Tải bản đầy đủ
NAH đoạn tính/không đoạn tính

NAH đoạn tính/không đoạn tính

Tải bản đầy đủ

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Ngữ âm học hình dung ngữ lưu như một dãy âm tố đoạn tính nối tiếp nhau
thành một tuyến trong thời gian.

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

32

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Những thuộc tính đặc trưng của mỗi âm tố như vậy được thể hiện trong các
giai đoạn tĩnh tại gọi là giai đoạn giữ (tenure);



Trong mỗi âm tố còn có những giai đoạn chuyển tiếp ngắn do những cử
động mà các khí quan phát âm không thể không thực hiện để chuyển từ tư
thế này sang tư thế kia khi hai âm tố kế tiếp nhau;

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

ví dụ: t

33



r=tr

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Các giai đoạn tĩnh tại cho ta những âm tố chính danh gọi là âm tố chính vị
(speech sounds proper).



Khi phát âm, mục đích của người nói là phát ra những âm chính vị. Về lí
tưởng, sau khi cấu âm âm chính vị, người nói tạm ngừng việc cấu âm trong
một khoảng thời gian vừa đủ để cho các cơ quan phát âm chiếm lĩnh một vị
trí mới rồi mới phát âm tiếp.

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

34

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Tuy nhiên do định luật tiết kiệm năng lượng, việc phát âm vẫn tiếp diễn
trong khi việc thực hiện các động tác không cố ý đó, do đó vô tình phát ra
những âm kí sinh, gọi là âm trượt (glides);



Khi nghiên cứu, cần bỏ những âm kí sinh đó đi để phục hồi sự kế tiếp lí
tưởng của những giai đoạn chuyển tiếp ở nơi giáp ranh giữa các âm tố.

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

35

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Ngữ âm học truyền thống cho rằng có thể phân khúc ngữ lưu thành những
đoạn có ranh giới rõ ràng, trong đó phần giữa của phân khúc (phần tĩnh, ổn
định) là phần tiêu biểu của âm tố, và mọi âm tố bắt đầu đúng điểm kết thúc
của âm tố đi trước.

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

36

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Thực nghiệm cho thấy quan niệm này có chỗ không thật đúng: những khúc
băng từ cắt khúc đúng vào những đoạn không cho ta âm thanh tương ứng
với âm tố mà ta đã tưởng; chẳng hạn cắt [o] trong [mon] ra thì không nghe
là [o] mà nghe như là [pot]!

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

37

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Thực nghiệm cũng cho ta thấy những âm ‘kí sinh’mang nhiều thông tin hơn
hẳn giai đoạn tĩnh của các âm tố;



Tóm lại, ngữ lưu là sự chuyển động liên tục chứ không phải là một loạt
những giai đoạn tĩnh tại được nối với nhau bằng những đoạn chuyển tiếp (kí
sinh).

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

38

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Mọi hoạt động cấu âm đều được thực hiện đồng thời, trừ những nguyên nhân
sinh lí bất khả tiến hành đồng thời. Chẳng hạn, để phát âm âm tiết mlu: i) chúm
hai môi, nâng gốc lưỡi lên gần mạc để phát âm [u]; ii) nâng đầu lưỡi lên chạm
với chân răng cửa để phát âm âm [l]; iii) khép hai môi lại để cấu âm [m]; iv) dây
thanh rung.

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

39

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính
sơ đồ bố trí các yếu tố của âm tiết theo thời gian
m………….
l…………………
u…………………………….
thay cho sơ đồ cổ điển: m-l-u

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

40

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Hiện tượng đồng cấu âm (coarticulation) làm cho những đặc trưng tiêu biểu
của mỗi âm tố được phân bố trong nhiều âm đoạn kế tiếp nhau, khiến mỗi
âm đoạn thường chứa những đặc trưng của hai, ba âm tố > âm đoạn
nguyên âm chứa đựng cả những âm đoạn đi trước và cả sau nó.



Nếu phụ âm đi sau nguyên âm là một phụ âm tăc, không có giai đoạn kết
thúc rời khỏi vị trí cấu âm (buông) thì âm đoạn nguyên âm chứa tất cả
những đặc trưng tiêu biểu cho vị trí cấu âm của phụ âm đó.

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

41

2. NAH đoạn tính/không đoạn tính



Tính kế tiếp và tính đồng thời của các yếu tố lớn nhỏ trong âm tiết được thể
hiện không rõ ràng. Có thể tri giác những âm tố được thể hiện như sau (theo
Cao Xuân Hạo, 1985):

Âm tố C
Âm tố C
Âm tố V
Âm tố V

8/22/17

cuonglekhac@hcmussh.edu.vn

42