Tải bản đầy đủ
Biểu đồ 2.10 - Cơ cấu tổng dư nợ ngân hàng Vietcombank 2011-2014

Biểu đồ 2.10 - Cơ cấu tổng dư nợ ngân hàng Vietcombank 2011-2014

Tải bản đầy đủ

40
vụ mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ta. Về xuất khẩu, bên cạnh việc
phục vụ các ngành dầu khí và lương thực, Vietcombank chuyển trọng tâm khuyến
khích tăng nhanh tỷ trọng hàng xuất khẩu của các ngành công nghiệp nhẹ, công
nghiệp chế biến nhằm khai thác tốt nhất tài nguyên thiên nhiên cũng như tiềm năng lao
động của đất nước.
Hoạt động tín dụng XNK của Vietcombank được coi là hoạt động mang lại nhiều
lợi nhuận cho ngân hàng, nhưng đây cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro chi phối sự thành
công hay thất bại của ngân hàng. Với phương châm “Đi vay để cho vay” Vietcombank
đã tạo cho mình một nền tảng vững chắc, đó là nguồn vốn phong phú dồi dào hỗ trợ
các hoạt động TTQT của Vietcombank đặc biệt là hoạt động TTQT theo phương thức
tín dụng chứng từ.
Hoạt động tín dụng XNK của Vietcombank đã góp phần rất lớn vào việc hỗ trợ
các doanh nghiệp XNK của Việt Nam xuất/ nhập khẩu hàng hóa được nhanh chóng,
thuận lợi, đúng thời hạn và an toàn.
 Hoạt động TTQT theo phương thức L/C góp phần thúc đẩy các nghiệp vụ
ngân hàng khác cùng phát triển
Hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ đã góp phần phát triển và
đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh của Vietcombank. Một nguồn thu không nhỏ
của Vietcombank xuất phát từ hoạt động TTQT theo phương thức L/C và mức phí thu
được từ hoạt động TTQT theo phương thức L/C. Vietcombank đang tích cực phát
triển đa dạng các loại hình dịch vụ và đổi mới công nghệ.
Hiện nay, Vietcombank dang từng bước xây dựng và hoàn thiện các quy chế về
mở và sử dụng tài khoản, về hạn mức giao dịch và các quy chế thanh toán liên quan để
chuẩn hóa quy trình cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng phục vụ. Các
nghiệp cụ TTQT theo phương thức L/C được thực hiện nhanh chóng, thuạn tiện đáp
ứng được nhu cầu khách hàng là do sự thông suốt của hệ thống SWIFT và việc tập
trung quản lý tài khoản chuyển tuền đi đến tập trung, chương trình chuyển và nhận
tiền tự động. Hiện tại các nghiệp vụ khác nhau như thanh toán XNK, chuyển tiền cho
công ty, cá nhân, chuyển tiền cho các tổ chức tín dụng, nhờ thu, giao dịch ngoại hối

41
… đã được đáp ứng do phần lớp các điện giao dịch của Vietcombank được thực hiện
thông qua mạng SWIFT
Dịch vụ thẻ quốc tế phát triển với một tốc độ nhanh chóng thu hút hàng triệu
khách hàng sử dụng. Số lượng thẻ quốc rế phát hành cũng như doanh số chi tiêu của
thẻ thời gian qua ở Vietcombank đạt mức tăng trưởng khả quan và mức phí ròng thu
được từ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ quốc tế cũng không ngừng tăng lên.
Hoạt động bảo lãnh ở ngước ngoài của Vietcombank có sự tăng trưởng vượt bậc
về cả doanh số hoạt động và phí thu từ hoạt động bảo lãnh. Các loại hình bảo lãnh có
sự phát triển đa dạng như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, xác nhận L/C, L/C trả chậm... Nhìn chung, Vietcombank chỉ chấp nhận bảo
lãnh đối ứng của các NH nước ngoài có uy tín hoặc yêu cầu ký quỹ tiền gửi tại ngân
hàng. Hoạt động bảo lãnh của Vietcombank được duy trì ở mức độ an toàn, không để
xảy ra rủi ro mất mát vốn.
 Hoạt động TTQT theo phương thức L/C nâng cao uy tín của Vietcombank
trên trường quốc tế
Hoạt động của Vietcombank trong những năm qua đã có những phát triển đáng
kể cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, kết quả này đã góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế
đối ngoại của Việt nam với các nước khác. Vietcombank đã luôn tăng cường thiết lập
duy trì và phát triển quan hệ với các tổ chức tài chính và các ngân hàng trên thế giới
theo phương chân thiết thực và hiệu quả trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng
có lợi
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO
PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH
VIETCOMBANK

2.4.1. Ưu điểm trong việc phát triển hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng
chứng từ tại Sở giao dịch Vietcombank
Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng
Vietcombank trong thời gian qua đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Những
thành quả đó là do những nguyên nhân trực tiếp từ những ưu điểm nội tại và sự hoàn

42
thiện, thống nhất cao của quy trình thanh toán L/C tại Vietcombank. Những ưu điểm
nổi bật có thể nhận thấy là:
Thứ nhất, hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng
từ chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK tại
Vietcombank. Có được tỷ trọng lớn đó là do nghiệp vụ thanh toán này ngày càng
nhanh chóng về thời gian, độ chính xác và an toàn cao, và trên hết là có được sự tín
nhiệm của khách hàng. Mặt khác, uy tín của ngân hàng trên thị trường thanh toán quốc
tế là rất lớn.
Thứ hai, quy trình thanh toán L/C tại Vietcombank được vận hành bởi đội ngũ
cán bộ công nhân viên giỏi và trình độ cao. Hầu hết nhân viên phòng thanh toán quốc
tế có trình độ đại học, trình độ tiếng Anh, sử dụng thanh thạo mạng Swift với các ngân
hàng trên thế giới. Bên cạnh đó là tác phong làm việc và phong cách giao dịch với
khách hàng tận tình, văn minh, lịch sự, đồng thời rất năng động, hiện đại và hiệu suất
cao , sẵn sàn hướng dẫn khách hàng giải quyết mọi vướng mắc trong khâu dự thảo, ký
hợp đồng hay tư vấn cho khách hàng về các điều khoản trong thư tín dụng phù hợp và
có lợi nhất cho cả ngân hàng và khách hàng.
Thứ ba, Quy trình thanh toán L/C tại Vietcombank có được mối liên kết chặt
chẽ và rộng lớn với các đại lý và các ngân hàng trên toàn thế giới, do vậy quan hệ
thanh toán được mở rộng và thuận lợi. Vietcombank có mối quan hệ bạn hàng rộng
rãi với rất nhiều các ngân hàng trong và ngoài nước điều này tạo điều kiện thuận lợi
rất lớn trong việc phát triển hoạt động TTQT. Do vậy, Vietcombank có thể phát hành
chứng từ TTQT trực tiếp tới 8427 chi nhánh ngân hàng tại 88 quốc gia trên thế giới
Uy tín cao của Vietcombank trong TTQT được các ngân hàng toàn cầu thông báo
và xác nhận như Citybank, HSBC, Standard Chatered Bank, Fortis Bank, Natexis
Banque Populaire, Credit Suisse...
Chính điều đó chứng tỏ uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng lên trên thị
trường quốc tế và trong lòng khách hàng, giúp ngận hàng từng bước thâm nhập vào
thị trường quốc tế, từng bước mở rộng nghiệp vụ thanh toán quốc tế nói chung và
nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng. Nhờ khả
năng quản trị cùng tổ chức quy trình tối ưu, Vietcombank đã đưa ra bảng mức biểu phí

43
hấp dẫn nên có khả năng thu hút được nhiều khách hàng.
Thứ năm, Vietcombank là một trong những ngân hàng áp dụng những công nghệ
hiện đại trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại Việt Nam. Năm 2006, Vietcombank
đã nâng cấp và áp dụng công nghệ Corebanking T24 R06 khiến cho công việc xử lý
điện, truyền tải thông tin để xử lý các giao dịch TTQT trong nội bộ ngân hàng và với
bạn hàng được nhanh chóng, chính xác, thuận tiện.
Thành công trong việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại phục vụ cho sự
phát triển đi lên của Vietcombank và Trung tâm thanh toán nói riêng và đóng góp cho
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Sự thành công này đã được ghi nhận
khi Vietcombank được vinh dự nhận danh hiệu: “doanh nghiệp lớn ứng dụng công
nghệ thông tin hiệu quả trong hoạt động kinh doanh“ do Bộ thông tin và truyền thông
trao tặng.
Thứ sáu, chính sách chủ động phá giá tiền tệ theo hướng có lợi cho xuất khẩu là
một trong những yếu tố có tác động tích cực, kích thích hoạt động xuất khẩu của các
doanh nghiệp Việt nam.

2.4.2. Những hạn chế trong việc phát triển hoạt động TTQT tại Sở giao dịch
Vietcombank
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ của Vietcombank vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế
cần khắc phục
Thứ nhất, Sự vận dụng luật pháp quốc tế và luật phát quốc gia trong hoạt động
thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ chưa đồng bộ và còn tồn tại
nhiều bất cập. Nền kinh tế của nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cùng với sự
sửa đổi hình thành, hoàn thiện luật pháp nói chung và luật cho ngân hàng và các tổ
chức tín dụng nói riêng. Môi trường pháp lý chưa đồng bộ chưa thích hợp với các quy
định và chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các quy định của luật các tổ chức tín dụng vẫn
còn nhiều bất cập cần sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với sự phát triển. Hơn nữa,
kinh nghiệm về TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ gắn với thông lệ quốc tế
đối với nước ta còn mới mẻ và khá phức tạp, cần có thời gian để thực hiện kiểm

44
nghiệm và phát triển hoàn thiện theo từng bước. Cho đến nay, Việt nam chưa có Luật
hay quy định dưới luật dành riêng cho hoạt động TTQT nói chung và TTQT theo
phương thức tín dụng chứng từ nói riêng. Hiện nay. Các bên tham gia TTQT đều sử
dụng UCP 500 hoặc UCP 600 làm cơ sở quy định trách nhiệm và quyền hạn của các
bên tham gia. Các quy định cho hoạt động TTQT và hoạt động TTQT theo phương
thức tín dụng chứng từ hiện nằm rải rác ở các văn bản như : Bộ luật dân sự năm 1995,
Luật Thương mại năm 1997, Luật các TCTD năm 1997….
Các nước thường dựa trên điều khoản của UCP 500 và UCP 600 khi thực hiện
thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên tại mỗi quốc gia lại có một
hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh các quan hệ phát sinh phù hợp với phong tục
và tập quán của nước mình. Điều đó đã dẫn tới sự không thống nhất trong việc áp
dung phương thức tín dụng chứng từ tại mỗi quốc gia. Trong mọi hoạt động thì hiệu
lực của luật được sắp xếp theo trình tự từ cao đến thấp : Luật quốc tế, luật quốc gia,
thông lệ và tập quán quốc tế. UCP 500 và UCP 600 là những thông lệ và tập quán quốc
tế trong TTQT nên trong những trường hợp có sự đối nghịch giữa UCP và luật pháp
quốc gia thì luật quốc gia sẽ vượt lên trên và quyết định cuối cùng của tòa án địa
phương là quyết định cuối cùng.
Thứ hai, Nguồn nhân lực thực hiện hoạt động TTQT theo phương thức L/C của
Vietcombank có trình độ không đồng đều, Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc nâng
cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ quản lý cũng như đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công
tác TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ, song vẫn dễ nhận thấy rằng tư duy
kinh doanh, nghiệp vụ của Vietcombank đang còn có một khoảng cách xa so với trình
độ thế giới và các rủi ro trong quá trình hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng
chứng từ của Vietcombank chủ yếu bắt nguồn từ những nghiệp vụ cụ thể với những
con người cụ thể. Do trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sự hiểu biết pháp luật hoặc do ý
thức trách nhiệm không cao hoặc do thiếu đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công nhân
viên đã dẫn đến việc vi phạm các quy trình nghiệp vụ, cơ chế, pháp luật dẫn đến
những thất thoát trong quá trình hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ tại Vietcombank.
Thứ ba, Năng lực cạnh tranh của Vietcombank, thời gian qua, Vietcombank đã

45
không ngừng nâng cao năng lực tài chính, đầu tư cho các hoạt động phát triển mạng
lưới, thành lập mới các chi nhánh, phát triển hệ thống phòng giao dịch, tuy nhiên thị
phần của Vietcombank đang vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng đặc
biệt là thị phần TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ.
-

Về sản phẩm dịch vụ TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ : vẫn chưa

đa dạng, chủ yếu vẫn là các loại sản phẩm truyền thống, áp dụng chung cho mọi đối
tượng khách hàng. Các loại sản phẩm thiết kế riêng theo nhu cầu của khách hàng hầu
như không có. Sự phối kết hợp giữa các bộ phận nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ còn lỏng lẻo và chưa có hiệu
quả cao. Việc xây dụng đưa các sản phẩm mới vào kinh doanh còn chậm đặc biệt là
các sản phẩm mang tính đặc thù cho từng loại nhu cầu của khách hàng. Nguyên nhân
chính của việc này đó chính là tâm lý ngần ngại trong việc tiếp cận sản phẩm mới của
Vietcombank.
-

Về mức phí dịch vụ TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ: đây là một

trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của khách hàng, tuy nhiên Vietcombank chưa
có hệ thống thông tin về giá cả dịch vụ cụ thể của các ngân hàng đại lý để tư vấn hỗ
trợ cho khách hàng ngay khi lựa chọn hình thức giao dịch. Vietcombank chưa thực sự
quan tâm đến các chi phí của khách hàng đối với một giao dịch và chưa cho rằng phí
giao dịch là một yếu tố để cạnh tranh. Khi khách hàng có khiếu nại về các khoản phí
thanh toán bị trừ vào tiền hàng thì cán bộ Vietcombank chỉ biết xuất trình điện thông
báo của ngân hàng nước ngoài liên quan đến các khoản phí phải thu, điều này làm
khách hàng chưa hài lòng.
-

Về uy tín của Vietcombank đối với khách hàng trong và ngoài nước còn chưa

cao do thời gian thâm nhập vào hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ
còn ngắn. Trình độ cũng như kinh nghiệm hoạt động về lĩnh vực này còn hạn chế. Đặc
biệt, Vietcombank chưa quan tâm đúng mức đến công tác tiếp thị, quảng cáo về chức
năng, khả năng hoạt động của mình, chưa tạo ra được hình ảnh sâu rộng trong và ngoài
nước. Điều đó dẫn đến tâm lý rụt rè e ngại của một số khách hàng khi tiến hành hoạt
động TTQT

theo phương thức tín dụng chứng từ qua ngân hàng Vietcombank.

Vietcombank chưa có định hướng tổng thể về hoạt động kinh doanh đối ngoại, chưa xác

46
định rõ mục tiêu, chưa xác lập được chiến lược kinh doanh dài hạn với các kế hoạch cụ
thể trong chiến lược chung của mình.
-

Theo cam kết hội ngập từ ngày 1/4/2007 Việt nam sẽ cho phép các ngân hàng

100% vốn nước ngoài được hoạt động và thực hiện hầu hết các nghiệp vụ như một
ngân hàng nội địa. Hơn nữa, việc các ngân hàng TMCP phát triển nhanh về số lượng
cũng như quy mô taọ ra áp lực cạnh tranh lớn cho Vietcombank. Hoạt động TTQT
theo phương thức tín dụng chứng từ là một trong những thế mạnh của các ngân hàng
có 100% vốn nước ngoài do họ có những ưu thế nổi trội trong kinh nghiệm, mối quan
hệ với các ngân hàng đại lý, uy tín và sự tương quan về vốn. Tuy chỉ chiến 10% tín
dụng tại thị trường Việt Nam nhưng các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực rất mạnh
với 30% vốn chủ sở hữu trong hệ thống NHTM đang hoạt động tại Việt nam.
Thứ tư, các nghiệp vụ ngân hàng khác có liên quan chưa đa dạng. Thị trường tài
chính của Việt nam chưa hoàn thiện và có khoảng cách khá xa so với các nước trong
khu vực. Hoạt động khác trên thị trường vốn đặc biệt là thị trường chứng khoán còn
sơ khai. Hiệu quả hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ còn chưa cao
nguyên nhân là do lòng tin, lạm phát , lãi suất, mức độ cạnh tranh…. đã hạn chế sự
phát triển của dịch vụ này. Bên cạnh đó cán cân TTQT của Việt Nam luôn bị thâm hụt
dẫn đến sự mất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ ảnh hưởng đến khả năng chi trả
ngoại tệ của các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Vietcombank nói riêng
và nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh XNK. Hiện nay
nước ta chưa có một thị trường ngoại hối phát triển hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của
nó, nó mới ở dạng sơ khai kà thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Mặc dù đạt được
những kết quả đáng khích lệ song thị trường liên ngân hàng vẫn bộc lộ những hạn chế
ảnh hưởng đến nguồn ngoại tệ cũng cấp cho hoạt động TTQT theo phương thức tín
dụng chứng từ. Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng diễn ra theo một chiều khi
nào ngoại tệ dư thừa thì ngân hàng nào cũng bán và khi nào khan hiếm thì ngân hàng
nào cũng chào mua thậm chí có ngân hàng dư ngoại tệ cũng không bán. Điều này dẫn
đến nguồn ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng cung cấp cho hoạt động TTQT nói
chung và hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng trong những
thời điểm có biến động tỷ giác hoặc những thời điểm tập trung nhiều nghĩa vụ thanh
toán với nước ngoài bị hạn chế.

47
Thứ năm là sự xuất hiện lợi dụng và lừa đảo trong hoạt động TTQT theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Vietcombank. Khi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường,
nhận thức của các doanh nghiệp hoạt động XNK và của cán bộ thực hiện hoạt động
TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại Vietcombank còn hạn chế dẫ đến
những khe hở cho các tổ chức và cá nhân lợi dụng để lừa đảo. Nhiều sai sót kỹ thuật
đã xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng mở thư tín dụng như việc thiếu kiểm tra mẫu
giao dịch, kiểm tra không cẩn thận và không đầy đủ nên không phát hiện được những
yếu tố còn thiếu trong bộ chứng từ và Vietcombank vẫn căn cứ thanh toán bình thường
cho bên thụ hưởng. Trong các vụ chanh trấp TTQT theo phương thức tín dụng chứng
từ, Vietcombank thường phải gánh chịu thiệt hại về cả vật chất, uy tín và thậm chí cả
cán bộ. Khi là ngân hàng phát hành đến hạn phải trả hoặc bị ngân hàng nước ngoài
trích tài khoản thu nợ trong khi lại rất khó đòi người mở L/C. Trong một số trường
hợp, cán bộ ngân hàng bị coi là người liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc mất
tiền hoặc mất hàng và bị xử lý hình sự.
-

Đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ: việc xác định mức kỹ quỹ

cho từng đối tượng khách hàng mở L/C của Vietcombank còn chưa đồng nhất về mặt
tiêu chí. Các thông tin để quyết định hạn mức miễn giảm ký quỹ cho khách hàng còn
hạn chế và hiệu quả còn rất thấp. Việc ký quỹ chỉ là một trong những điều kiện đảm
bảo thanh toán nhưng không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro. Tỷ lệ ký quỹ cao không thể
thay thế kỹ thuật xử lý nghiệp vụ của cán bộ thanh toán. Vietcombank đã cấp hạn mức
mở L/c cho từng chi nhanh của mình. Tuy nhiên viêc thực hiện cấp hạn mức mới chỉ
dừng lại ở việc theo dõi số dư thanh toán L/C của từng chi nhánh chứ chưa đáp ứng
được việc cân đối ngoại tệ chung trong toàn hệ thống và chưa đạt được mục đích quản
lý rủi ro trong thanh toán hàng XNK của Vietcombank. L/C được mở bằng thư phần
lớn là sai chữ ký mẫu hoặc không có chữ ký đăng ký nên ngân hàng phải hỏi lại ngân
hàng phát hàng và gây chậm trễ trong việc thông báo cho khách hàng. Việc kiểm tra
chứng từ mà không có chuẩn mực chung giữa các ngân hàng nên thường có quan
điểm trái ngược gây tranh cãi giữa ngân hàng và khách hàng, nhiều trường hợp không
giải quyết được đã dẫn đến tranh chấp làm mất uy tín của Vietcombank.

• Trong thanh toán L/C hàng xuất: có nhiều trường hợp do lỗi của ngân hàng

48
không kiểm tra chứng từ hàng xuất cẩn thận để xảy ra sai sót chứng từ, còn nhà XK
thì lại quá dễ dãi chấp nhận những nội dung của L/C không chú ý đén các yếu tố gây
bất lợi như ngày và nơi hết hiệu lực L/C tại nơi ngân hàng phát hành, ngân hàng
trong nước chỉ là nơi xuất trình. Cán bộ làm công tác TTQT theo phương thức tín
dụng chứng từ tại Vietcombank chưa quan tâm đến giá cả cũng như tình hình thị
trường để có thể thận trọng hơn ngay từ khi mở L/C để khuyến cáo khách hàng trong
việc kiểm tra chứng từ trước khi thông báo cho nước ngoài cũng như thông báo cho
khách hàng nhập khẩu.

• Trong thanh toán L/C hàng nhập: Trong quan hệ thanh toán hàng nhập khẩu
qua ngân hàng hiện nay, bên cạnh những khách hàng có kiến thức và biết giữ chữ tín
với bạn hàng của họ, có tinh thần hợp tác, tôn trọng cam kết với ngân hàng phục vụ
mình vẫn còn không ít những nhà nhập khẩu do không am hiểu về buôn bán ngoại
thương, không có đủ kiến thức về TTQT kinh doanh theo thời vụ bỏ qua thông lệ
quốc tế biến ngân hàng phục vụ mình thành nơi gánh chịu các tranh chấp. Ngoài ra
do tính chất của L/C là việc thanh toán tiền hàng chỉ dựa trên bề mặt của bộ chứng từ
hoàn hảo nên khi nhà xuất khẩu cố tình lập bộ chứng từ để nhận tiền thậm chí nhà
xuất khẩu lập chứng từ giả để đòi tiền nhà nhập khẩu nhưng không giao hàng đã gây
tổn thất nặng nề cho nhà nhập khẩu. Đây cũng là một trong những nhược điểm của
phương thức thanh toán này và có thể gây rủi ro cho khách hàng cũng như gân hàng .
Do vậy. việc tìm hiểu kỹ về khả năng tài chính cũng như uy tín của nhà xuất khẩu đối
với nhà nhập khẩu và ngân hàng là rất quan trọng

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Trong những hạn chế mà ngân hàng Vietcombank hay bất kỳ một ngân hàng nào
mắc phải đều một phần xuất phát từ hai phía: nguyên nhân chủ quan trong bản thân
chính nội bộ ngân hàng và nguyên nhân khách quan do các yêu tố bên ngoài đem lại.
Các nguyên nhân này có tác động trực tiếp đến tính hiệu quả và sự phát triển của các
hoạt động TTQT trong ngân hàng Vietcombank nói chung và hoạt động TTQT theo
phương thức tín dụng chứng từ nói riêng.
* Các nguyên nhân khách quan
- Môi trường pháp lý chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và chưa phù hợp với thông lệ

49
quốc tế. Hệ thống pháp luật Việt nam tuy đã được khẩn trương xây dựng để đáp ứng
yêu cầu mới, nhưng hiện còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ chưa thật sự quan tâm đến
quy luật của thị trường và chuẩn mực quốc tế. Nhiều rào cản pháp lý vẫn còn, mà bản
thân các NHTM không thể tự tháo gỡ. Việc xây dựng hệ thống pháp luật cho phù hợp
với môi trường pháp lý WTO không phải chỉ đơn thuần vì Viêt nam gia nhập WTO,
mà thực chất là vì sự phát triển của chính nền kinh tế VN nói chung và của các NHTM
cũng như Vietcombank nói riêng. Đối với NHNN - cơ quan quản lý tiền tệ và hệ thống
NH thì việc xây dựng hệ thống pháp luật ngân hàng còn thiếu, chưa đồng bộ và khá
nhiều vấn đề chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều đó tạo ra thách thức phải sửa
đổi, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng theo nguyên tắc không phân
biệt đối xử của WTO. Cùng với việc mở cửa thị trường tài chính nội địa sẽ làm tăng
rủi ro thị trường do các tác động từ bên ngoài, từ thị trường tài chính khu vực và thế
giới, trong khi đó, năng lực điều hành chính sách tiền tệ, cũng như năng lực giám sát
hoạt động NH của NHNN còn hạn chế, bên cạnh đó là cơ chế quản lý vĩ mô còn chưa
đồng bộ, chưa hoàn thiện gây khó khăn cho NH khi tiến hành hoạt động TTQT như cơ
chế lãi suất, tỷ giá. Các công cụ của chính sách tiền tệ chưa được đổi mới theo hướng
linh hoạt, phù hợp với thị trường, các công cụ trực tiếp chưa hoàn toàn được thay thế
bằng các công cụ gián tiếp. Tình trạng đôla hoá vẫn ở mức cao. Những yếu tố đó đã
hạn chế hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước. Bên cạnh đó,
các khuôn khổ pháp lý đối với việc quản lý NN về hoạt động NH còn chưa đầy đủ,
chưa rõ ràng, minh bạch, tính thống nhất, thực thi không cao, chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế. Hệ thống thanh tra theo chuẩn mực quốc tế chưa được áp dụng. Các chính
sách liên quan đến hoạt động TTQT chưa đồng bộ. Chưa có văn bản nào của NN điều
chỉnh quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia hoạt động thanh toán XNK.
- Kiến thức về nghiệp vụ thanh toán XNK chưa được phổ cập rộng rãi trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam. Trình độ của cán bộ làm công tác
XNK ở các doanh nghiệp kinh doanh XNK chưa cao, thiếu thông tin về khách hàng;
chưa thông thạo về kỹ thuật buôn bán ngoại thương, không nắm vững được các thông
lệ quốc tế trong buôn bán quốc tế như và điều đó đã gây ra những rủi ro đáng tiếc như:
chọn nhầm đối tác; còn nhiều sơ hở khi ký kết hợp đồng; khi thương lượng ký kết hợp
đồng thương mại thường dễ dàng chấp nhận các phương thức thanh toán và điều kiện

50
thanh toán bất lợi cho mình; chấp nhận các bất lợi trong nội dung L/C nên đã dẫn đến
rủi ro trong thanh toán; dễ dãi cả tin và chạy theo lợi nhuận; Việc lập chứng từ hàng
xuất còn nhiều sai sót dẫn đến việc NH nước ngoài từ chối thanh toán. Nhận thức của
các doanh nghiệp Việt Nam về hoạt động TTQT còn nhiều hạn chế do việc có quá ít
kinh nghiệm trong đàm phán giao dịch quốc tế, nhiều doanh nghiệp còn xem nhẹ
những rủi ro có thể phát sinh từ hoạt động này, vì thế cũng làm cho rủi ro của hoạt
động này tăng lên. Nhiều thương vụ làm ăn với các đối tác nước ngoài không có sự
phân tích thẩm định kỹ cho nên không mang lại hiệu quả KT và doanh nghiệp phải
gánh chịu rủi ro. Một số doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết với ngân hàng,
một số doanh nghiệp không có khả năng thanh toán.
- Sự biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như: Trong năm 2008, trên thế giới
đồng USD giảm giá đầu năm rồi lại tăng giá cuối năm, giá vàng tăng đầu năm rồi lại
giảm vào cuối năm, giá dầu thô tăng rồi lại rớt giá nghiêm trọng vào cuối năm…ảnh
hưởng đến các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của Vietcombank. Đầu năm lạm phát
tăng cao đến cuối năm thì lại giảm phát. Tình hình kinh tế bất ổn khiến cho nhiều tổ
chức, doanh nghiệp lao đao. Các ngân hàng cũng hứng chịu những chính sách thay đổi
liên tục như thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Trung ương, tăng lượng dự trữ bắt buộc
trong các NHTM, đặc biệt là sự khan hiếm ngoại tệ vào cuối năm 2008 làm ảnh hưởng
đến lượng tiền mặt và ngoại tệ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các ngân hàng,
trong đó có ngân hàng Vietcombank, cụ thể là ảnh hưởng đến các nghiệp vụ thanh toán
XNK của Vietcombank.Bước sang năm 2014, tình hình kinh tế thế giới cũng như
trong nước đã được cải thiện và thoát dần khỏi khủng hoảng, tuy nhiên để đạt trở lại
tốc độ tăng trưởng vào thời kỳ cao nhất trước khủng hoảng vẫn cần một thời gian hồi
phục. Sự chênh lệch tỷ giá ngoại tệ ngân hàng công bố và thị trường chợ đen đã được
giảm xuống và tiến tới sự chênh lệch này sẽ được xóa bỏ nhưng sự khan hiếm ngoại tệ
trên thì trường vẫn là điều luôn có khả năng xảy ra. Dư âm của cuộc khủng hoảng tiền
tệ năm 2008 đã để lại những vết thương và ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình XNK của
các doanh nghiệp trong nước.
Ngoài ra còn rất nhiều nguyên nhân khách quan khác tác động tiêu cực đến hoạt
động TTQT của ngân hàng Vietcombank như các yếu tố về chính trị, văn hóa, xã hội,
mà ngân hàng phải xem xét và tính đến.