Tải bản đầy đủ
CHƢƠNG 4KẾT LUẬN VÀ G I Ý CHÍNH SÁCH

CHƢƠNG 4KẾT LUẬN VÀ G I Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ

59

tƣ nƣớc ngoài, nơi nam giới đƣợc trả lƣơng cao. Điều này chắc hẳn do nam giới
thƣờng đƣợc tuyển dụng vào các vị trí quản lý công ty trong khi phụ nữ thƣờng giữ
vị trí nhân viên hỗ trợ hoặc công nhân nhà máy nhƣ ở các nhà máy dệt may. Bên
cạnh đó, khu vực hộ tƣ nhân ít chịu sự ràng buộc và kiểm soát chặt chẽ của pháp
luật đối với việc thực thi các quy định về lao động, tiền lƣơng do vậy các chính sách
đối với lao động nữ thƣờng bị bỏ ngỏ.
Về khu vực địa lý, nhìn chung lao động ở khu vực nông thôn có mức thu nhập
bình đẳng hơn giữa nam và nữ so với lao động ở khu vực thành thị, tƣơng tự lao
động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp có thu nhập gần với thu nhập của lao
động nam hơn trong các ngành nghề thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp.
Bằng phƣơng pháp hồi quy hàm thu nhập Mincer và phân tích Oaxaca đã cho
phép xác định mức độ phân biệt đối xử trong thu nhập giữa lao động nam và lao
động nữ ở Việt Nam. Nếu tính Logarithm thu nhập bình quân theo giờ, thu nhập của
phụ nữ bằng 98,7% thu nhập nam giới năm 2010 và khoảng cách thu nhập là 0.028
(ngàn đồng/giờ). Phƣơng pháp phân tích Oaxaca cho kết quả: trong khoảng cách thu
nhập giữa lao động nam và lao động nữ ở Việt Nam năm 2010 phần lớn là do sự
phân biệt về các đặc điểm quan sát đƣợc.
Mô hình tƣơng tác một lần nữa khẳng định bất bình đẳng giới trong thu nhập
có nguyên nhân xuất phát từ quan niệm của xã hội về giới và bất bình đẳng giới
trong thu nhập đang tập trung ở khu vực lao động có trình độ cao đẳng, đại học, trên
đại học và trình độ dƣới THPT. Ngoài ra sự phân biệt đối xử còn tồn tại trong cả
khu vực lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp.
Nhƣ vậy, để hƣớng đến giải quyết bất bình đẳng giới trong thu nhập, các giải
pháp sẽ phải tập trung theo hai hƣớng: xóa bỏ các yếu tố phân biệt đối xử trong lao
động và thu nhập và san bằng những khác biệt về đặc tính năng suất giữa lao động
nam và lao động nữ.

60

4.2 Gợi ý chính sách
Phân biệt đối xử trong thu nhập đối với lao động nữ xuất phát từ nhiều nguyên
nhân, có thể do quan điểm sai lầm về vai trò giới trong xã hội; tƣ tƣởng truyền
thống hay định kiến giới… những yếu tố này chỉ có thể đƣợc xóa bỏ thông qua các
hoạt động giáo dục. Chính phủ cần thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp mang
tính giáo dục có tính hệ thống nhƣ: giáo dục trong gia đình, giáo dục trong nhà
trƣờng, thực hiện các chiến dịch thông tin tuyên truyền, xây dựng và thực hiện các
chính sách phát triển kinh tế xã hội hƣớng đến mục tiêu bình đẳng giới… nhằm thay
đổi quan điểm về vai trò giới trong xã hội, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới.
Bên cạnh đó, giảm bất bình đẳng giới trong thu nhập cần thực hiện thông qua
các giải pháp nâng cao vai trò cũng nhƣ trình độ chuyên môn cho lao động nữ, giúp
lao động nữ có thể bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và năng lực
tạo thu nhập. Cụ thể:
Hàm thu nhập Mincer cũng nhƣ một số nghiên cứu thực nghiệmđã chứng
minh giáo dục đào tạo mang lại cải thiện thu nhập cho cả lao động nam và lao động
nữ đồng thời giúp phụ nữ rút ngắn đƣợc khoảng cách thu nhập với lao động nam ở
các bậc đào tạo phổ thông và cao đẳng. Lao động Việt Nam phần lớn là lao động có
trình độ dƣới phổ thông, đây là một bất lợi làm giảm thu nhập của cả hai giới, vì
vậy, nhà nƣớc nên chú ý phổ cập giáo dục phổ thông, đặc biệt cho lao động nam vì
bậc giáo dục này có tác dụng làm giảm mức thu nhập của lao động nam nhiều hơn
lao động nữ. Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ để tạo cơ hội hoàn thành các
bậc học giáo dục phổ thông cho ngƣời lao động bằng nhiều hình thức nhƣ mở khóa
học ngắn hạn, bổ túc... Bên cạnh đó cũng cần tuyên truyền, giáo dục nhằm xóa bỏ
tƣ duy ƣu tiên cho bé trai đi học hơn là bé gái đặc biệt trong các gia đình nông thôn
và miền núi. Đặc biệt tăng cƣờng đầu tƣ, khuyến khích nâng cao trình độ văn hoá
cao, nhƣ bậc đại học, cao đẳng. Nên tạo điều kiện cho ngƣời lao động có thể hoàn
thành bậc học này nhằm tăng mức lƣơng cho lao động nữ.

61

Không chỉ phân biệt lƣơng ở các khu vực kinh tế khác, khu vực kinh tế nhà
nƣớc cũng cho thấy có sự phân biệt đối xử về thu nhập của nam và nữ. Đây là nơi
điều tiết và hoạch định chính sách, cần phải có giải pháp thƣởng, phạt đối với các
cơ quan, tổ chức nhà nƣớc nào có hiện tƣợng phân biệt giới trong tuyển dụng từ đó
có thể quản lý sự khác biệt ở các khu vực khác tốt hơn.
Kiện toàn và nâng cao hiệu lực thực thi và tính pháp lý của hệ thống thể chế
nhằm kiểm soát việc đảm bảo thực hiện đầy đủ các chế độ lao động tiền lƣơng tại
các tổ chức kinh tế, đặc biệt đối với các tổ chức thuộc loại hình kinh tế có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài.
Khu vực nông thôn có mức thu nhập bình đẳng hơn thành thị, tuy nhiên thu
nhập giữa lao động nông thôn và thành thị vẫn còn khoảng cách. Do vậy, để có thể
vừa rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị đồng thời giảm bất
bình đẳng giới trong thu nhập cần thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nông
thôn, đa dạng ngành nghề và mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nông thôn.
Ngoài ra, nhà nƣớc cần tập trung vào thực hiện hiệu quả và nghiêm túc việc
lồng ghép giới trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động nhằm bảo đảm
bình đẳng giới về cơ hội, đối xử và thu nhập. Trong đó, nên đặc biệt quan tâm đến
việc xem xét điểu chỉnh độ tuổi nghỉ hƣu của lao động nữ; quyền đƣợc tạm hoãn
thực hiện hợp đồng lao động vì lý do thai sản của lao động nữ; quyền và trách
nhiệm của lao động nam trong việc chia sẻ công việc gia đình và chăm sóc con.
Nghiên cứu cho thấy sở dĩ vẫn còn khoảng cách khác biệt về thu nhập của hai giới
là do phụ nữ có thời gian tạm hoãn lao động vì lý do thai sản.Trong thời gian đó,
ngoài các chế độ về lƣơng đã giảm, nữ giới còn hạn chế trong việc xét khen thƣởng
thi đua. Vì vậy, nhà nƣớc nên tìm các giải pháp, nghiên cứu, rà soát và từng bƣớc
sửa đổi những quy định tạo ra sự phân biệt đối xử gián tiếp về cơ hội, đối xử trong
việc làm, nghề nghiệp và thu nhập giữa lao động nữ và lao động nam, ví dụ: xóa
bỏ những quy định hạn chế quyền đƣợc xét thi đua khen thƣởng của lao động nữ
khi nghỉ sinh con; điều chỉnh danh mục những công việc không đƣợc sử dụng lao
động nữ; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật theo hƣớng mở rộng phạm vi điều
chỉnh quan hệ lao động ở các khu vực kinh tế.

62

Tiếp đến, cần nghiên cứu, xem xét lại sự khác biệt tuổi nghỉ hƣu giữa nam và
nữ .Vì kinh nghiệm có ảnh hƣởng tích cực làm giảm mức độ chênh lệch giữa lƣơng
nam và nữ. Hay nói một cách khác ở độ tuổi lao động càng cao thƣờng gắn với tích
luỹ đƣợc càng nhiều kinh nghiệm, khoảng cách mức lƣơng giữa nam và nữ ngày
càng đƣợc thu hẹp. Do đó, để tạo sự bình đẳng hơn trong các cơ hội nghề nghiệp, cơ
hội thăng tiến của phụ nữ, để phụ nữ có khả năng cạnh tranh bình đẳng với nam
giới, phát huy tối đa nguồn lực cho sự phát triển của đất nƣớc rất cần có chính sách
về tuổi về hƣu giữa nam và nữ nên đồng nhất ở một số ngành, lĩnh vực thích hợp.
4.3 Ƣu điểm và hạn chế của nghiên cứu, hƣớng nghiên cứu mới của đề tài
Ƣu điểm của đề tài là không chỉ dùng lại ở việc phân tích, đánh giá ảnh hƣởng
của từng yếu tố mà còn phân tách ảnh hƣởng của từng yếu tố theo thu nhập. Đề tài
đi sâu vào phân tích sự chênh lệch ở từng nhóm tuổi cụ thể.Sử dụng bộ số liệu điều
tra KSMS mới nhất, mang lại thông tin cập nhật mới về bức tranh toàn cảnh của bất
bình đẳng trong tiền lƣơng với nhiều cấp bậc trình độ, chuyên môn và vùng miền
khác nhau.
Hạn chế của đề tài vì chỉ đo lƣờng kết quả của một năm (2010) nên chỉ mới
đánh giá bất bình đẳng giới trong thu nhập tại một thời điểm, chƣa dự đoán đƣợc xu
thế của bất bình đẳng giới trong thu nhập cho tƣơng lai. Bên cạnh đó do hạn chế
khác về số liệu nên đề tài chƣa đánh giá đƣợc xu hƣớng bất bình đẳng trong dài hạn
cũng nhƣ tính ổn định của các yếu tố ảnh hƣởng. Hạn chế về số liệu cũng là lý do đề
tài chƣa phân tách đánh giá đƣợc một cách đầy đủ tất cả các yếu tố tác động đến bất
bình đẳng giới trong thu nhập. Hơn nữa, bộ số liệu bản thân chƣa đƣợc xây dựng để
làm công cụ phân tích về giới nên khó có thể tiếp cận so sánh đánh giá các yếu tố
ảnh hƣởng về tiếp cận nguồn lực, khả năng lãnh đạo và tham chính...
Mặt khác, nếu chỉ dựa vào kết quả khảo sát mức sống, đề tài chỉ có thể tìm
hiểu về vấn đề bất bình đẳng trong tiền lƣơng ở việc làm chính của một mẫu chọn
lọc trong bộ dữ liệu. Đặc điểm thị trƣờng lao động Việt Nam là có sự đa dạng về
việc làm và mức độ toàn dụng lao động ở nhiều nhóm khu vực, tuổi, trình độ và
ngành nghề. Vì vậy mức độ đại diện của kết quả khảo sát mức sống đối với toàn bộ
thị trƣờng lao động ở Việt Nam là một hạn chế đáng kể.

63

Ngoài ra, hạn chế của phƣơng pháp phân tích Oaxaca đó là việc đo lƣờng
mức độ phân biệt đối xử giới trong thu nhập tùy thuộc vào việc có kiểm soát đƣợc
mọi yếu tố khác biệt về kỹ năng giữa hai nhóm hay không. Nếu có những yếu tố bị
bỏ sót trong mô hình hồi quy, chúng ta sẽ đo lƣờng mức độ phân biệt đối xử không
chính xác.
Hy vọng rằng những nghiên cứu sau sẽ khắc phục đƣợc những hạn chế trên để
có thể đƣa ra những kiến nghị xác đáng hơn, đóng góp hơn nữa cho quá trình phát
triển bền vững của đất nƣớc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1.

Giản Thành Công, 2009. Khoảng cách tiền lương theo giới, so sánh giữa
Việt Nam và Hàn Quốc. Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Số 20/ quý
3_2009, trang 54-60.

2.

Quốc Hội, 2006. Luật Bình đẳng giới. NXB Pháp Luật.

3.

Quốc Hội, 2005. Bộ Luật lao động Việt Nam.

4.

Harvey B. King, 2001. “Phân biệt đối xử và Khác biệt Tiền công giữa
Nam



Nữ”

http://www.kinhtehoc.com/index

(Ngày

tra

cứu:

25/102012).
5.

Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự, 2006. Bất bình đẳng giới trong thu nhập
của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách. Viện
nghiên cứu kinh tế trung ương.

6.

Phạm Đô Nhật Thăng, 2010. Thực trạng về lồng ghép giới trong các
chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 2010. Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Số 23/ quý 2_2010, trang 2233.

7.

Nguyễn Xuân Thành, 2006. Ước lượng suất sinh lợi của việc đi học ở
Việt Nam: Phương pháp khác biệt trong khác biệt. Học liệu mở của
FETP, Trƣờng ĐH Kinh Tế tp.HCM.

8.

Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010. Pháp luật lao động và các chương trình
mục tiêu quốc gia nhìn dưới góc độ bình đẳng giới. Viện Khoa học Lao
động và Xã hội, Số 23/ quý 2_2010, trang 09-22.

9.

Nguyễn Huy Toàn, 2010. Bất bình đẳng giới trong thu nhập của người
lao động Việt Nam, Học liệu mở của FETP, Trƣờng ĐH Kinh Tế
tp.HCM.

10. Nguyễn Khắc Tuân, 2010. Một số giải pháp cải thiện bình đẳng giới
trong lao động việc làm hiện nay. Viện Khoa học Lao động và Xã hội,
Số 23/ quý 2_2010, trang 33-38.
11. Tổng cục thống kê, 2012. Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình 2010,
Hà Nội.
12. Tổng cục thống kê, 2012. Báo cáo điều tra lao động và việc làm 201, Hà Nội
13. Tổng cục thống kê, 2011. Báo cáo điều tra biến động dân số năm 2010,
Hà Nội
14. Đinh Thị Vân, Nguyễn Thành Tuân, Nguyễn Vân Trang, 2012. Sự khác
biệt tiền lương của người lao động theo giới giai đoạn 2006 -2010. Viện
Khoa học Lao động và Xã hội, Số 32/ quý 3_2012, trang 31-37.
15. UNDP, 2011. Báo cáo phát triển con người
16. WB, 2012. Báo cáo phát triển thế giới 2012
17. WB, 2006. Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam
Tiếng Anh
1.

Borjas, George J, 2005. Labor Economics. McGraw-Hill, Third Edition.

2.

Del Rio, C., Gradin, C., and Canto, O, 2006. The Measurement of
GenderWage Discrimination. The Distributional Approach Revisited.

3.

Mincer, Jacob, 1974. Schooling, Experience and Earnin. Nation
Bureau of Economic Research, Colombia University Press .

4.

Ngan Dinh, 2002. Migrant Workers in Chinese Urban Enterprises
Twenty Years after Reforms. Bates College.

5.

Yolanda Pena-Boquete, Sergio Destefanis, and Manuel Fernandez-Grela,
2007. The Distribution of Gender Wage Discrimination in Italy and
Spain: A Comparison Using the ECHP. Napoli