Tải bản đầy đủ
Chắp dính và loại suy

Chắp dính và loại suy

Tải bản đầy đủ

20

Trong trường hợp chắp dính, chúng nhấn mạnh quá trình đúc kết của
những yếu tố, do tiếp xúc nhau nên đã trải qua một sự tổng h ợp có th ể đi đ ến
chỗ xóa hẳn những đơn vị ban đầu.
Trong trường hợp loại suy, kết cấu có nghĩa lại được thực hiện xong ngay
trong một lúc, trong một hành động nói năng, do sự vay mượn nhi ều yếu tố
liên tưởng khác nhau.
Việc phân biệt kỹ hai phương thức cấu tạo này rất quan tr ọng. Và ch ỉ có
lịch sử mới có thể cung cấp cho ta tài liệu mà thôi. Tr ường h ợp nào mà nó cho
phép khẳng định rằng một yếu tố đơn trước kia vốn là hai hay nhiều y ếu tố
của câu, thì đó là hiện tượng chắp dính. Nhưng nếu thi ếu tài li ệu l ịch s ử, thì
rất khó xác định cái gì là hiện tượng chắp dính và cái gì ra đời do thể loại suy.
CHƯƠNG VIII: ĐƠN VỊ, ĐỒNG NHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG LỊCH ĐẠI
Ngôn ngữ học tĩnh trạng vận dụng những đơn vị tồn tại tùy theo s ự liên
kết đồng đại.Trong một chuỗi kế tục lịch đại không có những yếu tố được
phân định vĩnh viễn; bởi từ thời kỳ này sang th ời kỳ khác, chúng đ ược phân
phối rất khác; đó là hậu quả của sự chuyển biến ngữ âm, của th ế lo ại suy, của
hiện tượng chắp dính. Có thể hình dung bằng sơ đồ sau:
---

--- Thời đại A

---

--- Thời đại B

Ngược lại, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác chúng được phân phối khác
đi, do những biến cố xảy ra trong ngôn ngữ, có thể sơ đồ sau thích hợp hơn:
---

--- Thời đại A

---

--- Thời đại B

Điều đó có thể rút ra từ tất cả những gì đã nói ở trên v ề nh ững h ậu qu ả
của sự chuyển biến ngữ âm, của thế loại suy, của hiện tượng chắp dính... Có
hai hay ba hiện tượng riêng biệt, nhưng đều dựa trên một cách gi ải thuy ết các
đơn vị:
Việc tạo nên một từ loại mới - giới từ, và việc đó chỉ thực hiện b ằng cách
di chuyển các đơn vị đã có sẵn. Chẳng hạn: kata, ban đầu vốn độc lập, được

21

tập hợp với danh từ óreos, và nhóm này được nối với baíno để làm bổ ngữ cho
nó. Sự xuất hiện của một kiểu vị từ mới. Đây là sự tập hợp tâm lý mới, cũng
được chắp dính củng cố. Chẳng hạn: katabaíno.
Hậu quả tự nhiên:
- Ý nghĩa của biến tố sinh cách (óre-os) yếu đi;
- Chính katà sẽ có nhiệm vụ biểu đạt cái ý căn bản mà tr ước kia ch ỉ m ột
mình sinh cách đảm đương;
- Tầm quan trọng của biến tố -os do đó mà cũng bớt đi.
- Sự tiêu vong này của nó đã có mầm mống trong hiện tượng này.
Từ ba trường hợp trên, đúng là ta có một cách phân b ố m ới gi ữa các đ ơn
vị. Chất liệu thì vẫn như cũ, nhưng chức năng thì đã thay đổi. Và cần lưu ý,
không hề có sự chuyển biến ngữ âm nào đến gây nên sự di chuy ển các đ ơn v ị,
lần thứ nhất cũng như thứ hai. Âm thanh vẫn được duy trì, nhưng các đơn v ị
mang ý nghĩa không còn là những đơn vị trước kia nữa.
Sự biến hóa của dấu hiệu là một sự di chuy ển của mối quan h ệ gi ữa
năng biểu và sở biểu. Định nghĩa này có thể ứng dụng cho sự bi ến hóa c ủa
toàn bộ hệ thống, hiện tượng lịch đại nhìn toàn bộ chỉ là thế.
Các biến cố lịch đại vốn thuộc đủ các loại, người ta sẽ phải giải quyết rất
nhiều vấn đề, và những đơn vị mà người ta sẽ phân định trong lĩnh v ực này sẽ
không nhất thiết phải tương ứng với những đơn vị của lĩnh vực đồng đại.
Đặc biệt tế nhị, là vấn đề tính đồng nhất lịch đại. Chẳng hạn như từ
Pháp chaud cũng chính là yếu tố lấy ở một thời đại khác, chẳng hạn như từ La
Tinh calidum. Nếu hai người thuộc hai miền khác nhau của nước Pháp, người
thì nói se fâcher, người thì nói se fôcher, sự khác nhau này là rất thứ yếu so với
những sự kiện ngữ pháp cho phép ta nhận ra trong hai hình thái khác nhau này
như một đơn vị duy nhất và đồng nhất của ngôn ngữ.
Tính đồng nhất lịch đại của hai từ khác nhau như chaud và calidum chỉ có
nghĩa là người ta đã chuyển từ này sang từ kia xuyên qua một loạt tính đồng
nhất đồng đại trong lời nói, mà mối liên hệ giữa hai từ vẫn không bao gi ờ b ị
cắt đứt vì những sự biến hóa ngữ âm liên tiếp.

22

PHẦN PHỤ LỤC
A. Phân tích chủ quan và phân tích khách quan
Việc phân tích các đơn vị của ngôn ngữ được những người bản ngữ ti ến
hành thường xuyên có thể được gọi là phân tích chủ quan.
Hãy quan sát những điều đang diễn ra trong các ngôn ngữ hiện đại, trong
các hoạt động nói năng hàng ngày, và đừng gán cho nh ững th ời kỳ cũ x ưa của
ngôn ngữ một quá trình, một hiện tượng nào không thấy có trong hiện tại.
Trường phái mới sau khi đã nhận ra những nhược đi ểm của học thuyết
cũ, chỉ bác bỏ học thuyết này trên lý luận, còn trong thực ti ễn thì nó dường
như vẫn lúng túng trong một bộ sâu khoa học mà dù sao cũng không th ể
không dùng được.
B. Phân tích chủ quan và việc xác định các tiểu đơn vị
Trong lĩnh vực phân tích, chỉ có thể xác lập một phương pháp ho ặc th ảo
ra những định nghĩa sau khi đã tự đặt mình trên bình diện đồng đại.
Thân từ thường thường đã được phân định từ trước về phần mở đầu: Dù
chưa hề so sánh với các hình thái khác, người b ản ng ữ cũng bi ết ch ỗ đ ặt biên
giới giữa các tiền tố và phần còn lại. Đối với phần cu ối từ thì không ph ải nh ư
vậy: Ở đây, không có một biên gi ới hiển nhiên nào có th ể n ắm đ ược tr ước khi
đối chiếu những hình thái cùng có một thân từ hay một h ậu tố và nh ững s ự
đối chiếu đó sẽ dẫn đến những cách phân định khác nhau, tùy tính ch ất c ủa
những yếu tố được đối chiếu.
-Trên quan điểm phân tích chủ quan, các hậu tố và các thân từ có giá tr ị
chỉ là nhớ những sự đối lập ngữ đoạn và liên tưởng.
C. Từ nguyên học
Từ nguyên học là một sự ứng dụng đặc biệt của những nguyên lý có liên
quan đến những sự kiện đồng đại và lịch đại.
Để đi đến mục đích của nó, nó sử dụng tất cá các ph ương ti ện mà ngôn
ngữ học cung cấp cho nó nhưng lại không lưu ý đến các tính ch ất c ủa nh ững
thủ thuật mà nó buộc phải làm.