Tải bản đầy đủ
PHƯƠNG THỨC TU TỪ VĂN BẢN

PHƯƠNG THỨC TU TỪ VĂN BẢN

Tải bản đầy đủ



Bài “ Thu vònh” của Nguyễn Khuyến gồm 8 câu :
“ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phu,û
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghó ra lại thẹn với ông Đào.”
Trong bài thơ này, “cái hồn” , “cái thần” của cảnh
mùa thu được tất cả các câu thơ, mỗi một mảnh
đoạn của văn bản trong mối quan hệ hoà hợp góp
phần tạo nên.



Tiểu thuyết “ Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng có đoạn:
Xuân tóc đỏ điên tiết lên mà rằng :
“ - Thế ông, ông có là con nhà bình dân không ? Ừ, tôi xin
hỏi : Ông có phải dòng giống nhà bình dân không ? Ông lạ
lắm ! Ông không đúng mốt ! Phải biết cái gì là hợp thời
trang chứ !
Người kia ra vẻ hổ thẹn lắm ! Quần áo đã hủ lậu mà lại
đến cả dòng giống cũng con nhà tử tế không hợp thời
trang ! Thật là hỏng bét cả.”

Ở đây, giữa hai mảnh đoạn (lời đối thoại và lời kể
chuyện) có sự tương đồng về màu sắc phong cách :
lối nói khẩu ngữ, lối nói “bình dân, “tân tiến” của
kẻ vô học được tác giả nhại lại trong lời kể chuyện
nhằm tăng tính phi lí, nực cười, rởm đời của nhân vật.

5.1.2 Biện pháp tương phản
Là biện pháp tu từ văn bản trong đó giữa các mảnh đoạn
có sự khác nhau về đặc trưng tu từ hoặc đặc trưng phong
cách. sự tương phản có thể là về : màu sắc biểu cảm - cảm
xúc, về màu sắc phong cách, về các hình thức giao tiếp.
Ví dụ : Bài “Tiếng hát sông Hương” (Tố Hữu) có sử dụng
kiểu tương phản màu sắc - cảm xúc.

“ Trên dòng Hương Giang
Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương Giang…”
Mở đâu bài thơ là cái đẹp của đất trời, của con sông Hương .
Hình ảnh cô gái được lặp lại hai lần. Cái đẹp của thiên nhiên
và cả cái đẹp trong tâm hồn cô gái tương phản dữ dội với
cái xấu xa, nhơ nhớp trong cảnh sống của cô :

“ Trăng lên trăng đứng trăng tàn...
Thuyền em rách nát còn lành được không ?”
Khổ thứ 2 bắt đầu bằng câu đáp cất lên ngay sau câu hỏi.
Cả câu thơ toàn thanh sáng trong, tươi tắn, lạc quan.
“ Răng không cô gái trên sông...
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng.”

Lời giải đáp là một so sánh ngầm. Vế ẩn là hiện trạng buồn
khồ, đau thương. Vế rõ ràng là tương lai xán lạn. cả khổ thơ
này là tiếng hát của niềm tin, đối lập với khổ trên là tiếng
kêu ai oán .
Câu thơ cuối cùng là khổ thơ cuối cùng :
“Trên dòng Hương Giang...”
với ba chấm lửng, đối lập, tương phản với câu thơ đầu tiên,
mặc dù về hình thức là một. Vẫn cảnh cũ nhưng tâm trạng
người kó nữ đã khác xưa.

5.1.3 Biện pháp quy đònh
Là biện pháp tu từ văn bản trong đó mảnh đoạn
được đánh dấu về tu từ học xác đònh điệu tính tu từ
học toàn văn bản. Mảnh đoạn này thưòng ở vò trí
mạnh: Vò trí mở đầu hoặc vò trí kết thúc văn bản.
Ví dụ : Mảnh đoạn được đánh dấu tu từ học ở vò trí
mở đầu :



“ Khi viết những dòng này tôi đã thức tỉnh trong vài người
quen những cảm xúc mà thời gian đã xoá nhoà, và tôi đã
xâm phạm đến cõi yên tónh của nấm mồ của chính cha tôi.
Tôi buộc lòng làm vậy, và xin ngưòi đọc vì nể nang những
tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút
kém cỏi của tôi. Tình cảm này tôi xin nói trước là sự bênh
vực của tôi đối với cha mình.”
(Nguyễn Huy Thiệp - Tướng về hưu)



Đoạn văn mở đầu có giọng điệu kể chuyện khách quan,
chậm rãi, bình tónh, được thể hiện một phần trong kết cấu cú
pháp trung hoà, mạch lạc. Đoạn văn ở vò trí mở đầu chi phối
điệu tính toàn bộ câu chuyện sau đó:
“ Cha tôi tên Thuấn con trưởng họ Nguyễn. ng nội tôi
trước kia học nho, sau về dạy học. ng nội có hai vợ. Bà cả
sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông tôi phải tục
huyền...”



Một giọng điệu chậm rãi, sâu lắng, khách quan bao trùm đã
bộc lộ cảm xúc chủ đạo của nhân vật - người kể : tâm
trạng thì buồn, thái độ thì bình tónh, phân tích sự việc bằng lí trí
rõ ràng.



Tóm lại, các biện pháp tu từ văn bản có vai trò to lớn
trong việc lựa chọn sử dụng các phương tiện và biện pháp tu
từ ở các cấp độ thấp hơn như: ngữ âm, từ vựng, ngữ nghóa
cú pháp.