Tải bản đầy đủ
L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro

L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro

Tải bản đầy đủ

12

Diễn giải sơ đồ:
(1) Hai bên mua bán kí kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo

phương thức L/C.
(2) Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu NHPH mở L/C cho người xuất khẩu thụ
hưởng.
(3) NHPH mở L/C theo đúng yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân
hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết về việc thư tín dụng đã được mở.
(4) NHTB thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở và khi nhận được bản

gốc của thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(5) Dựa vào L/C, người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng đó thì tiến hành giao
hàng, còn nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi , bổ
sung, điều chỉnh thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng.
(6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng
thông báo để được thanh toán.
(7) NHĐCĐ sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu phù hợp với L/C thì thanh toán; nếu thấy
không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà
xuất khẩu.
(8) NHĐCĐ gửi bộ chứng từ cho NHPH để được hoàn trả.
(9) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán cho
NHĐCĐ, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả nguyên vẹn bộ
chứng từ cho NHĐCĐ.

13

(10)NHPH đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi đã

nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
(11)Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả
tiền hoặc chấp nhận hối phiếu, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền.
1.2

Rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ

1.2.1

Phân loại rủi ro
Như đã phân tích ở trên, Tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán

an toàn tuy nhiên vẫn tồn tại những rủi ro cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, đặc
biệt là với các ngân hàng. Theo quy trình thanh toán trên, ta có thể nhận thấy một số
rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như sau:
Rủi ro pháp lý
Những rủi ro pháp lý thường gặp trong thanh toán TDCT phải kể đến như sau:
Rủi ro do sự thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý cho hoạt động TTQT và

1.2.1.1

thanh toán TDCT: trong thanh toán TDCT, các bên tham gia thường thỏa thuận sử
dụng UCP và dẫn chiếu vào L/C. Tuy nhiên đây chỉ là quy phạm mang tính chất tùy
ý. Vì vậy, việc áp dụng trong thực tế còn phát sinh nhiều hạn chế do mỗi quốc gia
vận dụng ở các mức độ khác nhau. Luật quốc gia thường tôn trọng pháp luật và tập
quán quốc tế, tuy nhiên không phải không tồn tại mậu thuẫn. Nếu có sự mâu thuẫn
giữa luật quốc gia và tập quán quốc tế thì luật quốc gia sẽ được ưu tiên áp dụng.
Nếu pháp luật hai quốc gia có sự khác biệt nhau thì rủi ro có thể sẽ xảy ra.
• Rủi ro do sự biến động của các chính sách kinh tế: để phù hợp với tình hình phát
triển của quốc gia trong từng thời kỳ, chính phủ thường ban hành các chính sách về
dự trữ ngoại hối, thuế, tỷ giá. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến hành vi của
nhà xuất nhập khẩu đối với từng mặt hàng cụ thể. Ngoài ra các chính sách điều
chỉnh tỷ giá, lãi suất cũng có những tác động không nhỏ đến tình hình hoạt động,
kinh doanh, là trở ngại cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó,


ảnh hưởng đến hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại.
Rủi ro khi áp dụng thông lệ và tập quán quốc tế: UCP được sử dụng phổ biến trong
thanh toán tín dụng chứng từ. Tuy nhiên, ở nhiều trường hợp, UCP vẫn không theo

14

kịp với thực tiễn hoạt động thanh toán TDCT tại các ngân hàng, gây ra những rủi ro
trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, các thông lệ và tập quán quốc tế được phát
hành bằng tiếng Anh. Trong quá trình dịch thuật, có thể tồn tại ý hiểu khác nhau
giữa các quốc gia dẫn đến sự bất đồng quan điểm giữa các bên tham gia.
1.2.1.2 Rủi ro đạo đức
a. Rủi ro từ phía nhà nhập khẩu

Xảy ra trong trường hợp nhà nhập khẩu cố tình lừa người bán xếp hàng lên
tàu rồi sử dụng các thủ đoạn chuyên nghiệp như bắt lỗi sai sót bộ chứng từ nhằm ép
giá người bán để thu lợi cho chính mình. Trong trường hợp này, nhà xuất khẩu
thường phải giảm giá hàng bán, nếu không, nhà xuất khẩu phải chấp nhận nhận lại
lượng hàng hóa đó. Nghiêm trọng hơn có trường hợp nhà nhập khẩu phát hành thư
tín dụng giả mạo, lừa đảo những nhà xuất khẩu non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Hoặc sau khi bán được hàng cố tình không nộp tiền
vào tài khoản, không tiến hành thanh toán cho ngân hàng như đã cam kết, ảnh
hưởng đến dòng vốn dự tính của ngân hàng.
b. Rủi ro từ phía nhà xuất khẩu

Xảy ra khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng không phù hợp với hợp đồng như
thiếu, kém chất lượng, chậm giao hàng…nhưng do cấu kết với hãng tàu hoặc hãng
bảo hiểm, vẫn xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với những quy định
của L/C do có sự cấu kết với hãng tàu, hãng bảo hiểm…Trong trường hợp này, theo
UCP ngân hàng vẫn tiến hành thanh toán và nhà nhập khẩu phải chịu mọi rủi ro.
Ngoài ra trong trường hợp giá hàng hóa quốc tế tăng, người bán không muốn giao
hàng cho người mua, phá vỡ kế hoạch kinh doanh của nhà nhập khẩu, ảnh hưởng
đến hoạt động thanh toán TDCT của ngân hàng.
c. Rủi ro từ phía ngân hàng

Trong nhiều trường hợp, NHPH cũng vi phạm cam kết của mình như trì
hoãn, hoặc từ chối thanh toán cho bộ chứng từ của nhà xuất khẩu. Hoặc với sự thiếu
trung thực của Ngân hàng chiết khấu, bộ chứng từ không hoàn hảo vẫn được gửi
điện tới NHPH, NHPH tin tưởng tiến hành thanh toán và sẽ gặp rủi ro.

15

1.2.1.3

Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng liên quan đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của

các bên. Khác với các phương thức thanh toán khác, ngân hàng chỉ đóng vai trò là
trung tâm thanh toán, chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng. Còn trong thanh
toán TDCT, ngân hàng đứng ra cam kết thanh toán cho người thụ hưởng. Vì vậy rủi
ro tín dụng là điều khó có thể tránh khỏi.
1.2.1.4 Rủi ro thị trường
Hoạt động thanh toán TDCT chịu sự chi phối rất nhiều của nhân tố thị trường
trong và ngoài nước. Chỉ cần một sự biến động nhỏ trong tỷ giá, lãi suất, lạm
phát…cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của các chủ thể trong thanh
toán TDCT.
Đáng chú ý nhất trong rủi ro thị trường là rủi ro ngoại hối. Xảy ra khi việc
thanh toán được ấn định bằng đồng tiền nước ngoài. Ngoài ra, lạm phát cũng là
nhân tố thị trường gây thiệt hại cho các bên trong quá trình xuất nhập khẩu. Khi lạm
phát tăng, giá cả nguyên liệu đầu vào tăng làm cho hàng hóa xuất khẩu mất khả
năng cạnh tranh, hay lợi thế tương đối không còn nữa. Hoạt động xuất khẩu bị
ngưng trệ, doanh số thanh toán TDCT của ngân hàng cũng giảm đi đáng kể.
1.2.1.5 Rủi ro tác nghiệp
Đây là rủi ro mang tính chủ quan, phát sinh trong quá trình xử lý các nghiệp
vụ của chuyên viên TTQT tại các ngân hàng và nhà xuất khẩu trong quá trình xuất
trình bộ chứng từ đòi tiền đến ngân hàng.
Rủi ro tác nghiệp từ phía ngân hàng đến từ các nguyên nhân chủ yếu: do con
người gây ra, do lỗi hệ thống công nghệ thông tin do quy trình thực hiện và các yếu
tố khách quan khác.

16

1.2.2

Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán TDCT

1.2.2.1

Do sự biến động của nền kinh tế thị trường
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các ngân hàng thương mại luôn chịu sự

chi phối khắt khe của quy luật cung cầu, giá cả thị trường… nên cũng phải thường
xuyên đối mặt với các rủi ro từ mọi phía. Ngoài ra, những yếu tố như giá cả thay
đổi, công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý,điều hành kém, khủng hoảng tài chính…
cũng là tác nhân gây ra khó khăn đối với các doanh nghiệp, thua lỗ, thậm chí là phá
sản, vỡ nợ…
Ngoài ra, sự biến động trong thị trường tài chính, sự thay đổi tỷ giá, các chỉ
tiêu về nợ nước ngoài, dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán của một quốc gia
cũng gây nên sức ép và rủi ro đối với việc thanh toán quốc tế.
1.2.2.2

Do bất cân xứng thông tin
Bất cân xứng thông tin là nguyên nhân chính dẫn tới rủi ro tín dụng và rủi ro

đạo đức trong thanh toán quốc tế.
Thông tin là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi bên tham gia thanh
toán quốc tế. Nếu một bên không nắm vững tình hình tài chính cũng như uy tín hay
khả năng thanh toán của bên đối tác, không am hiểu và kiểm tra được các thông số
kĩ thuật và hiệu quả kinh tế của dự án mình tài trợ thì rủi ro tín dụng xảy ra là điều
khó tránh khỏi.
Việc thiếu thông tin hay sự thiếu trung thực của đối tác, đồng thời lại bị họ
cố tình che dấu hay lừa gạt nên đưa ra những quyết định sai lầm đã gây ra rủi ro đạo
đức.
1.2.2.3

Năng lực và đạo đức kinh doanh của các nhà nhập khẩu

17

Đây là yếu tố quan trọng quyết định sự suôn sẻ hay không của cuộc thanh
toán quốc tế. Thanh toán quốc tế được coi là quyền lợi của bên xuất khẩu và đồng
thời là trách nhiệm của người nhập khẩu. Thanh toán diễn ra tốt đẹp khi mà các bên
tham gia tôn trọng hợp đồng đã ký và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong
cả chu trình đó.
Người nhập khẩu là người có trách nhiệm trả tiền cho người xuất khẩu. Họ
có nghĩa vụ phải thông qua ngân hàng để mở thư tín dụng hợp lệ chủ động trong
việc thanh toán, nhận hàng, mua bảo hiểm… Nếu người nhập khẩu do năng lực hạn
chế không thực hiện tốt các nghĩa vụ trên thì quá trình thanh toán diễn ra không
thuận lợi. Tương tự nếu người nhập khẩu không có thiện ý tốt, anh ta sẽ tìm mọi
cách gây khó khăn cho ngân hàng cũng như cho người xuất khẩu như bắt bẻ mọi sơ
suất dù là nhỏ nhất để từ chối thanh toán, hoặc kéo dài thời gian thanh toán…trong
các trường hợp trên thì quy trình thanh toán sẽ bị gián đoạn ảnh hưởng đến quyền
lợi của các bên.
Đối với người xuất khẩu năng lực và hành vi của họ cũng ảnh hưởng nhiều
đến quy trình thanh toán. Nghĩa vụ của người xuất khẩu là kiểm tra thư tín dụng do
người nhập khẩu mở, giao hàng đúng hợp đồng, lập bộ chứng từ phù hợp với các
điều khoản của L/C…Trong đó, lập bộ chứng từ phù hợp là khâu gặp nhiều trở ngại
nhất vì người xuất khẩu phải qua nhiều công đoạn, thủ tục. Đây chính là một trong
những nguyên nhân dẫn đến trường hợp người xuất khẩu lập bộ chứng từ giả mạo,
trốn tránh việc kiểm tra chất lượng hàng hoá của cơ quan có thẩm quyền để lừa gạt
người nhập khẩu. Hoặc người xuất khẩu không nghiêm túc khu thực hiện hợp đồng,
lập được bộ chứng từ phù hợp nhưng trong thực tế giao hàng lại không đúng với
quy định trong hợp đồng. Từ đó, dẫn đến quá trình thanh toán chậm lại, thậm chí có
khi phải huỷ bỏ hợp đồng đã ký.

18

Như vậy, năng lực và đạo đức kinh doanh của các bên có ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ. Nếu người mua và người bán có kiến
thức và có kinh nghiệm trong thương mại quốc tế thì quy trình thanh toán trở nên
nhanh chóng và thuận lợi hơn. Vì vậy, sự hiểu biết rộng, có kinh nghiệm và tính làm
việc nghiêm túc của cả hai bên người xuất và người nhập là những yêu cầu cần thiết
để thúc đẩy quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
1.2.2.4

Các nhân tố vĩ mô và các nhân tố bất khả kháng
Những biến động về chính trị như chiến tranh, đảo chính…hay sự thay đổi

về bộ máy, thể chế chính trị, chính phủ ở nước xuất nhập khẩu hay sự bất thống
nhất giữa luật điều chỉnh L/C ngoài UCP 600, luật quốc gia của từng nước dẫn tới
rủi ro chính trị hay rủi ro pháp lý trong thanh toán quốc tế.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được sử dụng chủ yếu trong thanh
toán xuất nhập khẩu, mà quan hệ này lại phụ thuộc nhiều vào môi trường vĩ mô của
hai nươc xuất nhập khẩu như: chính trị, xã hội, môi trường kinh tế, tình hình an
ninh…Bên cạnh đó, các chính sách kinh tế cũng như những chính sách quản lý của
từng quốc gia đều tác động ảnh hưởng mạnh mẻ, chăng hạn như việc ban bố chính
sách hạn chế nhập khẩu hay chính sách kiểm toán ngoại hối thắt chặt sẽ có tác động
làm ảnh hưởng lớn đến quá trình thanh toán. Giá trị thanh toán xuất nhập khẩu được
tính bằng ngoại tệ nên tỷ giá hối đoái thường xuyên biến động sẽ gây thiệt hại cho
cả hai bên. Vì vậy, trong điều kiện các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội…ổn định thì
chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ sẽ được đảm bảo và ngược lại.
Ngoài ra, phương thức tín dụng chứng từ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bất
khả kháng như bất kỳ một quan hệ kinh tế nào. Các hiện tượng như: chiến tranh,
đình công, khủng bố, thiên tai, hoả hoạn, các vụ tấn công nhà băng…được coi là
các trường hợp mà ngân hàng có thể thoát khỏi trách nhiệm thanh toán cho người
hưởng, chấm dứt ngay lập tức quy trình thanh toán nhưng với thiệt hại thuộc về
hầu như tất cả các bên.

19

Nhìn một cách tổng quát, quy trình thanh toán tín dụng chứng từ bị ảnh
hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Để nâng cao hiệu quả phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ, chung ta phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng để từ đó có thể điều chỉnh
với khả năng tốt nhất của mình
1.2.2.5 Các nguyên nhân khác

Trình độ của cán bộ ngân hàng: Tham gia vào quy trình thanh toán, các ngân
hàng là những trung gian không thể thiếu được. Nếu là ngân hàng phục vụ người
mua thì ngân hàng có trách nhiệm mở thư tín dụng, cam kết sẽ trả tiền cho người
bán. Việc ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người bán đồng nghĩa với việc
ngân hàng cấp cho người mua một khoản tín dụng. Vì vậy, trước khi phát hành L/C,
ngân hàng phải phân tích, đánh giá tình hình tài chính của người mua, xem hiệu quả
hoạt động của họ như thế nào, có uy tín hay không, từ đó, quyết định xem người
mua có cần phải thực hiện điều kiện đảm bảo cho khoản vay hay không. Thực hiện
các khâu trên đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải là những người có kinh nghiệm, có
năng lực chuyên môn vững vàng, có khả năng phân tích và tổng hợp tốt…để đảm
bảo đánh giá đúng khách hàng trong thời gian ngắn nhất, trên cơ sở đó, thu hút thêm
khách hàng mới ngoài ngoài những khách hàng có uy tín và làm ăn lâu dài với ngân
hàng. Tương tự, nếu là ngân hàng phục vụ người bán thì ngân hàng có trách nhiệm
thông báo thư tín dụng cho người xuất khẩu và tiếp nhận bộ chứng từ từ người này.
Với trách nhiệm là ngân hàng được uỷ thác thanh toán, ngân hàng này phải đặc biệt
lưu ý trong khâu kiểm tra tích hợp lý của bộ chứng từ. Vì đây là khâu quyết định
xem người bán có được thanh toán hay không nên các cán bộ phụ trách khâu này
phải hết sức cẩn thận, làm việc tập trung và có trách nhiệm.

20

Trên thực tế, có nhiều trường hợp do trình độ của cán bộ ngân hàng hạn chế
làm cho quy trình thanh toán bị chậm lại. Chẳng hạn như, các điều khoản trong L/C
thường được thể hiện bằng ngôn ngữ nước ngoài nên nếu trình độ cán bộ ngân hàng
hạn chế thì sự hiểu lầm là điều không thể tránh khỏi. Hay như trong khâu kiểm tra
bộ chứng từ do người bán gửi đến, cán bộ ngân hàng kiểm tra quá lâu vừa gây chậm
trể thanh toán cho người xuất khẩu vừa kéo dài thời gian để có thể nhận được hàng
của người nhập khẩu, làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá và kế hoạch sử dụng
vốn của người xuất khẩu…
Có thể nói, bản thân các ngân hàng tham gia có ảnh hưởng lớn đến sự nhanh
chậm của quá trình thanh toán, trong đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như
phong cách phục vụ khách hàng của cán bộ ngân hàng là yếu tố quyết định. Đây là
yếu tố phản ánh rõ nét nhất và ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chất lượng của dịnh vụ
thanh toán quốc tế của ngân hàng.
Công nghệ trong thanh toán: Đây là yếu tố phản ánh tính chất hiện đại và sự
tiện lợi của hệ thống thiết bị, công nghệ kỹ thuật được sử dụng trong quy trình
thanh toán quốc tế, Hệ thống công nghệ càng hiện đại thì quy trình thanh toán diễn
ra càng nhanh, chất lượng càng được đảm bảo. Theo xu hướng hiện nay, các ngân
hàng chủ yếu thanh toán qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng quốc tế
SWIFT (Society For Worldwide Interbank Financial Telecommunications) nhiều
hơn hình thức thư từ (mail). Việc mở và thông báo L/C bằng SWIFT có tác dụng rút
ngắn tối đa khoảng thời gian, tránh thất lạc tài liệu và đảm bảo thông tin được
truyền đi một cánh đầy đủ, chính xác. Trong khi đó, việc mở và thông báo L/C bằng
thư tuy có ưu điểm chi phí thấp nhưng lại kéo dài thời gian của quy trình thanh
toán, hơn nữa, khả năng thất lạc thư từ là điều có thể xảy ra.

21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã nếu ra cơ sở luận của phương thức thanh toán TDCT cùng
những rủi ro thường gặp của ngân hàng thương mại khi tham gia vào hoạt động
thanh toán TDCT. Bên cạnh đó, chương 1 cũng phân tích 1 số nhân tố tác động đến
rủi ro trong thanh toán TDCT. Đây sẽ là hệ thống cơ sở lý thuyết làm tiền đề cho
việc phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro trong thanh toán theo phương thức TDCT
tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – SeABank tại chương 2

22

CHƯƠNG 2.

THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG

CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG NAM Á
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) có trụ sở chính tại 25 Trần Hưng
Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. SeABank được biết đến là ngân hàng nằm trong nhóm
dẫn đầu các ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam về quy mô vốn điều
lệ, mạng lưới hoạt động, mức độ nhận biết thương hiệu và tốc độ tăng trưởng ổn
định.
SeABank được thành lập từ năm 1994, trải qua chặng đường 21 năm phát
triển, SeABank đã đạt được thành tựu phát triển ấn tượng với vốn điều lệ 5.466 tỷ
đồng, tổng tài sản đạt gần 80 nghìn tỷ đồng và mạng lưới hoạt động trên khắp 3
miền đất nước với 154 điểm giao dịch. SeABank được Ngân hàng Nhà nước xếp
hạng trong Nhóm các tổ chức tín dụng có hoạt động lành mạnh và tăng trưởng ổn
định. Bằng nội lực của chính mình, cùng với sự hợp tác chiến lược của liên minh cổ
đông trong và ngoài nước - Societe Generale, VMS MobiFone, PVGas - SeABank
đang vươn lên khẳng định vị thế bằng những giá trị thực chất và hiệu quả.
Vì những thành tích nổi bật đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
giai đoạn 2007-2012, SeABank vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương
Lao động hạng Ba. Những giải thưởng và danh hiệu cao quý mà SeABank đã đạt
được trong những năm qua ghi nhận quá trình phấn đấu bền bỉ của SeABank qua 21
năm thành lập và phát triển, xây dựng hình ảnh thương hiệu với sứ mệnh “Kết Nối
Giá Trị Cuộc Sống” và hướng đến mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại
Việt Nam.
SeABank đặt mục tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam,
cung cấp đầy đủ và đa dạng các sản phẩm và dịch vụ tài chính cho khách hàng cá
nhân, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp lớn, tối ưu
hóa lợi ích cho từng đối tượng khách hàng và cổ đông, đảm bảo phát triển bền
vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội, phát
triển ngân hàng theo mô hình của một ngân hàng bán lẻ và từng bước hướng tới trở
thành một tập đoàn ngân hàng - tài chính đa năng, hiện đại, nổi bật về chất lượng