Tải bản đầy đủ
Phân tích tu từ

Phân tích tu từ

Tải bản đầy đủ

Tạm dịch:



Một hình thức phân tích, bình luận có sử dụng các cơ sở lý luận của tu
từ học để tìm hiểu, xem xét sự tương tác (mối tương quan) giữa tác
phẩm , tác giả, và độc giả.



“Rhetorical analysis may be applied to virtually any text or image- a speech, an essay, an
advertisement, a poem, a photograph, a web page, even a bumper sticker. When applied to
a literary work, rhetorical analysis regards the work not as an aesthetic object but as an
artistically structured instrument for communication. As Edward P.J. Corbett has observed,
rhetorical analysis "is more interested in a literary work for what it does than for what it
is.“ (Richard Nordquist)

Lược dịch:



Phân tích tu từ có thể được áp dụng cho bất kỳ loại văn bản nào. Khi áp dụng để phân tích
một tác phẩm văn học, phân tích tu từ khơng tiếp cận với tư cách là một đối tượng thẩm mỹ
mà là như một kết cấu nghệ thuật dùng làm phương tiện giao tiếp. Như Edward PJ Corbett
đã nhận định, phân tích tu từ một tác phẩm văn học "là quan tâm nhiều hơn đến những gì
nó làm hơn là nó là gì."

Tóm lại:



Phân tích tu từ là tìm hiểu, xem xét cách tác giả lựa chọn, sử dụng ngơn từ. Người phân
tích tìm hiểu và giải thích cách nhà văn sử dụng các yếu tố ngơn từ để tạo ra một hiệu quả
nhất định, tìm hiểu về mục đích tu từ, về các phương tiện được sử dụng. Khi phân tích tu
từ, người ta ít quan tâm đến sự bình luận khen/ chê mà người ta quan tâm nhiều hơn đến
cách sử dụng ngơn từ để đạt được hiệu quả thẩm mỹ của tác giả.

8.2. Các bước phân tích





Đọc chậm và chú ý đến nhịp điệu, cách gieo vần (thơ có vần), quan sát kỹ các
hình thức biểu đạt bằng văn tự (thơ thị giác)…
Cảm nhận, nắm bắt cảm xúc, ý tưởng, chủ đề của tác phẩm
Phát hiện và phân tích các phương thức tu từ được sử dụng nhằm bộc lộ cảm
xúc, ý tưởng, chủ đề.

8.3. Vận dụng phân tích
Vận dụng kiến thức về tu từ để phân tích các bài thơ sau:
HOA THÁNG BA
Tháng ba nở trắng hoa xoan
Sáng ra mặt đất lan tràn mùi hương
Khơng em, anh chẳng qua vườn
Sợ mùi hương… sợ mùi hương…nhắc mình…
(Chế Lan Viên)

HỎI
Hữu Thỉnh

Tơi hỏi đất : Đất sống với đất như thế nào ?
- Chúng tơi tơn cao nhau.
Tơi hỏi nước : Nước sống với nước như thế nào ?
- Chúng tơi làm đầy nhau.
Tơi hỏi cỏ : Cỏ sống với cỏ như thế nào ?
- Chúng tơi đan vào nhau
Làm nên những chân trời.

Tơi hỏi người :
- Người sống với người như thế nào ?
Tơi hỏi người :
- Người sống với người như thế nào ?
Tơi hỏi người :
- Người sống với người như thế nào ?

BÀI 3 : NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
1. SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ
NGÔN NGỮ PHI NGHỆ THUẬT
1.1 Về hệ thống tín hiệu



Ngôn ngữ phi nghệ thuật (ngôn ngữ tự nhiên) của con
người có thể xác đònh như là một mã chung, phổ biến nhất,
tức hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng những tín
hiệu đó, mà con người dùng để vật chất hoá những ý nghó
tình cảm của mình.



Ngôn ngữ nghệ thuật là một mã phức tạp hơn là hệ thống
tín hiệu thứ hai, được cấu tạo nên tù hệ thống tín hiệu thú
nhất (ngôn ngữ tự nhiên). Mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác
phẩm là một phương tiện biểu hiện, mỗi yếu tố nhất thiết
tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của
tác phẩm.

1.2 Về chức năng xã hội
NGÔN NGỮ PHI NGHỆ THUẬT

Chức năng quan trọng nhất
là chức năng giao tiếp.

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

Chức năng thẩm mó xuất
hiện ở bình diện thứ nhất
đẩy chức năng giao tiếp
xuống bình diện thứ hai. Bản
thân khái niệm chức năng
thẩm mó là chức năng nghệ
thuật - hình tượng.