Tải bản đầy đủ
Thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối

Tải bản đầy đủ

1.4.

Các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối
1.4.1.

-

Phân loại theo hình thức tổ chức

Khách hàng mua lẻ: Chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị giao
dịch. Là người chấp nhận giá, gồm các công ty nội địa, công ty đa

-

quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế,...
Ngân hàng thương mại: Là các nhà tạo giá, tham gia trên cả thị

-

trường khách hàng và liên ngân hàng.
Các định chế tài chính khác: gồm các ngân hàng đầu tư, công ty tài
chính, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và các quỹ tương hỗ. Họ thường tham
gia giao dịch với quy mô lớn, họ góp phần hình thành thị trường bán

-

buôn.
Nhà môi giới: là nhóm chủ thể tham gia phổ biến, kiếm lợi nhuận

-

thông qua việc thu phí hoa hồng môi giới.
Ngân hàng trung ương (NHTW): Tham gia thị trường một mặt là để
cung cấp dịch vụ cho khách hàng (Chính phủ, các NHTM …), mặt
khác nhằm tác động vào tỉ giá theo hướng mà NHTW cho là có lợi
cho nền kinh tế.
1.4.2.



Phân loại theo chức năng trên thị trường

Các nhà tạo giá thứ cấp: thường là các NHTM, tạo giá trên thị trường

bán lẻ.
− Các nhà chấp nhận giá: là những khách hàng mua lẻ.
− Nhóm các nhà cung cấp dịch vụ: ví dụ Reuters, Telerate, KnightRidder.
− Nhóm các nhà đầu cơ: hoạt động tương đối mạnh mẽ trên thị trường
ngoại hối.
− NHTW: thực hiện chức năng can thiệp trên thị trường ngoại hối.
1.4.3.
-

Phân loại theo mục đích

Các nhà phòng ngừa rủi ro ngoại hối (hedgers)
Các nhà kinh doanh chênh lệch tỷ giá
Các nhà đầu cơ.

4

1.5.

Phân loại thị trường ngoại hối
1.5.1.

Theo phạm vi hoạt động

- Thị trường liên ngân hàng hay thị trường bán buôn (Internbank)
- Thị trường khách hàng hoặc thị trường bán lẻ (Non- Internbank)
1.5.2.

Theo tính chất giao dịch

- Thị trường giao ngay
- Thị trường phái sinh
1.5.3.

Theo tính chất pháp lý của thị trường

- Thị trường ngoại hối chính thức (Official Market FX)
- Thị trường ngoại hối không chính thức (Unofficial Market FX)
1.5.4.

Theo tính chất tập trung của thị trường

- Thị trường phi tập trung (OTC)
- Thị trường tập trung
1.6. Thực trạng giao dịch ngoại hối ở VN
- Năm 2010: Thị trường ngoại hối VN rơi vào tình trạng căng thẳng
khi cầu ngoại tệ quá lớn trong khi nguồn cung lại khan hiếm làm tỷ
giá USD/VND tăng mạnh gây ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô.
- Năm 2011: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng chính sách thắt
chặt tiền tệ để duy trì sự ổn định của thị trường ngoại tệ, tỷ giá giao
dịch dần hạ xuống. Tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do giảm dần
xuống, thấp hơn thị trường chính thức. Các NHTM duy trì tỷ giá giao
dịch thấp hơn biên độ tối đa theo quy định (1% so với bình quân
trên thị trường liên ngân hàng do NHNN công bố). Tỷ giá có xu
hướng ổn định và có xu hướng giảm. NHNN mua được 5 tỷ USD dự
trữ ngoại hối. Các doanh nghiệp và người dân bắt đầu bán ngoại tệ
cho ngân hàng, chuyển dần từ quan hệ huy động và cho vay bằng
ngoại tệ sang mua-bán ngoại tệ giữa NH với khách hàng.
- Năm 2012: NHNN duy trì tỷ giá VN ổn định ở mức 20,828
VND/USD, tỷ giá biến động không quá 2-3%. Các chính sách giảm
lãi suất, duy trì lãi suất huy động và cho vay ở mức ổn định đối với
ngoại tệ, tình hình cung cầu ngoại tệ chuyển biến tích cực, cán cân
5

vãng lai thặng dư sau nhiều năm thâm hụt, dự trữ ngoại tệ tăng, tỷ
giá NHTM chỉ thay đổi khoảng 0,75%; Biến động trong thị trường
vàng do chịu ảnh hưởng từ thị trường vàng thế giới. Sự biến động
giá trong nước nhanh hơn giá quốc tế đã khiến mức chênh lệch giá
vàng trong nước và giá vàng thế giới tăng mạnh,dự trữ vàng bị
thiếu hụt.
- Năm 2013: NHNN chỉ tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng
(Cam kết tăng tỷ giá không quá 2-3%), NHNN linh hoạt điều hành tỷ
giá và trong thực hiện bán ngoại tệ bình ổn thị trường tại các mức
tỷ giá. NHNN điều hành chặt chẽ theo tín hiệu thị trường, phù hợp
với các cân đối vĩ mô và cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các
biện pháp tăng dự trữ ngoại hối của Nhà Nước và chống đô la hóa
trong nền kinh tế. Giá vàng giảm mạnh nhất, chấm dứt 12 năm
tăng liên tiếp.
- Năm 2014: NHNN duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng, giá vàng biến
động phức tạp, tỷ giá USD/VND tăng. NHNN mua ngoại tệ để tăng
dự trữ ngoại hối, giảm lãi suất huy động và cho vay. Khắc phục tình
trạng đô la hóa.
- Năm 2015: NHNN cam kết điều chỉnh tỷ giá không quá 2%, tỷ
USD/VND biến động mạnh, chính sách tỷ giả được điều hành nhất
quán, giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế. NHNN thực hiện
chính sách thả nổi đồng tiền VN nhằm kiểm soát tỷ giá và tăng dự
trữ ngoại hối, lãi suất trên thị trường giảm. Giá vàng biến động và
giảm so với năm trước.
Hiện nay: Tỷ giá USD/VND đang ở giai đoạn ổn định nhất trong 8
tháng đầu năm 2016. Bất chấp đồng USD có những biến động mạnh
so với các ngoại tệ khác trên thị trường tài chính thế giới, đồng USD
tại Việt Nam đang dao động với biên độ khá hẹp so với VND, thậm
chí, giảm nhẹ, 0,21%.
Mặc dù các yếu tố quan trọng hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá nhưng thị
trường ngoại hối 2016 vẫn tiềm ẩn yếu tổ rủi ro ngoại sinh, nhất là
6

nguy cơ phát sinh khủng hoảng từ các thị trường mới nổi. Cụ thể,
Trung Quốc đang ghi nhận những tín hiệu tương đối tích cực từ khu
vực tiêu dùng và dịch vụ, sẽ có nhiều động lực kiểm soát biên độ
mất giá của đồng CNY ở mức vừa phải, dưới 5%. Ngoài ra, FED đang
trong quá trình tăng lãi suất khiến đồng USD mạnh lên sẽ gây sức
lên tỷ giá trong nước. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất huy động - cho
vay nhiều khả năng sẽ chịu áp lực lớn nếu lạm phát tăng lên trong
năm 2016.
Nguyên nhân giúp giữ ổn định tỷ giá này là:
- Cung tăng cầu giảm:
+ Tiềm năng từ việc tham gia các hiệp định thương mại tự do,
đặc biệt là TPP, đã thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài rót vào Việt
Nam tăng lên kể từ năm ngoái đến nay. Trong khi đó, chi phí sản
xuất tại Trung Quốc ngày càng tăng cộng thêm sự suy giảm kinh tế
của nước này đã góp phần làm chuyển dịch dòng vốn đầu tư từ thị
trường Trung Quốc sang Việt Nam.
+ Sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ ngày
31/12/2015 cũng đã thúc đẩy các thương vụ M&A trong năm nay,
thu hút thêm nhiều dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII).
+ Theo báo cáo vừa công bố của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, trong 7 tháng qua đã có 3.141 doanh nghiệp ngoài
sàn có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần với tổng giá trị
góp vốn hơn 2,9 tỷ USD.
+ Theo báo cáo kết quả điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN, tính đến 29/7, huy động vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức
tín dụng giảm 6,25% so với đầu năm. Điều này cho thấy người dân
đang chuyển dịch vốn gửi ngân hàng từ ngoại tệ sang VND.
+ Theo một báo cáo của NHNN, tín dụng bằng ngoại tệ đến
tháng 6/2016 giảm 4,64% so với đầu năm, cho thấy cầu ngoại tệ đã
7

giảm trong thời điểm hiện tại cũng như giảm áp lực lên cầu ngoại tệ
trong tương lai. Trong năm 2015, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cũng
giảm ở mức cao, 12,9%. Chính sách hạn chế dần vay gửi ngoại tệ có
vẻ đang đi đúng hướng và góp phần ổn định tỷ giá.
+ Xuất siêu 7 tháng đầu năm 2016 cũng đạt mức cao, 1,79 tỷ
USD, khá tích cực nếu so với mức nhập siêu 3,37 tỷ USD cùng kỳ
năm 2015, càng giúp nguồn cung USD tăng cao.
- NHNN đủ sức can thiệp thiệp thị trường:
+ Việc NHNN điều hành tỷ giá trung tâm theo hướng linh hoạt
kể từ đầu năm 2016 đến nay đã hạn chế tâm lý găm giữ, đầu cơ
ngoại tệ, người dân lẫn doanh nghiệp đã quen dần với sự điều chỉnh
tỷ giá có tăng và có giảm.
+ Với cầu ngoại tệ tăng mạnh, dữ liệu gần nhất cho thấy NHNN
đã mua được lượng ngoại tệ ước 8 tỷ USD, đưa dự trữ ngoại hối quốc
gia lên khoảng 38 tỷ USD. Số lượng ngoại tệ mua được thời gian qua
cho thấy NHNN đủ sức can thiệp thị trường mỗi khi tỷ giá USD/VND
biến động. NHNN cũng đã có những lúc bán ra USD với khối lượng
lớn để ổn định tỷ giá, như vào tháng 8 và tháng 9 năm 2015 - thời
điểm FED nâng lãi suất làm USD biến động mạnh trên toàn cầu.

8

 Dự trữ ngoại tệ Việt Nam

- Từ cuối 2011 đến 2015, với định hướng cam kết các khoảng biến
động mà NHNN đưa ra, tỷ giá USD/VND cơ bản ổn định, dự trữ ngoại
hối gia tăng khá mạnh. Tuy nhiên, từ giữa năm 2015, tỷ giá USD/VND
thể hiện những đợt biến động mạnh, nhà điều hành phải bán ra
lượng ngoại tệ lớn để can thiệp, dự trữ ngoại hối suy giảm.
Ngân hàng HSBC đã đưa ra một số dữ liệu: HSBC dẫn dữ liệu cập
nhật từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy, đến cuối 2015 dự trữ
ngoại hối của Việt Nam đã giảm mạnh xuống còn khoảng 27,9 tỷ
USD. Trong quý 1/2016, HSBC dự tính quy mô trên đã được cải thiện
và tăng trở lại ở khoảng 33,6 tỷ USD. Tính đến giữa tháng 6/2016,
theo con số từ NHNN, với quy mô mua vào tới khoảng 8 tỷ USD trong
5 tháng đầu năm, dự trữ ngoại hối quốc gia đã cải thiện rõ rệt, tăng
lên khoảng 38 tỷ USD, chưa tính đến vàng. Sau gián đoạn từ sự kiện
Brexit, NHNN tiếp tục trở lại mua vào ngoại tệ. Quy mô mua vào ước
khoảng 500 triệu USD chỉ trong một tháng qua.

9

1.7. Giải pháp củng cố thị trường ngoại hối ở Việt Nam
- Cho phép doanh nghiệp được phát hành trái phiếu ngoại tệ để huy
động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và ngoại tệ được coi là thừa
của ngân hàng thương mại.
- Tạo cơ chế mua đứt bán đoạn thay cho tín dụng ngoại tệ nhằm
nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp, ngân hàng và tính thị
trường trong quan hệ ngoại hối.
- Khơi thông nguồn ngoại tệ ứ đọng tại các doanh nghiệp xuất khẩu.
- Đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán, không “neo” chủ yếu vào
đồng USD như hiện nay. Nhưng,

với một ngân hàng có thị phần

thanh toán quốc tế lớn nhất hiện nay, điều đó cũng khó thực hiện
theo ý muốn chủ quan, bởi phần lớn các đối tác bán hàng bên ngoài
đều yêu cầu thanh toán bằng USD, nhà nhập khẩu trong nước phải
đáp ứng.
- Để bên mua - bên bán thực sự gặp nhau. Đáp ứng được yêu cầu
hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu
ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ
không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ
chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến
với nhau. Doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của
họ cao hơn giá quy định; trước khi siết chặt quản lý, doanh nghiệp
mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián
tiếp của ngân hàng. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện
hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ - những
đại diện của thị trường. Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân
10

hàng, nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường
hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba, ngoại tệ thứ ba.
Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp
ứng được yêu cầu của họ. Thị trường đang cần một môi trường để
bên mua - bên bán thực sự gặp nhau, ở một mức giá có được sự
đồng thuận, đáp ứng nhu cầu của cả hai bên. Và ở đây, quan hệ
cung - cầu sẽ hình thành mức giá hợp lý. Tất nhiên, điều này không
đồng nghĩa với sự thả nổi, mà nhà điều hành chính sách là người
mua và bán cuối cùng, điều tiết, định hướng cung - cầu thông qua
những lực lượng sẵn có. Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng
không cô lập, mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi, thị trường
cho vay. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh,
quản lý của NHNN. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi
suất cho vay USD là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ
này, góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối.
2. Thị trường phái sinh
2.1.

Khái niệm

Công cụ phái sinh hay chứng khoán phái sinh là một loại tài sản tài
chính có dòng tiền trong tương lai phụ thuộc vào giá trị của một hay
một số tài sản cơ sở

(underlying asset). Tài sản cơ sở có thể

là hàng hóa, ngoại tệ, chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
2.2.


Vai trò của thị trường phái sinh

Phòng vệ: Vì giá cả các tài sản tài chính thường xuyên biến động nên
các nhà đầu tư trên thị trường tài chính đã sử dụng các công cụ phái
sinh để bảo vệ danh mục đầu tư của mình khỏi những biến động

không lường trước.
− Đầu cơ: Các nhà đầu tư cũng có thể sử dụng công cụ phái sinh để
đầu cơ kiếm lời từ những kì vọng về biến động của giá trong tương
lai.

11

2.3.

Chủ thể tham gia thị trường phái sinh

-

Người đầu tư: họ sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc

-

loại bỏ rủi ro.
Người đầu cơ: họ sử dụng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt.
Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): họ sử dụng rất
hiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá giữa các
thị trường tài chính khác nhau.
Trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất
mạnh.

2.4.

Các sản phẩm phái sinh

a. Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)
-

Khái niệm: Là hợp đồng mua hay bán một lượng chứng khoán nhất
định vào một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá xác
định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng (ngày này phải một

cách ngày ký hợp đồng từ 3 ngày làm việc trở lên).
- Đặc điểm:
 Hợp đồng do hai bên mua bán trực tiếp thỏa thuận về: Giá cả, khối
lượng, thời hạn, phương thức thanh toán. (Giá cả có thể không chính
xác)
 Các bên tham gia có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng.
 Tỷ giá kỳ hạn được xây dựng dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay.
 Khi giá cả trên thị trường giao ngay biến động mạnh, bên bất lợi có
thể không thực hiện hợp đồng.
=> Rủi ro tín dụng.
 Giao dịch trên thị trường OTC, không yêu cầu ký quỹ hay thế chấp.
=> Rủi ro thanh khoản.
- Giá kỳ hạn có thể bằng giá giao ngay nhưng thông thường nó cao
hơn (đánh giá cao) hoặc thấp hơn (giảm giá) so với giá giao ngay.
b. Hợp đồng tương lai (Futures)
- Khái niệm: Là hợp đồng mua hay bán một số lượng chứng khoán
nhất định, ở một mức giá nhất định, vào một ngày xác định trong
tương lai. Hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hóa về quy mô hợp
đồng, thời hạn giao hàng, được mua bán trên sở giao dịch, được xác
định lại giá trị theo thị giá mỗi ngày và các bên hợp đồng phải tuân
thủ quy trình lãi lỗ mỗi ngày.
12