Tải bản đầy đủ
Bảng 2.2 Cơ cấu, độ tuổi giáo viên

Bảng 2.2 Cơ cấu, độ tuổi giáo viên

Tải bản đầy đủ

23

nghiệp sẽ hình thành cho họ một sức ì, ngại tiếp cận với cái mới, ngại thay đổi
phương pháp dạy học, dẫn đến hậu quả là ngày càng mai một về ý chí phấn
đấu cũng như trình độ nghiệp vụ.
2.2.2. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
100% GV có trình độ đạt chuẩn; 12 GV có trình độ thạc sĩ(20.3%); 01
GV đang học tiến sĩ.
2.2.4. Trình độ tin học, ngoại ngữ
Về trình độ tin học, 100% GV trong trường sử dụng thành thạo tin học
văn phòng phục vụ cho công tác giảng dạy và quản lý học sinh.
Về trình độ Ngoại ngữ ( tiếng Anh), 100% GV dạy môn tiếng Anh có
trình độ Đại học và đạt trình độ C năng lực. Đối với GV dạy các môn khác,
năng lực giao tiếp thông thường của tất cả GV đều rất hạn chế, gần như không
thể thực hiện. Nhiều GV lâu năm không còn khả năng nghe, đọc tiếng Anh.
Đây là một rào cản rất lớn đối với đội ngũ GV khi hoạt động hay trao đổi về
chuyên môn trong giai đoạn hiện nay.
2.2.5. Phẩm chất đạo đức, tinh thần tự học, sự tận tâm với nghề
Đa số GV tích cực học tập nâng cao trình độ, kiến thức, có lối sống
lành mạnh, trung thực, biết đặt lợi ích của nhà trường lên trên hết; luôn tôn
trọng đồng nghiệp, yêu quý HS, tâm huyết với nghề. Tuy nhiên, vẫn còn một
số ít GV ít quan tâm đến các hoạt động nhà trường, thiếu sự say mê trong các
hoạt động giáo dục.
2.2.6. Nhận định chung về đội ngũ GV
Bằng thực tế quản lý, xét theo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, có thể
phân loại đội ngũ nhà giáo đang giảng dạy thành 4 loại như sau:
Loại 1: Những nhà giáo giỏi chuyên môn có năng lực sư phạm luôn chủ
động sáng tạo, say mê yêu nghề, trong điều kiện nào họ đều là người đi đầu
kiên trì đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy luôn lôi cuốn khích lệ HS.

24

Họ luôn là những nhà giáo mẫu mực, thực hiện lời dạy Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”.
Loại 2: Những nhà giáo có năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm
nhưng không nhiệt tình, không tự giác, không say mê với nghề như loại 1. Họ
có thể làm tốt tùy hoàn cảnh nhưng không thường xuyên.
Loại 3: Những nhà giáo năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm còn
có nhiều hạn chế nhưng về mặt ý thức họ là người nghiêm túc cố gắng làm
hết sức mình nhưng kết quả giảng dạy, giáo dục đều không đạt đến điều mong
muốn, không thể đáp ứng nổi yêu cầu “đổi mới căn bản giáo dục” hiện nay.
Loại 4: Những nhà giáo hạn chế cả về năng lực lẫn phẩm chất đạo đức
hoặc có năng lực nhưng phẩm chất kém, tạo ra những tiêu cực cho ngành
nhiều hơn là đóng góp tích cực. Dựa vào đặc điểm đội ngũ và phân loại GV
theo 4 loại, cơ cấu đội ngũ GV của nhà trường như sau:
Loại 1: 25 GV
Loại 2: 20 GV
Loại 3: 04 GV
Loại 4: 0 GV
Với 3 loại nhà giáo trong nhà trường như trên, nhà trường phải sớm có
cơ chế chính sách khích lệ, quản lý để GV loại 2 nhanh chóng trở thành loại 1
và phải tổ chức đào tạo lại, trang bị lại kiến thức, phương pháp cho số đông
nhà giáo ở loại 3 thì nhà trường mới có thể thực hiện yêu cầu “đổi mới căn
bản, toàn diện”. Có biện pháp quản lý để không hình thành GV loại 4.
2.2.7. Nguyên nhân của thực trạng
* Nguyên nhân của các thành tựu:
Có sự quan tâm, chỉ đạo cụ thể của UBND tỉnh, của Sở GD&ĐT, sự
quan tâm ủng hộ của các tổ chức chính trị, đoàn thể trong tỉnh, của Ban đại
diện cha mẹ HS nhà trường.

25

Đội ngũ GV đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm, yêu nghề, có ý thức tự
vươn lên. Đội ngũ quản lý tâm huyết; người đứng đầu có phương pháp làm
việc khoa học, quy tụ sự đồng thuận của toàn thể cán bộ, GV, nhân viên, tạo
ra môi trường pháp lý, quản lý toàn diện nhà trường, đẩy mạnh các hoạt động
giáo dục, trong đó đặc biệc coi trọng hoạt động dạy – học; luôn quan tâm xây
dựng đội ngũ GV, đội ngũ CBQL về phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp
vụ, năng lực quản lý; tạo điều kiện để GV cải thiện đời sống và tự giác học
tập để nâng cao về mọi mặt.
*Nguyên nhân của những hạn chế:
Đội ngũ GV tuy đã đủ về số lượng, đảm bảo chuẩn đào tạo nhưng chưa
đồng đều về chất lượng. Một số GV không thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng
để cập nhật kiến thức mới, chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học để
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS. Nhiều GV mới ra trường có
kiến thức phong phú nhưng kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế.
2.3. Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện
2.3.1. Bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cho đội ngũ GV
Bồi dưỡng về chính trị tư tưởng, giúp cho đội ngũ GV nắm vững đường
lối, chủ trương và chính sách về GD&ĐT, về tình hình kinh tế - xã hội trong
nước và quốc tế, về xu thế phát triển của xã hội và giáo dục là một công việc
cần thiết, có tác động lớn đến nhận thức và tư tưởng của đội ngũ GV trong
giai đoạn mới.
Công tác bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức lối sống cần tập trung vào việc
nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ GV đối với sự
nghiệp GD&ĐT. GV phải có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của một
công dân, một nhà giáo với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, sẵn sàng
tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, góp
phần phát triển đời sống văn hóa cộng đồng; yêu nghề, tận tụy với nghề; sẵn

26

sàng khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục HS; chấp hành
đầy đủ các quy định của pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước, các quy định của địa phương. Có thái độ lao động nghiêm túc, đảm bảo
lên lớp đúng giờ, không tùy tiện bỏ lớp học, bỏ tiết dạy, chịu trách nhiệm về
chất lượng giảng dạy và giáo dục ở lớp được phân công. Có đạo đức, nhân
cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo, có tinh thần đấu tranh
chống các biểu hiện tiêu cực; luôn có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề
nghiệp; được đồng nghiệp, HS và cộng đồng tín nhiệm; trung thực trong công
tác; đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp; hết lòng phục vụ nhân dân và HS.
GV phải có thế giới quan khoa học đúng đắn, có định hướng thái độ,
hành vi ứng xử trước các vấn đề về thế giới tự nhiên, thực tiễn xã hội nghề
nghiệp; phải đổi mới, sáng tạo trong dạy học trước vô vàn kiến thức, nguồn
tài nguyên khoa học kỹ thuật vô tận; say mê, bền bỉ, cần cù, nghiêm túc và
sáng tạo trong lao động sư phạm…
Ngoài ra, người GV cũng cần phải cương quyết đấu tranh loại trừ
những biểu hiện chạy theo thành tích, xúc phạm đến nhân cách và thân thể
HS, hoặc cố kiếm tiền bằng mọi hình thức, tự đánh mất mình, làm ảnh hưởng
chung đến uy tín của đồng nghiệp, mất lòng tin của xã hội. Đặc biệt, nhà giáo
phải không ngừng nêu cao đạo đức, tác phong gương mẫu, thương yêu, gần
gũi HS, đoàn kết với đồng nghiệp, là tấm gương sáng cho HS noi theo.
2.3.2. Nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận
chính trị
Giáo dục đạo đức tư tưởng cho giáo viên phải gắn liền với việc bồi
dưỡng phẩm chất nghề nghiệp. Phải xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, am hiểu về lĩnh vực giáo dục, có khả năng
có trình độ lý luận sắc bén, đào tạo giáo viên làm việc hiệu quả, có nghĩa là
phải hiểu biết nội dung môn học, có tri thức sư phạm, tri thức về việc học tập,

27

hiểu biết về sự đánh giá học sinh, biết đánh giá hiệu quả của hoạt động dạy
học của mình và cải tiến, nâng cao hiệu quả của hoạt động đó.
2.3.3. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng
năng lực cho đội ngũ GV
Bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ GV là một trong những yêu
cầu cơ bản thường xuyên trong công tác quản lý nhà trường. Các nội dung bồi
dưỡng thường xuyên là:
Một là, bồi dưỡng về chính trị tư tưởng, giúp cho đội ngũ GV nắm
vững đường lối, chủ trương và chính sách về GD&ĐT, về tình hình kinh tế xã hội trong nước và quốc tế, về xu thế phát triển của xã hội và giáo dục là
công việc cần thiết, có tác động lớn đến nhận thức và tư tưởng của đội ngũ
GV trong giai đoạn mới.
Hai là, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn thông qua các hình thức:
- Tự bồi dưỡng:
Nâng cao trình độ đội ngũ phải lấy tự học làm chủ yếu. Tự học, tự
nghiên cứu vừa là quá trình để GV tự hoàn thiện mình vừa để nêu gương cho
người học. Đội ngũ GV phải luôn có ý thức tự học, tự bồi dưỡng thông qua tài
liệu tham khảo, dự giờ, thao giảng, dự các lớp bồi dưỡng do ngành tổ chức để
nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình.
Nhà trường cần trang bị đầy đủ các phương tiện hiện đại, máy tính kết
nối mạng internet, cung cấp các loại sách báo về giáo dục có liên quan đến
công tác giảng dạy để GV tự học, tự bồi dưỡng, giúp cho GV có thói quen cập
nhật thông tin thường xuyên, kịp thời làm cho bài giảng của mình ngày càng
trở nên thiết thực và phong phú.
Tổ trưởng cần nghiên cứu đề ra những biện pháp để GV phấn đấu nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình góp phần nâng cao chất lượng

28

giáo dục của nhà trường. Phát động phong trào tự học, tự bồi dưỡng trong đội
ngũ GV, động viên, tạo điều kiện thuận lợi để GV tự học, tự nghiên cứu nhằm
biến quá trình bồi dưỡng, đào tạo thành quá trình tự bồi dưỡng, tự đào tạo.
- Tổ chức các hội thảo để trao đổi kinh nghiệm các chuyên đề như bồi
dưỡng HS giỏi, công tác chủ nhiệm lớp, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp, đổi mới phương pháp giảng dạy…
- Tổ chức các cuộc thi GV giỏi cấp trường để trao đổi kinh nghiệm dạy học
- Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn cần tăng cường việc dự giờ
thăm lớp.
- Phân công chuyên môn để GV dạy toàn cấp để nắm được chương
trình giáo dục, giao nhiệm vụ để thử sức ở những lĩnh vực mới.
- Mỗi năm, tổ chức cho GV được đi tham quan học tập ít nhất một lần
tại các trường có uy tín trong tỉnh.
- Tiếp tục thực hiện kế hoạch cử cán bộ, GV học các lớp bồi dưỡng
nâng cao trình độ và khả năng thực hành: Học các lớp Thạc sĩ, Cao cấp chính
trị, Trung cấp chính trị, bồi dưỡng công tác y tế trường học, thiết kế bài giảng
điện tử và các lớp tập huấn bồi dưỡng của ngành cấp trên triệu tập.
- Xây dựng ngân hàng câu hỏi làm tư liệu dạy học: giao nhiệm vụ cho
GV hàng kì phải xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu đổi mới.
- Tổ chức cho GV giúp đỡ nhau cùng học tin học và ngoại ngữ. Tổ
chức kiểm tra trình độ của GV về tin học và ngoại ngữ để phân loại và sắp
xếp lớp học. Bố trí người dạy chính là GV đang dạy tin học và tiếng Anh
trong trường.
- Xây dựng kế hoạch để giáo viên tự giác tham gia có hiệu quả các cuộc
thi Khoa học kỹ thuật, viết Sáng kiến kinh nghiệm…

29

2.3.4. Xây dựng kế hoạch cử GV đi học nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp
vụ, trình độ lý luận chính trị
Có kế hoạch cử GV đi học sau đại học(đào tạo thạc sĩ , tiến sĩ) để nâng
chuẩn đào tạo, xây dựng đội ngũ cốt cán vững vàng, đầu tư cho mũi nhọn và
làm nòng cốt trong chuyên môn.
Để thực hiện điều này phải giao chỉ tiêu cho từng tổ chuyên môn, chỉ
đạo các tổ chuyên môn trong việc động viên và giao trách nhiệm cho GV đi
học trên chuẩn, đồng thời tạo ra những cơ chế chính sách thích hợp về vật
chất, tinh thần, sắp xếp, bố trí thời gian, đãi ngộ và tôn vinh sau khi học xong
để GV an tâm và hăng hái học tập.
2.3.5. Xây đựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu
Chức năng trọng yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách
con người toàn diện. Lực lượng chủ yếu đảm nhận và thực hiện chức năng ấy
là đội ngũ giáo viên. Việc hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ đang
lớn lên là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình và hệ thống giáo dục quốc
dân, trong đó đội ngũ giáo viên có trách nhiệm nặng nề nhất vì họ là những
người chuyên trách công việc giáo dục. Người giáo viên là những người trực
tiếp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ theo đúng mục đích giáo dục. Cụ thể người
giáo viên có trách nhiệm truyền đạt cho thế hệ trẻ hệ thống tri thức khoa học,
và kỹ năng, kỹ xảo lao động nghề nghiệp, truyền bá cho họ lý tưởng và đạo
đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân
loại, đào luyện họ trở thành những lớp người có ích cho đất nước.
Trong một thế giới khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển vừa mang
lại sự biến đổi nhanh trong đời sống xã hội, vừa tạo ra sự chuyển dịch các
định hướng giá trị, thì người giáo viên không thể chỉ đóng vai trò truyền đạt
tri thức, mà đồng thời phải có khả năng phát triển những cảm xúc, thái độ,
hành vi ứng xử của học sinh, đảm bảo cho học sinh làm chủ được và biết ứng

30

dụng hợp lý những tri thức đó....Một trong những tư tưởng chủ yếu trong
chiến lược phát triển giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO là giáo viên phải
được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền
đạt kiến thức. Tư tưởng đó nhấn mạnh người giáo viên phổ thông trong thời
đại mới phải biết phát triển ở người học ý thức về các giá trị đạo đức, tinh
thần, thẩm mỹ tạo nên bản sắc văn hoá truyền thống riêng của từng dân tộc.
Giáo viên hơn ai hết phải là nhà giáo dục, bằng chính nhân cách của mình
tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh..
Nếu đội ngũ này không chuyển biến từ quyết tâm, tinh thần trách nhiệm cho
đến nhận thức, hiểu biết cần thiết về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục thì
khó lòng đạt được các mục tiêu mong đợi. Đề án đổi mới giáo dục, đòi hỏi
giáo viên phải nắm chắc kiến thức, có phương pháp sư phạm khoa học, sáng
tạo và phải luôn luôn học hỏi trau dồi kiến thức, kinh nghiệm cũng như
phương pháp dạy. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ
cấu là tạo điều kiện để giáo viên tập trung chuyên sâu vào lĩnh vực được phụ
trách qua đó nâng cao hiệu quả giáo dục.
2.4. Các giải pháp để thực hiện đề án
2.4.1. Chỉ đạo thực hiện tốt Quy định về đạo đức nhà giáo
Trong điều kiện đất nước hội nhập, kinh tế thị trường phát triển, có cả
những tác động tích cực và tiêu cực thì Quy định về đạo đức nhà giáo có thể
coi là khuôn mẫu để giáo viên soi xét.
Hàng năm, nhà trường phải tổ chức Hội nghị toàn cơ quan để tổng kết
việc thực hiện những quy định của đạo đức nhà giáo theo Quyết định số
16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT,
từ đó các nhà giáo sẽ tự hoàn thiện mình, nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của môi trường giáo dục trong nhà trường, coi trọng kỉ cương, nền nếp,
các phong trào thi đua, có nhận thức đúng đắn về việc đánh giá GV theo chuẩn.

31

2.4.2. Xây dựng văn hóa nhà trường
Khi nói đến một nhà trường tức là nói đến một môi trường văn hoá.
Văn hóa nhà trường là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo
dục thế hệ trẻ. Văn hóa của một nhà trường bao gồm nhiều yếu tố: trình độ
giác ngộ về mục tiêu giáo dục của nhà trường ở các các thành viên (nhất là
các thành viên chủ chốt); tầm nhìn chiến lược đối với sự phát triển của nhà
trường; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thầy cô giáo; mức độ sâu sắc về
lòng yêu nghề, yêu trẻ của thầy cô giáo, sự mẫu mực về đạo đức, lối sống và ý
chí vươn lên tự học suốt đời của các thầy cô giáo; sự thuần nhất về đạo đức và
ý thức tự tu dưỡng rèn luyện đạo đức của học trò, tính chủ động, tự lực và
lòng say mê ham học của học trò, tinh thần vượt khó để học tập của học trò;
sự trung thực trong đánh giá và tự đánh giá chất lượng giáo dục; truyền thống
tôn sư trọng đạo của học trò và nhân dân, truyền thống (đặc biệt là truyền
thống dạy và học), cảnh quan sư phạm, nề nếp kỷ cương (nhất là nề nếp dạy
và học) của nhà trường; trình độ và phong cách quản lý của hiệu trưởng; trình
độ dân chủ hóa trong sinh hoạt của nhà trường, quan hệ phối kết hợp giữa gia
đình – nhà trường – xã hội trong giáo dục học trò....Trong các thành tố trên thì
thành tố cốt lõi nhất là trí tuệ và lòng yêu thương con người.
Văn hóa nhà trường khuyến khích mối quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh
nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa các GV, GV cảm thấy thoải mái dễ dàng thảo
luận về những vấn đề hay khó khăn mà họ đang gặp phải; GV sẵn sàng chia
sẻ kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn, tích cực trao đổi phương pháp và
kỹ năng giảng dạy, quan tâm đến công việc của nhau, cùng hợp tác với lãnh
đạo nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Văn hóa nhà trường
có thể tạo bầu không khí cởi mở, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau tạo động lực để
GV quan tâm cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học từ đó cải thiện thành
tích giảng dạy và học tập của trường.

32

Việc xây dựng và phát triển văn hoá nhà trường không thể thực hiện
trong ngày một ngày hai mà phải có những bước đi cụ thể. Với vị trí đặc biệt
của nhà trường và với vai trò quan trọng của văn hoá nhà trường đối với sự
phát triển tiến bộ của nhà trường cũng như đối với yêu cầu đổi mới quản lý
nhà trường nói riêng và quản lý GD&ĐT nói chung, cần phải tìm ra cách phát
huy cho được văn hoá nhà trường vào thực tiễn hoạt động dạy và học và thực
tiễn hoạt động quản lý của Hiệu trưởng.
Hiệu trưởng cần chú trọng xây dựng văn hóa nhà trường, cụ thể như:
- Xây dựng bầu không khí dân chủ: cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ
lẫn nhau;
- Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, khen thưởng hợp lý thúc đẩy mọi
người nỗ lực làm việc;
- Hiệu trưởng tăng cường dự giờ, trao đổi chuyên môn với GV đứng
lớp về cách dạy và học;
- Làm cho HS biết là chúng được yêu thương, được quan tâm chăm sóc;
- Hiệu trưởng chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền cho GV (đề cao
vai trò lãnh đạo hoạt động dạy và học của GV);
- Hiệu trưởng thể hiện sự nhiệt tâm, trách nhiệm và đầy tình yêu thương
học trò;
- Hiệu trưởng thường xuyên có mặt trong trường và tăng cường tham
dự những sinh hoạt của HS;
- Hiệu trưởng thường xuyên trau dồi kỹ năng giao tiếp, biết lắng nghe;
- Khuyến khích phụ huynh tham gia vào các hoạt động giáo dục của
trường và làm cho phụ huynh hiểu rõ vai trò của họ.
- Hiệu trưởng luôn suy nghĩ để học hỏi, để đổi mới và nâng cao uy tín
của mình trong nhà trường.

33

Để một trường học phát triển bền vững thì nhà trường đó cần có một
môi trường văn hóa khuyến khích tất cả mọi người làm việc và học tập, cống
hiến sức lực và trí tuệ của bản thân cho nhà trường. Khi có được một môi
trường văn hóa như vậy thì có thể dễ dàng xây dựng được khối đoàn kết nhất
trí trong nhà trường, dễ dàng hoàn thành sứ mạng và các mục tiêu đã đặt ra,
góp phần xây dựng một nhà trường đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Để xây dựng tập thể đoàn kết, thì Hiệu trưởng phải là trung tâm xây
dựng khối đoàn kết trong nhà trường. Hiệu trưởng phải thực sự là con chim
đầu đàn, gương mẫu trong công tác, trong sinh hoạt, đầu tư nghiên cứu để tạo
được niềm tin thật sự của tập thể, luôn gần gũi tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng,
hoàn cảnh từng GV để có những giúp đỡ, giải quyết phù hợp, chân tình, giải
toả những mâu thuẫn để tránh “Bằng mặt nhưng không bằng lòng”. Phối hợp
với các đoàn thể trong trường, địa phương để làm tốt công tác giáo dục tư
tưởng, xây dựng đơn vị thực sự là tổ ấmcùng giúp đỡ nhau trong công tác,
trong chuyên môn, trong đời sống để gắn bó với nhà trường và yên tâm công
tác. Đồng thời, Ban giám hiệu phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, lập
trường tư tưởng vững vàng, sẵn sàng giúp đỡ cán bộ, GV, nhân viên gặp khó
khăn, vưỡng mắc trong công tác và trong đời sống, biết lắng nghe, luôn gần
gũi, trò truyện để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh của từng GV.
2.4.3. Đổi mới công tác quản lý
* Kế hoạch hóa nguồn nhân lực
Hàng năm, cần lập kế hoạch về nhu cầu đội ngũ GV nhằm đáp ứng yêu
cầu thực hiện sứ mạng và sự phát triển của nhà trường. Cần phân tích sâu bên
trong đội ngũ về số lượng, cơ cấu (thâm niên, giới tính, trình độ đào tạo,
chuyên ngành đào, năng lực hoàn thành nhiệm vụ, điều kiện, hoàn cảnh gia
đình, sức khỏe…), những vị trí đang thiếu người, xem xét các thông tin bên
ngoài như yêu cầu của xã hội, nhu cầu HS.