Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á

Tải bản đầy đủ

48

- Tiếp tục tăng trưởng nguồn vốn huy động, khuyến khích tăng các nguồn vốn có lãi
suất huy động thấp nhằm hạ lãi suất bình quân đầu vào của SeABank. Đồng thời
tăng trưởng dư nợ lành mạnh, an toàn, hiệu quả, nâng cao chât lượng tín dụng và
giảm thiểu rủi ro.

- Mở rộng hoạt động TTQT, hướng tới các thị trường mới, đổi mới công nghệ, thay
đổi quy trình thanh toán. Rõ ràng hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng
thương mại không thể nào tách rời hoạt động ngoại thương. Do đó để hoạt động
TTQT phát triển thì tất yếu SeABank phải đẩy mạnh hoạt động ngoại thương, tiếp
cận với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của mình.

- Mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý. Ngân hàng đại lý là nhân tố không thể thiếu
trong việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế của một ngân hàng. Một ngân
hàng có hệ thống ngân hàng đại lý đủ phát triển thì mới có thể thúc đẩy được các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu quan hệ với ngân hàng đó. Hiện tại SeABank mới chỉ
có khoảng hơn 200 ngân hàng đại lý, do đó để cạnh tranh với các ngân hàng thương
mại khác thì đây là một tất yếu.

- Mở rộng thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp. Không chỉ tài trợ về vốn,
SeABank còn hướng tới sẽ là Ngân hàng tài trợ về tư vấn hoàn hảo cho các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang
hướng tới một số thị trường ở Trung Đông và Mỹ La tinh. Đây là những thị trường
mới, đòi hỏi Ngân hàng phải có khả năng tư vấn tốt giúp các doanh nghiệp hoạt
động hiệu quả hơn. Hệ thống ngân hàng đại lý cũng sẽ được SeABank chú trọng ở
những khu vực mới này.

49

- Tiếp tục tăng cường hoạt động tại thị trường truyền thống. Việt Nam và các nước
ASEAN đang hướng tới một cộng đồng kinh tế chung trong năm 2015 này. Như
vậy việc quan hệ kinh tế tốt với ngân hàng và doanh nghiệp trong khu vực là điều
SeABank đặt ra cho toàn hệ thống. Tại Việt Nam, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
vẫn là dầu thô, gạo, một số mặt hàng nông sản, thuỷ sản, linh kiện điện tử, vi tính và
hàng hoá chiếm tỷ trọng cao nhất vẫn là gạo và dầu thô. Về nhập khẩu, Việt Nam
cũng vẫn sẽ nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng, máy móc, thiết bị, phụ tùng từ các thị
trường truyền thống có công nghệ cao như: EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc,
Singapore, Asian… Việc các doanh nghiệp có định hướng như vậy là một thuận lợi
cho các ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó có SeAbank, bởi vì đây là những
thị trường truyền thống, quan hệ lâu năm, hàng hóa không đổi do đó các ngân hàng
hiểu và hỗ trợ nhau nên ít tranh chấp xảy ra, hơn nữa nếu xảy ra mâu thuẫn thì vẫn
có thể thương lượng, hòa giải.
3.1.2

Định hướng phát triển thanh toán TDCT tại SeABank
Trong những năm gần đây, hoạt động thanh toán TDCT tại SeABank ngày

càng được chú trọng, góp một tỷ lệ ngày càng lớn vào lợi nhuận của Ngân hàng. Do
vậy, ban lãnh đạo đã dành sự quan tâm đặc biệt và có những định hướng phát triển
rõ ràng để hoạt động này phát triển vững chắc trong tương lai. Trong giai đoạn 2015
– 2020, SeABank có những định hướng phát triển hoạt động thanh toán tín dụng
chứng từ như sau:

50

- Tăng khối lượng thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức L/C SeABank. Có
thể thấy rằng phương thức thanh toán bằng L/C sẽ vẫn chiếm ưu thế ở Việt Nam
trong nhiều năm tới bởi vì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là nhỏ và vừa,
khi thâm nhập vào một thị trường mới thì thanh toán bằng L/C là an toàn nhất. Tuy
nhiên những thay đổi về công nghệ và cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các ngân
hàng làm cho hoạt động thanh toán bằng L/C cần phải được cải tiến, ngân hàng phải
thay đổi rất nhiều từ việc đầu từ cho công nghệ, nhân sự, ngân hàng đại lý… để cho
hoạt động thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn và giá cả lại cạnh tranh. Có như
vậy thì hoạt động thanh toán mới có thể thực hiện đúng vai trò làm đòn bẩy phát
triển các hoạt động liên.
-

Duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác với các đại lý ở nước ngoài để thu hút
nguồn tài trợ, học hỏi các ngân hàng trong và ngoài nước kinh nghiệm về các

-

nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Chú trọng trong công tác đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ, năng lực cán bộ. Đảm
bảo các thanh toán viên có kiến thức tốt về hoạt động xuất nhập khẩu, am hiểu

-

khách hàng, am hiểu thị trường, đảm bảo khả năng tư vấn, hỗ trợ khách hàng.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, ngăn chặn kịp thời những sai sót, đảm bảo
cho hoạt động kinh doanh tuân thủ đúng quy trình, quy chế và các văn bản pháp lý
có liên quan

3.2

Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân

hàng TMCP Đông Nam Á
3.2.1

Hoàn thiện quy trình thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng
Để chuyên viên thanh toán quốc tế có một quy trình thực hiện rõ ràng thì

việc đưa ra một quy trình cụ thể, chặt chẽ là một điều chắc chắn phải làm. Do vậy,
phòng TTQT cần những chuyên viên có năng lực trình độ cao để có thể đánh giá,
bao quát hết những vấn đề có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp. Sau khi quy
trình được ban hành, SeABank không chỉ cần những buổi đào tạo như hiện nay mà
nên có thêm những bài kiểm tra trực tuyến đối với nhân viên để họ có thể ôn tập
cũng như nắm chắc quy trình, nghiệp vụ. Ngoài ra, các chuyên viên TTQT cũng cần

51

có những hiểu biết sâu sắc về quy trình, có thể nhìn nhận những điểm còn hạn chế
để đóng góp, bổ sung cho hoạt động.
3.2.2 Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức của chuyên viên thanh toán
TDCT
Con người luôn là nhân tố quyết định sự thành công trong mọi lĩnh vực đặc
biệt là trong quá trình đổi mới đầy khó khăn của ngân hàng. Yêu cầu của giao dịch
thương mại quốc tế đòi hỏi cán bộ lãnh đạo cũng như cán bộ trực tiếp làm công tác
thanh toán L/C không chỉ có trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ
mà còn phải có phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm cao, có kinh nghiệm
trong thanh toán quốc tế, họ phải có kĩ năng phân tích, am hiểu tưởng tận các điều
khoản của UCP600. Đồng thời họ phải am hiểu luật pháp, tập quán và thực tiễn
hoạt động ngân hàng của từng nước, từng khu vực để có khả năng tư vấn cho khách
hàng, đồng thời tránh được rủi ro cho ngân hàng. Để đạt được điều này, các ngân
hàng thương mại cần xây dựng cho mình một chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ có
trình độ cao, am hiểu nghề nghiệp và tư cách đạo đức tốt.
Nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, ngoại nữa, áp dụng công nghệ
thông tin của thanh toán viên để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phát triển kinh
tế và hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng. Để có đội ngũ cán bộ
vững mạnh, ngân hàng cần có chiến lược đào tạo phù hợp. Nội dung đào tạo cần
được chú trọng cả về kiến thức kinh tế, nghiệp vụ chuyên môn, đồng thời đặc biệt
coi trọng công tác quản lý giáo dục, đạo đức nghề nghiệp
Cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng về lương, thưởng đối với cán bộ có nhiều
thành tích trong công tác. Đồng thời có những chế tài xử phạt đối với những cán bộ
Ngân hàng thiếu nghiêm túc trong công việc.
3.2.3

Nâng cao chất lượng công nghệ ngân hàng
Mặc dù đã có những nỗ lực nhất định nhưng quá trình hiện đại hóa của

SeABank chưa được lập thành một kế hoạch chiến lược tổng thể. SeABank cần

52

trang bị cơ sở vật chất hiện đại, với các máy móc áp dụng công nghệ tiên tiến, với
hệ thống máy vi tính được nối mạng 24/24 có thể giúp cho các cán bộ ngân hàng
cập nhật thông tin thường xuyên: các thông tin về tỷ giá, lãi suất, thông tin về đối
tác, hợp đồng tín dụng…để có thể tránh được những rủi ro trong kinh doanh và có
thể đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. SeABank cần đa dạng hóa các kênh phân
phối dịch vụ như bổ sung các dịch vụ thanh toán online hay SMS như: thông báo
thư tín dụng, báo có, gửi yêu cầu mở thư tín dụng, chấp nhận thanh toán, quản lý tài
khoản của doanh nghiệp, tiến tới giao dịch với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
thông qua mang Internet để thông tin được truyền đi nhanh chóng, giảm bớt chi phí,
cũng như rủi ro do sự chậm trễ trong những trường hợp bất khả kháng.
Ngoài ra, SeAbank cần tăng cường hệ thống bảo mật thông tin mạng. Vấn đề
an ninh mạng đang được quan tâm nhiều trong những năm gần đây. Nếu kẻ gian
xâm nhập và hệ thống thông tin của ngân hàng, dữ liệu của khách hàng sẽ bị bóp
méo, không đúng sự thật, gây ra rủi ro cho ngân hàng trong quá trình thẩm định,
quản lý khách hàng. Ngoài ra, khi hệ thống thông tin bị kẻ gian lợi dụng quá, trình
trình truyền dữ liệu bị gián đoạn, cản trở việc thực hiện giao dịch của ngân hàng đối
với khách hàng cũng như đối tác nước ngoài. Do vậy, ngân hàng cần chú trọng hơn
nữa vào vấn đề này bằng cách tuyển dụng các kỹ sư công nghệ thông tin trình độ
cao, xử lý linh hoạt các tình huống hàng ngày để bảo đảm an toàn cho hệ thống
thông tin ngân hàng.
3.2.4

Mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý
Thanh toán quốc tế liên quan đến nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới, vì vậy,

việc mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý là điều hết sức quan trọng trong công tác
hạn chế rủi ro của ngân hàng. Việc thiết lập và mở rộng quan hệ đại lý với ngân
hàng các nước có ý nghĩa chiến lược trong phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế ở
bất cứ ngân hàng thương mại nào. Đối với những ngân hàng đại lý có mối quan hệ
lâu năm, SeABank cần cũng cố mối quan hệ với đối tác để phát triển cùng có lợi.
Ngoài ra, SeABank phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình với ngân hàng nước

53

ngoài giúp giao dịch diễn ra thông suốt, hạn chế rủi ro và duy trì mối quan hệ lâu
dài giữa hai bên.
Ngoài ra, SeABank cần rà soát các ngân hàng đại lý thông qua việc xây dựng
các tiêu thức phân loại, đánh giá tín nhiệm ngân hàng đại lý để lựa chọn ra các ngân
hàng có uy tín, phục vụ thanh toán an toàn và nhanh chóng. Từ đó có chính sách đối
thoại phù hợp, củng cố mối quan hệ song phương, để thúc đẩy hợp tác trong tương
lai. Thêm vào đó, ngân hàng nên tổ chức hệ thống thông tin về mạng lưới ngân
hàng đại lý nhanh nhạy, thông suốt để học hỏi, đúc rút kinh nghiệm cho mình, hạn
chế rủi ro trong thanh toán TDCT.
Ngân hàng cũng cần mở rộng quan hệ song phương, đa phương với các ngân
hàng, các tổ chức tài chính quốc tế để có thể mở rộng được mạng lưới ngân hàng
rộng khắp trên thế giới, mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
3.2.5

trong nước, đặc biệt là các thị trường tiền năng hiện nay như châu Phi, Bắc Mỹ..
Tạo nguồn ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động thu hút ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu
của TTQT nói chung và thanh toán TDCT nói riêng
Khó khăn rất lớn trong TTQT của các ngân hàng hiện nay là thiếu nguồn
ngoại tệ vì nước ta thường xuyên là nước nhập siêu, cầu ngoại tệ luôn lớn hơn cung.
Mặc dù năm 2014, nước ta xuất siêu nhưng đây được đánh giá là xuất siêu không
bền vững. Thực tế nếu không khắc phục được tình trạng khan hiếm ngoại tệ thì
ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng khi tiến hành thanh toán
TDCT, buộc phải đi vay của các ngân hàng khác với giá cao, lại không chủ động
được nguồn ngoại tệ của mình. Ngân hàng cần có những giải pháp để khắc phục sự
khan hiến ngoại tệ như sau:
Thứ nhất, mở rộng mạng lưới đại lý thu đổi ngoại tệ, xây dựng chính sách
đại lý phù hợp để đảm bảo hoạt động của đại lý ổn định và tăng khả năng cạnh tranh
với các ngân hàng khác. Hiện nay, thói quen của nhiều người dân là thu đổi ngoại tệ
trên thị trường chợ đen, ở các cửa hàng vàng bạc, quầy thu đổi ngoại tệ trên thị
trường chứ không đến các ngân hàng vì sợ thủ tục phức tạp. Vì vậy, ngân hàng cần
có những chiến lược thay đổi thói quen của khách hàng, có thái độ phục vụ nhanh
chóng thân thiện, chiếm được lòng tin của khách hàng.

54

Thứ hai, tiếp tục phát triển hoạt động chi trả kiều hối Western Union. Ngân
hàng cần nâng cao chất lượng dịch vụ này để tạo sự tin tưởng từ khách hàng nước
ngoài gửi ngoại tệ về cho người thân ở Việt Nam. Đây là một lượng ngoại tệ khá
lớn mà ngân hàng có thể thu hút được do chủ yếu các khách hàng Việt Nam sẽ
chuyển đổi sang VND để gửi tiết kiệm hoặc chi tiêu. Thêm vào đó, số lượng lao
động ra nước ngoài trong những năm gần đây khá cao, do vậy, ngân hàng có thể
liên hệ với các công ty xuất khẩu lao động khuyến khích những lao động nước
ngoài sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng để tận dụng được nguồn vốn tiềm
năng này.
Thứ ba, chủ động đàm phán ký kết các giao dịch mua bán ngoại tệ để phục
vụ cho hoạt động thanh toán TDCT và tài trợ xuất nhập khẩu. Trong thị trường cạnh
tranh hiện nay, ngân hàng cần chủ động tiếp xúc khách hàng để tận dụng nguồn
ngoại tệ mà họ đang nắm giữ bằng việc giữ mối quan hệ thân thiết, cập nhật tình
hình ngoại tệ của khách hàng để ký kết những hợp đồng thích hợp đáp ứng nhu cầu
ngoại tệ của ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng còn có thể thực hiện các giao dịch
ngoại hối phát sinh để hạn chế rủi ro do biến động tỷ giá và rủi ro thiếu nguồn ngoại
tệ đáp ứng nhu cầu thanh toán.
3.2.6

Tăng cường hoạt động tư vấn
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt những doanh nghiệp vừa và nhỏ
thường có hạn chế trong hiểu biết các thông tin về thị trường thế giới, biến động
kinh tế trong nước cũng như bạn hàng nước ngoài, do vậy, đã xảy ra khá nhiều rủi
ro trong thời gian qua. Do vậy, ngân hàng có thể đưa ra cho khách hàng những lời
khuyên bổ ích ngay từ khâu đầu tiên của hoạt động thanh toán TDCT. Tư vấn về đối
tác của doanh nghiệp, về những rủi ro có thể gặp phải, phương thức thanh toán L/C
nào là phù hợp và an toàn cho khách hàng, những điều khoản nên có trong 1 L/C …
Đối với nhà xuất khẩu, sau khi hoàn tất xong quá trình giao hàng, nhà xuất
khẩu lại gặp những khó khăn trong xuất trình chứng từ để được thanh toán. Hiện
nay, tỷ lệ sai sót chứng từ ở lần xuất trình đầu tiên còn rất lớn. Cán bộ thanh toán
nên tư vấn cho khách hàng trong suốt quá trình lập bộ hồ sơ để hạn chế những sai

55

sót. Để làm được điều này thanh toán viên cần giữ liên lạc để giải đáp thắc mắc,
tháo gỡ khó khăn cho khách hàng thông qua hệ thống điện thoại hoặc email.
3.2.7

Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế
SeABank cần xây dựng một chiến lược quản trị rủi ro thanh toán quốc tế

riêng. Quy trình quản trị rủi ro này sẽ giúp các nhà quản trị đánh giá được mức độ
của các rủi ro, để có những biện pháp phòng ngừa, cảnh báo. Để thành công, quy
trình quản trị rủi ro trong thanh toán TDCT phải được tổ chức đầy đủ giống một quy
trình quản trị rủi ro, báo cáo và đánh giá quản trị rủi ro trên thực tế để có thể hoàn
thiện hơn về quy trình.
Xác định rủi ro: Kết thúc ngày làm việc, thanh toán viên phải tổng hợp, kiểm
tra đối chiếu các giao dịch đã khởi tạo trong ngày, xem xét đã phù hợp với quy
trình, quy định của Ngân hàng hay chưa. Hằng tuần, hằng quý ngân hàng cần có
những đánh giá trung thực về những rủi ro mà mình gặp phải trong quá trình tác
nghiệp, đồng thời dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin nhằm quản trị rủi ro
trong thanh toán tín dụng chứng từ.
Lượng hóa rủi ro: Chuyên viên TTQT cần liên tục cập nhật những thông tin
định lượng cho bộ phận quản trị rủi ro để có thể thiết lập các chỉ số tài chính như:
biểu đồ thay đổi, rà soát giới hạn rủi ro cho phép…
Kiểm soát rủi ro: dưới sự chỉ đạo của ban Giám đốc, SeABank cần lập ra
chuẩn mực để có thể có những biện pháp kiểm soát kịp thời, hiệu quả những rủi ro
3.3

mà ngân hàng gặp phải trong quá trình thanh toán TDCT cho khách hàng.
Một số kiến nghị nhằm hạn chế những rủi ro trong thanh toán Tín dụng chứng
từ tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

56

3.3.1

Kiến nghị đối với Chính phủ và các ngành liên quan

3.3.1.1

Hoàn thiện môi trường pháp lý cho giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu

theo phương thức thanh toán TDCT
Về bản chất, thư tín dụng là những giao dịch riêng biệt với hợp đồng thương
mại và các loại hợp đồng khác. Hợp đồng thương mại là cơ sở cho thư tín dụng
nhưng các ngân hàng không liên quan đến hoặc không bị ràng buộc bởi hợp đồng.
Hiện nay, việc thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức L/C được các ngân
hàng trên thế giới thực hiện trên cơ sở UCP600, nhưng ở từng quốc gia, giao dịch
này còn bị điều chỉnh và chi phối bởi hệ thống luật pháp nước họ, các nước còn lại
trên thế giới đều nhìn nhận UCP600 là văn bản nằm trong hệ thống thông lệ và tập
quán quốc tế mà khách hàng các nước muốn trao đổi với nhau đều phải tuân thủ.
Luật quốc gia thường tôn trọng và ít khi có mâu thuẫn với UCP600, tuy nhiên nếu
có sự khác nhau, thậm chí đối nghịch thì luật quốc gia sẽ vượt lên tất cả và được
tuân thủ. Chính vì thế, một trong những kiến nghị quan trọng đối với Chính phủ và
các ngành ban liên quan đó là cần hoàn chỉnh một môi trường pháp lý cho giao dịch
thanh toán xuất nhập khẩu. Cụ thể đó là những vấn đề sau:

57

- Khẩn trương ban hành những văn bản pháp lý cho giao dịch thanh toán nhà xuất
khẩu: có thể là nghị định về thanh toán quốc tế đề cập tới mối quan hệ pháp lý giữa
giao dịch chứng từ giữa các ngân hàng. Mối quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm,
quyền lợi của nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu và các ngân hàng khi tham gia sử dụng
thư tín dụng, mối quan hệ này cũng cần được pháp lý hóa trên cơ sở luật pháp quốc
gia. Để tạo lập hành lang pháp lý của giao dịch này giữa ngân hàng và khách hàng,
cần kí kết thỏa thuận chung mang tính nguyên tắc trong giao dịch bằng văn bản.
Những văn bản này rất cần thiết không chỉ đối với ngân hàng mà còn là cơ sở để tòa
án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong giao dịch
L/C. Các cơ quan pháp luật không thể chỉ dựa vào thông lệ quốc tế mà xét xử
những vụ kiện phát triên tại Việt Nam, vì UCP không thể thay thế luật pháp của một
quốc gia, hơn nữa nó có những hạn chế nhất định do không bao giờ bao quát tất cả
các giao dịch vô cùng phong phú của thực tiễn.

- Cần tạo hành lang pháp lý cho giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng trong quan
hệ tín dụng chứng từ. Cho tới nay, hầu hết các khách hàng đến ngân hàng xin mở
L/C đều không có văn bản pháp lý có tính chất hợp đồng được thỏa thuận bằng văn
bản. Ở SeABank, hầu hết chỉ có các loại giấy tờ như: đơn yêu cầu mở L/C, giấy
cam kết thanh toán, đơn xin bảo lãnh nhận hàng và kí hậu vận đơn, thông báo thư
tín dụng, đơn xin chiết khấu chứng từ. Các chừng từ này chỉ đơn giản là giao dịch
ngân hàng, không thể hiện được tính pháp lý và ràng buộc giữa hai bên nên gây ra
khó khăn khi toàn ăn xét xử tranh chấp.
3.3.1.2

Hoàn thiện chính sách thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, quản lý chặt

chẽ nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại quốc tế
Sản phẩm xuất khẩu của nước ta còn chưa phong phú và sản phẩm chưa qua
chế biến vẫn chiếm một tỷ trọng lớn, hoặc nếu có chế biến thì chủ yếu vẫn là những
mặt hàng sơ chế. Vì vậy, để phục vụ cho chiến lược về xuất khẩu, nhằm mục tiêu
tăng trưởng ổn định và bền vững cho nền kinh tế, chúng ta cần có giải pháp sau:

58

- Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại,đặc biệt là hoạt động thương mại đối với những thị
trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, EU…, xây dựng và phát triển thị trường trọng điểm,
mở rộng thị trường mới.

- Khai thác có hiệu quả tiềm năng về tài nguyên, sức lao động và đất đai, giảm giá
thành hàng xuất khẩu Việt Nam để đủ sức cạnh tranh với hàng hóa trong khu vực.
Cần đầu tư thích đáng vào các sản phẩm truyền thống và có ưu thế, đồng thời mở
rộng các ngành sản xuất những mặt hàng có thị trường lớn.

- Có chính sách đầu tư hợp lý cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu để đổi
mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và phấn đấu xuất khẩu chủ yếu các
sản phẩm đã qua chế biến.

- Chính sách tỷ giá hối đoái mềm dở linh hoạt nhằm khuyến khích xuất khẩu, hạn chế
nhập khẩu nhưng vẫn bảo đảm tính ổn định vĩ mô của nền kinh tế, không gây nên
những cú sốc lớn làm thiệt hại tới các doanh nghiệp nhập khẩu.

- Bên cạnh các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ
nhập khẩu, nhưng không đi ngược lại những cam kết trong hiệp định thuế quan ưu
đãi... Cụ thể:

- Nhà nước cần xây dựng và công bố một lịch trình giảm thuế cụ thể nhằm giảm dần
sự bảo hộ đối với một số ngành sản xuất trong nước.

- Nhà nước cần giảm tối đa, thậm chí xóa bỏ việc dùng hạn ngạch nhập khẩu và một
số biện pháp phi thuế quan khcas, đồng thời thay vào đó chế độ thuế nhập khẩu
thích hợp.

- Cải tiến công tác quản lý điều hành xuất nhập khẩu, cải cách mạnh mẽ các thủ tục
hành chính, tinh giảm thủ tục hải quan, chống buôn lậu, quản lý nhập khẩu tiểu
ngạch…
3.3.2

Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước