều biến độc lập bằng phƣơng pháp
kinh tế lƣợng. Phƣơng trình đƣợc viết lại nhƣ sau:
lnwage =

0+

1exper

+

2exper

2

+

3school

+ biến khác + Ui

(1.2)

1.3.2. Phương pháp phân tách a aca
Để đánh giá sự khác biệt tiền lƣơng theo giới, ngƣời ta hay dùng phƣơng pháp
phân rã Blinder-Oaxaca, đƣợc Blinder-Oaxaca xây dựng và phát triển từ năm 1973.
Phƣơng pháp này giải thích khoảng cách tiền lƣơng bằng cách phân rã chêch lệch
tiền lƣơng thành hai thành phần.Thành phần thứ nhất giải thích sự khác biệt về đặc
điểm và thành phần thứ hai phản ánh những phân biệt đối xử.Phƣơng pháp này
thƣờng đƣợc sử dụng để phân tích khoảng cách tiền lƣơng tại một thời điểm và đã
đƣợc ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.Theo Oaxaca, phƣơng thức
tính khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ đƣợc mô tả nhƣ sau:
Giả sử có hai nhóm lao động nam và nữ, mức lƣơng trung bình của nhóm nam
là w M và của nhóm nữ là wF . Khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm sẽ là hiệu của
hai mức lƣơng trung bình này:
w=

w M - wF

(1.3)

Tuy nhiên, hiệu số này không thể đƣợc gọi là phân biệt đối xử vì có nhiều yếu
tố tạo nên khác biệt tiền lƣơng giữa lao động nam và nữ. Chẳng hạn nam giới có bằng

13

cấp chuyên môn cao hơn phụ nữ, trong trƣờng hợp này ta không thể khẳng định
doanh nghiệp trả lƣơng nam giới cao hơn phụ nữ do họ có bằng cấp cao hơn là phân
biệt đối xử. Một định nghĩa chính xác hơn về phân biệt đối xử về thu nhập trên thị
trƣờng lao động phải so sánh mức lƣơng của những ngƣời có cùng kỹ năng.
Nhƣ vậy, để điều chỉnh khác biệt tiền lƣơng cơ bản cho bởi

w

bằng khác biệt

về kỹ năng giữa lao động nam và nữ sử dụng hàm hồi quy ƣớc lƣợng thu nhập của
nam, nữ theo những đặc điểm kinh tế xã hội. Để đơn giản, giả sử chỉ có một yếu tố
ảnh hƣởng đến thu nhập đó là yếu tố số năm đi học, khi đó hàm hồi quy thu nhập của
mỗi nhóm sẽ là:
Hàm hồi quy thu nhập của nam:

wM = αM + βMSM

Hàm hồi quy thu nhập của nữ:

wF = αF + βFSF

(1.4)

SM, SF là số năm đi học của nam và nữ. Giá trị αM và αF là mức thu nhập khởi
điểm của mỗi nhóm, αM = αF nếu doanh nghiệp đánh giá kỹ năng lao động của nam
và nữ có 0 năm học vấn là bằng nhau. Hệ số βM cho biết thu nhập của lao động nam
tăng bao nhiêu nếu anh ta có thêm một năm học vấn, hệ số βF cho biết thu nhập của
lao động nữ tăng bao nhiêu nếu có thêm một năm học vấn, nếu doanh nghiệp đánh
giá học vấn của nam nhƣ học vấn của lao động nữ, hai hệ số này sẽ bằng nhau ( βM
= βF). Mô hình hồi quy khác biệt tiền lƣơng cơ bản có thể viết lại:
w=

Thêm và bớt

M

w

w M - wF =

M

+

M

SM -

F

-

F

SF

(1.5)

S F vào vế phải phƣơng trình (1.5) ta đƣợc:

=(

M

-

F

)+(

M

-

F

) SF +

M

( SM - S F )

(1.6)

Phƣơng trình (1.6) cho thấy khác biệt tiền lƣơng cơ bản gồm hai phần. Phần
thứ hai của vế phải phƣơng trình sẽ bằng 0 nếu nam và nữ có cùng số năm đi học
( S M = S F ) do vậy phần này sẽ chỉ phát sinh khi số năm đi học của nam và nữ
không bằng nhau.

14

Phần thứ nhất vế phải phƣơng trình (1.6) sẽ cho kết quả dƣơng nếu doanh
nghiệp xem trọng học vấn của nam hơn nữ (
cho nam cao hơn nữ không kể học vấn (

M

M

>

>
F

F

), hoặc doanh nghiệp trả lƣơng

). Điều này thể hiện sự phân biệt

đối xử trong thu nhập giữa lao động nam và nữ.
Hạn chế của phƣơng pháp phân tích Oaxaca đó là việc đo lƣờng mức độ phân
biệt đối xử giới trong thu nhập tùy thuộc vào việc có kiểm soát đƣợc mọi yếu khác
biệt về kỹ năng giữa hai nhóm hay không. Nếu có những yếu tố bị bỏ sót trong mô
hình hồi quy, chúng ta sẽ đo lƣờng mức độ phân biệt đối xử không chính xác.
1.4 Khung phân tích
Dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết và thực tế, tác giả đề nghị khung phân tích sau:
Vấn đề nghiên cứu
Bất bình đẳng giới trong
thu nhập

Mục tiêu nghiên cứu
Đo lƣờng mức độ bất
bình đẳng giới về thu
nhập của ngƣời lao động
ở Việt Nam

Các yếu tố phi kinh tế

Phân tích, đánh giá

Các yếu tố kinh tế

Tính toán, đo lƣờng, kiểm
định tác động

Kết luận
Kết luận và gợi ý chính
sách

Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đề tài

15

1.5 Cách tính và quy đổi một số biến trong mô hình
1.5.1.

Thu nhập bình quân theo giờ

Thu nhập trong năm (Y), số giờ làm việc (H) đƣợc xác định trực tiếp theo số
liệu khảo sát. Cụ thể: thu nhập bình quân theo giờ (hincome) = tổng thu nhập (Y)/
số giờ làm việc (H).
Biến số năm đi học

1.5.2.

Số năm đi học (S) xác định từ KSMS 2010, căn cứ vào:
+ Hệ thống giáo dục Việt Nam qua các thời k .
+ Năm sinh, miền địa lý và bằng cấp giáo dục đào tạo.
+ Các giả thiết: (1) bắt đầu đi học từ năm 6 tuổi, (2) thời gian đi học là liên tục
và lên lớp mỗi năm, (3) không có sự thay đổi nơi cƣ trú. Số năm đi học của một cá
nhân đƣợc xác định bằng tổng số năm đi học ở cả 3 bậc học theo hệ thống giáo dục
Việt Nam: giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục dạy nghề.
Bảng 1.1 Số năm đại học quy đổi cho bậc giáo dục đại học
Số năm đi học quy đổi

Năm sinh

Cao đẳng

Đại học

Thạc sỹ

Tiến sỹ

Đến năm 1962

2

4

2

2 (hoặc 4)

Từ 1963 đến nay

3

4

2

2 (hoặc 4)

Bảng 1.2 Số năm đại học quy đổi cho bậc dạy nghề
Loại hình đào tạo

Thời gian học khi có bằng
Tiểu học

THCS

THPT

Dạy nghề ngắn hạn

0,5

0,5

0,5

Dạy nghề dài hạn

2

2

1

3

2

Trung học chuyên
nghiệp

16

1.5.3.

Biến năm kinh nghiệm

Hàm thu nhập Mincer giả định rằng, khả năng học tập của mọi ngƣời là nhƣ
nhau và thời gian đi học là liên tục, chấm dứt khi bắt đầu làm việc. Kể từ khi thôi
học ở trƣờng lớp cho đến tuổi nghỉ hƣu, đó là số năm kinh nghiệm tiềm năng của họ
cho việc làm.
Nhƣ vậy, biến số kinh nghiệm tiềm năng (T) trong nghiên cứu này theo mô
hình hàm thu nhập Mincer sẽ đƣợc tính bằng thời gian kể từ sau khi không còn đi
học cho đến năm khảo sát, theo công thức sau: T = A - S – B.
Ở đây, A là số tuổi của cá nhân đƣợc xác định theo năm sinh tính cho đến năm
khảo sát 2010 ; và B là tuổi bắt đầu đi học (ở Việt Nam), đƣợc xem là 6 tuổi ( B = 6
); S là số năm đi học.
1.5.4.

Quy đổi một số biến định tính

Biến tình trạng hôn nhân: Hôn nhân của một cá nhân đƣợc phân thành 2
nhóm (1) đang có vợ hoặc chồng; (2) đã ly dị; góa vợ/chồng hoặc đang sống độc
thân và đƣợc mã hóa thành 1 biến giả. Biến tình trạng hôn nhân nhận giá trị là 1 nếu
cá nhân đó đang có gia đình, ngƣợc lại biến hôn nhân giá trị 0.
Biến trình độ học vấn của cá nhân: Trình độ học vấn của một cá nhân đƣợc
phân thành 4 nhóm nhƣ sau: trình độ dƣới phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở,
chƣa tốt nghiệp trung học phổ thông), trình độ trung học phổ thông, trình độ cao
đẳng hoặc đại học và trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Trình độ học vấn của cá nhân
đƣợc mã hóa thành 3 biến giả.Trình độ trung học phổ thông đƣợc chọn làm biến
tham chiếu. Biến trình độ dƣới phổ thông, biến trình độ cao đẳng hoặc đại học và
biến trình độ thạc sĩ và tiến sĩ là 3 biến nhị phân, các biến đó sẽ nhận giá trị là 1 nếu
cá nhân đó có đặc tính của trình độ đó và nhận 0 nếu cá nhân đó không có đặc tính
của trình độ đó.