Tải bản đầy đủ
BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM

Tải bản đầy đủ



Giá trò biểu cảm của hình thức ngữ âm có được là nhờ biểu
tượng ngữ âm. Khi cấu tạo của một hình thức ngữ âm trong
những tương quan nhất đònh với nội dung biểu đạt có khả
năng gợi ra những liên tưởng phù hợp với nội dung biểu đạt
thì ta có biểu tượng ngữ âm.
Ví dụ : “ Đã yêu thì yêu cho chắc
Bằng như trúc trắc thì trục trặc cho luôn.” (CD)

4.2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA NHỮNG THÀNH TỐ TRONG CẤU TRÚC
ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT



Hệ thống thanh điệu tiếng Việt
Tiếng Việt có 6 thanh điệu. Trong hệ thống 6 thanh này tồn
tại hai sự đối lập cơ bản :
* Đối lập về âm điệu : Bằng (ngang, huyền) - trắc (ngã,
hỏi, sắc, nặng)
* Đối lập về âm vực : Cao (ngang, ngã, sắc) - thấp (huyền,
hỏi, nặng)
Sự đối lập về âm điệu và âm vực có vai trò rất quan
trọng trong thơ văn. Sự đối lập này chi phối tất cả các yếu
tố vận luật.

Khả năng thể hiện của thanh điệu rất lớn :
Ví dụ : Hai câu thơ của Tản Đà :
“ Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương.”
Luật hài hoà về thanh điệu thường là :
ngang - hỏi - sắc
huyền - ngã - nặng

Hệ thống nguyên âm



Tiếng Việt có 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi.
Trong hệ thống nguyên âm, tồn tại hai sự đối lập cơ bản:
* Đối lập về âm sắc : Trầm - bổng
Bổng : Các nguyên âm hàng trước không tròn môi (i, ê, e,
iê)
Trầm : Các nguyên âm hàng sau tròn môi (o, ô, u, uô)
Các nguyên âm hàng sau không tròn môi có âm sắc trung
hoà (a, ă)

Sự phân bố về âm sắc trong hệ thống nguyên âm tiếng
Việt

Bổng

Trung hoà

i

Trầm

ư
ia

u

ưa
ê

ua

ơ / â
e

ô
o

a / ă

Đối lập về âm lượng : Sáng - tối
Sáng : Các nguyên âm mở và hơi mở (a, ă, e, o)
Tối : Các nguyên âm khép (i, u)
Các nguyên âm hơi khép có âm lượng trung
hoà (ê, ô, iê, uô). Vì vậy, có một tiêu chí khác
là bổng - tối (i ), bổng - sáng (e), trầm - tối (u),
trầm - sáng (o),...
Những đối lập về trầm - bổng, sáng - tối có
một sức biểu hiện và gợi cảm rõ rệt.

Hệ thống phụ âm đầu và phụ âm cuối

– Phụ âm đầu

Các phụ âm đầu trong tiếng Việt không làm thành những
thế đối lập rõ như các nguyên âm. Những giá trò của nó so
với phần vần không phải luôn được củng cố.
Ví dụ : m th thường có trong những từ chỉ sự nhẹ nhàng
: tha thướt, thơ thẩn, thì thầm, thoang thoảng... Nhưng khi đi với
vần ôc lại mang nghóa mạnh của các từ có vần ôc: thốc,
tốc, cộc, xộc,

– Phụ âm cuối

m cuối giữ vai trò quyết đònh đối với âm hưởng của câu
văn, câu thơ. Tuỳ sự có mặt hay không có mặt của loại
âm cuối nào mà âm tiết phân thành 4 nhóm :
- m tiết mở : Không có phụ âm cuối
- m tiết hơi mở : Kết thúc bằng bán nguyên âm
- m tiết hơi khép : Kết thúc bằng các phụ âm mũi (m,
n, ng, nh)
- m tiết khép : Kết thúc bằng các phụ âm tắc vô
thanh (p, t, c, ch).

Trong các nhóm trên, đáng chú ý là cặp đối lập :
+ Giữa âm tiết khép và âm tiết mở
+ Giữa âm tiết khép và âm tiết nửa khép

Những câu thơ kết thúc bằng âm tiết khép thì rắn rỏi, đanh
chắc mà vẫn thiết tha. Trong bài thơ “Ngọn đèn đứng gác”
(Chính Hữu) có 27 dòng thì 13 dòng kết thúc bằng các âm
tiết khép :
“ Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt
Như những tâm hồn không bao giờ biết tắt
Như Miền Nam hai mi năm
Không đêm nào ngủ được
Như cả nước với Miền Nam đêm nào cũng thức.”

4.3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC KHUÔN
NGỮ ÂM - NGỮ NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT





Các công trình nghiên cứu cuả một số chuyên gia ngữ âm
học đã chỉ ra những biểu tượng ngữ âm chứa đựng sẳn trong
các khuôn vần: -ép, -úp, - um, -út, -it, -op, - ênh, -anh, -âm,
-ung, -inh, -âp, -ênh, -ô, -ât, -ương...
Ví dụ : - Nhiều từ đơn tiết có vần “op”mang một nghóa
chung là “giảm thể tích” hoặc “thu lại”: óp lại, móp, tóp, bóp,
xọp, cóp, góp, hóp...
- Khuôn “-uc -ăc” biểu tượng về sự không ăn khớp : lúc
lắc, trục trặc, ngúc ngắc, xục xặc, ngục ngặc...