Tải bản đầy đủ
4 Đánh giá thực trạng rủi ro trong thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

4 Đánh giá thực trạng rủi ro trong thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

Tải bản đầy đủ

40

hiệp ước Basel để bảo vệ vốn và thu nhập trước những biến động của các nhân tố
thị trường.
Thứ năm, tỷ lệ sai sót chứng từ lần đầu tiên xuất trình tại SeABank giảm dần
trong giai đoạn 2012 – 2014. Chất lượng thanh toán TDCT được cải thiện và nâng
cao, nhà nhập khẩu giảm bớt được các chi phí liên quan đến kiểm tra chứng từ,
nhanh chóng nhận được thanh toán từ bên xuất khẩu. Thêm vào đó, các chuyên viên
TTQT đã tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng các bộ chứng từ nước ngoài gửi về, đảm bảo
không có sai sót trước khi thông báo cho nhà nhập khẩu và tiến hành thanh toán cho
nước ngoài.
2.4.2

Những mặt còn tồn tại
Tuy đã nỗ lực hết mình trong công tác quản trị rủi ro thanh toán TDCT,

nhưng tại SeABank vẫn tồn tại 1 số hạn chế cần khắc phục như sau:
Thứ nhất, tỷ lệ BCT xuất trình lần đầu tiên tại SeABank bị sai sót vẫ còn khá
cao, chiếm khoảng hơn 70% tổng số bộ chứng từ được xuất trình. Như vậy, trong
mười BCT xuất trình thì chỉ có khoảng hai đến ba bộ là phù hợp ngay từ lần xuất
trình đầu tiên. Điều này làm cho thời gian thanh toán TDCT bị chậm lại, đồng thời
khách hàng sẽ phải chịu nhiều khoản phí hơn. Cùng với đó, việc Ngân hàng phải
kiểm tra bộ chứng từ nhiều lần cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của mình.
Ngoài ra, ở một số chi nhánh, tình trạng chuyên viên TTQT không nhận biết được
tất cả các lỗi sai trên chứng từ cũng gây ra những rủi ro cho SeABank khi tiến hành
thanh toán.
Thứ hai, rủi ro đạo đức trong thanh toán TDCT của SeABank vẫn đang còn
tồn tại trong 3 năm quá. Khách hàng của SeABank vẫn gặp phải các rủi ro do không
tìm hiểu kỹ càng về uy tín của đối tác, dẫn đến những rủi ro đáng tiếc trong việc
giao nhận hàng hóa như hàng kém chất lượng. Việc nhà xuất khẩu cấu kết với hang
tàu để lập bộ chứng từ hoàn hảo, sai lệch với thực tế hàng hóa vẫn còn mặc dù
không nhiều. Việc nhà xuất khẩu không làm đúng cam kết, giao hàng không đúng
quy cách phẩm chất, gây ra những thiệt hại về tài chính đối với nhà xuất khẩu đồng
thời gây ra những thiệt hại đối với Ngân hàng.

41

Thứ ba, hiện nay SeABank vẫn thường xuyên rơi vào tình trang thiếu nguồn
ngoại tệ trong thanh toán quốc tế. Kết quả là SeABank phải vay vốn trên thị trường
liên ngân hàng, đẩy lãi suất cho vay khách hàng để thanh toán TDCT tăng lên, giảm
sức cạnh trang của Ngân hàng với các ngân hàng thương mại khác trên thị trường.

42

2.4.3

Nguyên nhân những rủi ro trong thanh toán TDCT tại SeABank

2.4.3.1

Nguyên nhân từ phía khách hàng

Một số nguyên nhân rủi ro từ phía khách hàng của SeABank có thể kể tới như sau:
Do thiếu thông tin: việu thiếu thông tin và thiếu các mối quan hệ với đối tác
nước ngoài làm cho các doanh nghiệp Việt Nam không lựa chọn được những khách
hàng tốt, có tín nhiệm trong quan hệ thương mại quốc tế. Vì vậy khi đã xảy ra rủi ro
rồi mới nhờ các cơ quan chức năng xác minh tư cách của đối tác nước ngoài, nhiều
trường hợp chỉ là các công ty "ma", hoặc lừa đảo lấy tiền của khách hàng Việt Nam
xong là giải thể. Kinh doanh trên thị trường quốc tế tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, các
doanh nghiệp muốn đứng vững đòi hỏi phải nắm được khả năng tài chính cũng như
uy tín của đối tác để xây dựng được mối quan hệ làm ăn lâu dài. Tại Việt Nam hiện
nay thì hầu hết các doanh nghiệp đều gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận thông
tin thị trường dẫn tới gặp phải rủi ro trong thanh toán quốc tế.
Do trình độ nghiệp vụ còn yếu kém: theo một số báo cáo thống kê mới nhất
cho thấy hơn 60% cán bộ làm nghiệp vụ thanh toán tại các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu chưa được đào tạo về nghiệp vụ ngoại thương. Đây chính là nguyên nhân dẫn
tới những sai sót từ khâu soạn thảo hợp đồng tới trình tự thanh toán.
Do khách hàng thiếu trung thực: những rủi ro đạo đức của khách hàng Việt
Nam chủ yếu bắt nguồn từ sự thiếu trung thực của họ. Một số khách hàng vì lợi ích
trước mắt mà đã vi phạm những cam kết với ngân hàng. Hàng hóa đã bán hết nhưng
họ không nộp tiền vào trả nợ ngân hàng mà đã sử dụng vào mục đích khác. Hoặc lại
dùng cính những lô hàng nhập khẩu về để thế chấp vay vốn ngân hàng khác. Không
ít trường hợp khách hàng đã cố tình từ chối thanh toán trái với thông lệ quốc tế làm
ảnh hưởng không ít tới uy tín của SeABank
2.4.3.2

Nguyên nhân từ phía Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

43

Tồn tại nhiều vướng mắc về chế độ và thủ tục mở L/C: SeABank đã quy định
hạn mức tín dụng và hạn mức mở L/C đối với khách hàng nhằm quản lý việc phát
hành L/C, song cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp. Thực tế có nhiều doanh
nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động kinh doanh rất tốt và hạn mức được quy định
khong đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của những doanh nghiệp này, việc chờ hội sở
chính phê duyệt mức tín dụng nhiều khi làm cho việc mở L/C bị chậm trễ, gây ra
những hậu quả như khách hàng nước ngoài thấy giá cả tăng hoặc do không chuẩn bị
được hàng hóa đã lấy lý do doanh nghiệp Việt Nam không mở L/C đúng hạn để từ
chối giao hàng gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.
Công tác thẩm định tài chính dự án chưa được coi trọng đúng mức: đối với
những L/C trả chậm nhập khẩu máy móc thiết bị dây truyền sản xuất thì công tác
thẩm định dự án đầu tư đóng vai trò quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp và giảm rủi ro cho ngân hàng. Tại SeABank, thẩm định tài chính dự án luôn
được quan tâm xem xét, tuy nhiên vẫn tồn tại tình trạng thẩm định dự án chưa kĩ
càng. Nguyên nhân chủ yếu là do muốn duy trì quan hệ với khách hàng truyền
thống mà bỏ qua một số bước của quy trình thẩm định, hoặc do trình độ thẩm định
của cán bộ ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của việc nghiên cứu, thẩm định
dự án. Chất lượng thẩm định dự án chưa cao là yếu tố gây ra rủi ro đối với thanh
toán quốc tế tại SeABank.

44

Kinh doanh ngoại tệ chưa đáp ứng được nhu cầu thanh toán L/C: những quy
định hiện nay về kinh doanh ngoại tệ của SeABank cũng có nhiều điểm gây cản trở
cho nghiệp này, mà nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có phát triển thì mới hỗ trợ tốt
cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo L/C. Nhằm mục đích quản lý tập trung nguồn
ngoại tệ trong toàn hệ thống, SeABank đã quy định hạn mức số dư ngoại tệ trên tài
khoản, nếu các chi nhánh vượt quá hạn mức này thì phải chuyển về hội sở chính của
Ngân hàng. Ngoài ra, trong bối cảnh chung, nền kinh tế Việt Nam thường xuyên
mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tình trạng nhập siêu kéo dài dẫn tới cung
ngoại tệ không đủ đáp ứng cầu ngoại tệ. Vì thế dẫn tới khó khăn đối với quá trình
thanh toán quốc tế của SeABank.
2.4.3.3

Nguyên nhân trên góc độ vĩ mô
Môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C còn chưa

được hoàn thiện: hành lang pháp lý cho thanh toán quốc tế nói riêng và cho hoạt
động ngân hàng nói chung còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ. Hơn nữa điều kiện
để thực thi luật còn chưa đầy đủ, chúng ta chưa có riêng một quy chế, văn bản pháp
lý hướng dẫn thực hiện giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu. Sự khác biệt giữa luật
quốc gia với các điều kiện và thông lệ quốc tế gây khó khăn cho các bên tham gia
L/C. Bộ luật UCP600 điều chỉnh quy trình trong thanh toán quốc tế vẫn còn gây
nhiều tranh chấp, có những quy định mà có thể hiểu theo cách nào cũng đúng, hoặc
là bản thân UCP 600 có những điều khoản mà người không chuyên ngành có thể
hiểu sai.

45

Môi trường pháp luật: Hiện tại ở Việt Nam, chưa có quy định riêng về thanh
toán quốc tế trong một Bộ luật, Pháp lệnh hay Nghị định nào cả, các quy định của
Pháp luật về thanh toán quốc tế nằm rải rác ở các văn bản chủ yếu như luật dân sự,
luật thương mại, … điều này gây khó khăn cho các bên liên quan tham chiếu và
nghiên cứu đủ các quy định về thanh toán quốc tế, sai sót trong thanh toán hoàn
toàn có thể xảy ra. Trong khi đó ở các nước, người ta đã xây dựng Luật hay các văn
bản dưới luật điều chỉnh riêng cho phương thức thanh toán bằng L/C có tính tới
thông lệ quốc tế và đặc thù của nước họ.
Các văn bản quy định về hoạt động xuất nhập khẩu, biểu thuế quan không ổn
định, cùng với hiệu lực thi hành của pháp luật kém dẫn tới việc người bán và người
mua không làm tròn trách nhiệm của mình theo phương thức thanh toán bằng L/C.
Chính sách thương mại chưa ổn định: chính sách thương mại không ổn định,
gây khó khăn cho ngân hàng. Có những mặt hàng năm nay cho phép nhập nhưng
năm sau lại không cho phép nhập nữa làm cho các doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng
nhập khẩu với nước ngoài rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Thủ tục hành
chính trong quản lý xuất nhập khẩu còn rườm rà, mất nhiều thời gian, gây phiền toái
thậm chí làm lỡ mất nhiều cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp và ngân hàng.
Chính sách tỷ giá hối đoái: việc tỷ giá thay đổi, bất ổn định gây khó khăn đối
với việc thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng. Việc
điều chỉnh tỷ giá và biên độ dao động tỷ giá là cần thiết, tuy nhiên những sự đột
biến về tỷ giá trong thời gian qua với bối cảnh kinh tế thế giới nói chung và kinh tế
Việt Nam nói riêng đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp nhập
khẩu, đặc biệt là với các doanh nghiệp mở L/C mua hàng trả chậm nước ngoài, vì
tiền hàng thu được là đồng VND nhưng khi tới hạn thanh toán phải chuyển đổi ra
USD để thanh toán cho đối tác.

46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 của chuyên đề đã tập trung phân tích thực trạng rủi ro trong thanh
toán TDCT của SeABank, những biện pháp SeABank đã áp dụng để hạn chế rủi ro.
Đồng thời, đưa ra những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân
của những rủi ro còn tồn tại đó.
Vậy giải pháp nào để hạn chế rủi ro trong thanh toán TDCT là phù hợp cho
SeABank? Ngân hàng cần định hướng phát triển cũng như cần những giải pháp kiến
nghị nào? Tất cả sẽ được thể hiện trong chương 3 của chuyên đề “Giải pháp hạn
chế rủi ro trong thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á”.

47

CHƯƠNG 3.

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á
3.1

Định hướng phát triển hoạt động thanh toán Tín dụng chứng từ tại

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á giai đoạn 2015 -20120
3.1.1

Định hướng phát triển hoạt động TTQT của SeABank giai đoạn 2015 –

2020
Trong giai đoạn sắp tới, nền kinh tế được dự báo sẽ có nhiều khởi sắc. Cùng
với đó, việc hướng tới xây dựng cộng đồng kinh tế chung của các nước ASEAN là
một điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương kinh tế được đẩy mạnh. Nền
kinh tế Việt Nam nói riêng cũng đang có nhiều dấu hiệu tích cực, lạm phát được
kiểm soát, đặc biệt năm 2014, nước ta đã xuất siêu khoảng 2 tỷ USD. Đây thực sự
là những tín hiệu tốt cho nền kinh tế. Tuy nhiên khi kinh tế càng hội nhập sâu rộng
thì Việt Nam – một nước đang phát triển cần phải nỗ lực rất nhiều để hạn chế được
những rủi ro cho mình. Nhìn nhận được những vấn đề này, SeABank đã đưa ra
phương hướng hoạt động TTQT trong giai đoạn 2015 – 2020 như sau:

48

- Tiếp tục tăng trưởng nguồn vốn huy động, khuyến khích tăng các nguồn vốn có lãi
suất huy động thấp nhằm hạ lãi suất bình quân đầu vào của SeABank. Đồng thời
tăng trưởng dư nợ lành mạnh, an toàn, hiệu quả, nâng cao chât lượng tín dụng và
giảm thiểu rủi ro.

- Mở rộng hoạt động TTQT, hướng tới các thị trường mới, đổi mới công nghệ, thay
đổi quy trình thanh toán. Rõ ràng hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng
thương mại không thể nào tách rời hoạt động ngoại thương. Do đó để hoạt động
TTQT phát triển thì tất yếu SeABank phải đẩy mạnh hoạt động ngoại thương, tiếp
cận với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của mình.

- Mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý. Ngân hàng đại lý là nhân tố không thể thiếu
trong việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế của một ngân hàng. Một ngân
hàng có hệ thống ngân hàng đại lý đủ phát triển thì mới có thể thúc đẩy được các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu quan hệ với ngân hàng đó. Hiện tại SeABank mới chỉ
có khoảng hơn 200 ngân hàng đại lý, do đó để cạnh tranh với các ngân hàng thương
mại khác thì đây là một tất yếu.

- Mở rộng thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp. Không chỉ tài trợ về vốn,
SeABank còn hướng tới sẽ là Ngân hàng tài trợ về tư vấn hoàn hảo cho các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang
hướng tới một số thị trường ở Trung Đông và Mỹ La tinh. Đây là những thị trường
mới, đòi hỏi Ngân hàng phải có khả năng tư vấn tốt giúp các doanh nghiệp hoạt
động hiệu quả hơn. Hệ thống ngân hàng đại lý cũng sẽ được SeABank chú trọng ở
những khu vực mới này.