Tải bản đầy đủ
Biểu đồ 2.7 - Doanh thu TTQT theo phương thức L/C / Tổng doanh thu TTQT

Biểu đồ 2.7 - Doanh thu TTQT theo phương thức L/C / Tổng doanh thu TTQT

Tải bản đầy đủ

36
hoạt động TTQT theo phương thức L/C có xu hướng giảm qua các năm từ 2010 đến
2014. Điều này cho thấy một đồng chi phí Vietcombank bỏ ra cho hoạt động TTQT
theo phương thức L/C đã mang lại hiệu quả cao hơn qua từng năm
2.3.2. Chỉ tiêu định tính
Bên cạnh những chỉ tiêu định lượng đã được phân tích ở 2.3.1 thì chỉ tiêu định
tính cũng là một hệ thống chỉ tiêu quan trọng để đánh giá toàn diện hiệu quả do hoạt
động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ mang lại cho ngân hàng.
Những chỉ tiêu định tính cho biết sự phát triển của hoạt động khác mà trong đó hoạt
động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ có vai trò hỗ trợ hoặc là
một tác nhân có tác động mang tính tích cực.
 Hoạt động TTQT theo phương thức L/C góp phần tăng cường và củng cố
nguồn vốn ngoại tệ cho ngân hàng
Sự phát triển hoạt động TTQT của ngân hàng Vietcombank trong những năm
qua gắn với sự tăng trưởng các sản phẩm dịch vụ liên quan đến ngoại tệ như vay và
cho vay trên thị trường tiền tệ, đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán thẻ, séc, chi trả
kiều hối, thị trường vốn trong và ngoài nước… các nghiệp vụ này góp phần tạo ra sự
thay đổi cả về chiều rộng và chiều sâu trong quan hệ với khách hàng trong nước và
quốc tế
Biểu đồ 2.8. - Tổng nguồn vốn ngoại tệ Vietcombank từ 2010-2014
(Đơn vị : Tỷ đồng)

37

(Nguồn: Báo cáo thường niên Vietcombank 2010-2014)
Từ biểu đồ 2.8 cho thấy xu hướng tăng qua các năm của tổng nguồn vốn ngoại tệ
của Vietcombank. Năm 2010 tổng nguồn vốn ngoại tệ của Vietcombank đạt 5.246 tỷ
quy đồng , nhưng 3 năm sau đó, vào năm 2012 tổng nguồn vốn ngoại tệ của
Vietcombank đã tăng trưởng lớn gấp gần 1.5 lần và đạt gần 6.200 tỷ quy đồng. Xu
hướng tăng đều qua các năm của tổng nguồn vốn ngoại tệ cho thấy tác động tích cực
của hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ đến tổng nguồn
vốn ngoại tệ. Tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 33% vào năm 2012, đây là tín hiệu tốt
của thị trường đang hồi phục và giữ ổn định trong năm 2013-2014.
 Hoạt động TTQT theo phương thức L/C thúc đẩy nghiệp vụ kinh doanh
ngoại tệ của ngân hàng phát triển
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một trong những nỗ lực của Vietcombank trong
việc đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
Vietcombank đã thực hiện giao dịch với nhiều loại ngoại tệ khác nhau như USD,
AUD, JPY, EUR,… Hoạt động mua bán ngoại tệ được quản lý tập trung tại hội sở
chính, theo đó các giao dịch mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng chỉ được
thực hiện tại hội sở chính. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã được Vietcombank
chuyên nghiệp hóa với việc áp dụng hệ thống công nghệ phần mền có tính năng xử lý
trực tuyến và theo đó các giao dịch được tự động cập nhật từ chương trình giao dịch
vào chương trình quản lý, kiểm soát hạn mức, phê duyệt và chuyển tự động trên máy.

38
Hoạt động mua bán ngoại tệ bán lẻ phục vụ doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân
được thực hiện tại tất cả các chi nhanh trên phạm vi toàn quốc nhằm phục vụ tốt nhất
nhu cầu của khách hàng với nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng như giao ngay, kỳ hạn,
tương lai, quyền chọn, hoán đổi. Thông qua việc quản lý các nguồn ngoại tệ thnah
toán, đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của các chi nhánh, doanh số kinh doanh ngoại tẹ
hàng năm đều tăng, đảm bảo góp phần cân đối nguồn ngoại tệ cho toàn hệ thống và
nâng cao tỷ trọng thu nhập của ngân hàng
Trong giai đoạn 2011- 2014, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Vietcombank có
nhiều thuận lợi do kinh ngạch XNK của Việt Nam tăng mạnh, nguồn kiều hối dồi dào.
Doanh thu do hoạt động kinh doanh ngoại tệ mang lại đã góp phần làm tăng tổng
doanh thu chung của ngân hàng.
Biểu đồ 2.9 - Doanh số kinh doanh ngoại tệ ngân hàng Vietcombank 2011-2014
Đơn vị : tỷ USD

(Nguồn
:

Báo

cáo

thường

niên

Vietcombank 2011-2014)
Từ biểu đồ 2.9. cho thấy xu hướng tăng đều qua các năm của doanh số kinh
doanh ngoại tệ. Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt từ 27% đến 33%. Doanh số kinh
doanh ngoại tệ năm 2011 mới chỉ dừng lại ở con số xấp xỉ 34,5 tỷ USD nhưng vào
năm 2014 con số này đã lên tới 48,7 tỷ USD – gấp 1,5 lần doanh số kinh doanh ngoại
tệ vào 5 năm về trước. Giai đoạn này là năm khó khăn cho nền kinh tế nói chung và
cho hoạt động của ngân hàng nói riêng, tình trạng khan hiếm ngoại tệ liên tục xảy ra
và tỷ giá bất ổn định. Tuy nhiên yếu tố tỷ giá không ổn định chính là sự kích thích cho
hoạt động kinh doanh ngoại tệ và dưới con mắt nhà đầu tư thì đây cũng chính là cơ hội

39
sinh lời. Đó là lý do cho doanh số kinh doanh ngoại tệ của Vietcombank không những
không giảm sút mà còn tăng trưởng khá đồng đều.
 Hoạt động TTQT theo phương thức L/C góp phần thúc đẩy hoạt động
tín dụng XNK của ngân hàng
Bảng 2.8: Tổng dư nợ cho vay XNK của Vietcombank 2011 – 2014
Đơn vị : Tỷ VND
Năm

2011

2012

2013

2014

Tổng dư nợ

209.418

241.163

278.357

323.332

Tổng dư nợ XNK

63.516

75.123

78.241

86.352

Tổng dư nợ khác

145.902

165.950

200.116

236.980

(Nguồn : Báo cáo thường niên Vietcombank 2011-2014)
Biểu đồ 2.10 - Cơ cấu tổng dư nợ ngân hàng Vietcombank 2011-2014

(Nguồn : Báo cáo thường niên Vietcombank 2011-2014)
Hoạt động tín dụng XNK luôn duy trì một tỷ lệ ổn định từ 20%- 30% trong tổng
dư nợ cho vay khách hàng của Vietcombank. Tuy tổng dư nợ của Vietcombank từ năm
2011 – 2014 tăng nhanh nhưng tốc độ tăng của dự nợ XNK bằng tốc độ tăng của tổng
dư nợ do đó hoạt động tín dụng XNK luôn chiếm một tỷ lệ ổn định. Nhận thức được
điều này, Vietcombank đã không ngừng hoàn nhằm đảo bảo các yêu cầu đặt ra cho một
NHTM với hoạt động XNK. Định hướng của Vietcombank thời gian qua và trong
những năm tới là tạo điều kiện cho các đơn vị nhập khẩu các thiết bị vật tư hàng hóa
để trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại nhằm đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dung
trong nước đạt chất lượng cao và hàng hóa xuất khảu đạt tiêu chuẩn quốc tế để phục