Tải bản đầy đủ
Nội dung thực hiện của đề án

Nội dung thực hiện của đề án

Tải bản đầy đủ

16

Việt Nam hội nhập một cách sâu và rộng với thế giới trong bối cảnh
nền kinh tế toàn cầu hoá, khoa học, công nghệ có những tiến bộ nhảy vọt, tri
thức nhân loại tăng theo cấp số nhân. Nhiều vấn đề mang tính toàn cầu như
biến đổi khí hậu, bệnh dịch, an ninh lương thực...đòi hỏi sự hợp tác của tất cả
các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam là quốc gia đông dân cư, có tỷ lệ dân số vàng (cứ 2 người
trong độ tuổi lao động thì chỉ có 01 người phụ thuộc). Tuy nhiên tỷ lệ sinh
đang giảm, tuổi thọ nâng cao, giai đoạn dân số vàng đang bước vào giai đoạn
già hóa, người đang ở độ tuổi lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao (86%
người từ 15 tuổi trở lên chưa qua đào tạo).
Việc Việt Nam gia nhập WTO (trong đó có GATS), APEC, TPP và trở
thành thành viên cộng đồng ASEAN vào năm 2015… đang đặt ra cho giáo
dục những thách thức và cơ hội mới. Giáo dục Việt Nam được tiếp cận với
các nền giáo dục tiên tiến, có cơ hội để học tập và hội nhập bình đẳng. Mặt
khác đây cũng là thách thức không nhỏ, đòi hỏi các nhà quản lí giáo dục nâng
cao sức cạnh tranh với các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài.
Nền kinh tế thị trường của nước ta đang được hoàn thiện trong tất cả
các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực được xem là “nhạy cảm” như tài chính, ngân
hàng, viễn thông, GD&ĐT. Các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường như giá
trị, cạnh tranh, cung cầu…đang được vận hành dưới sự điều chỉnh của các bộ
luật tương ứng, giúp Việt Nam hoàn thiện nền kinh tế thị trường đầy đủ và
được quốc tế thừa nhận.
Tình hình chính trị trong nước ổn định, các giá trị văn hoá, tinh thần
được gìn giữ và phát huy. Định hướng XHCN cũng dần được khẳng định rõ
nét hơn. Đó là một xã hội trong đó “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên
lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn

17

hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có
nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các
nước trên thế giới”[11]. Tuy kinh tế tăng trưởng cao những vẫn còn các yếu tố
gây bất ổn như lạm phát, khủng hoảng toàn cầu. Nhu cầu về nguồn nhân lực
được đào tạo ngày càng lớn, nhu cầu học đại học trong thanh niên ngày càng
cao. Giáo dục đại học, chuyên nghiệp, dạy nghề bước đầu được vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng XHCN.
Nghị quyết 29 đã bắt đầu phát huy tác dụng và đi vào cuộc sống, Nghị
quyết đã nhấn mạnh vai trò “quốc sách hàng đầu của GD&ĐT”, đồng thời
cũng thừa nhận sự yếu kém của chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học
và dạy nghề, sự yếu kém về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục. Nghị
quyết chỉ rõ phương hướng chủ đạo trong “đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục Việt Nam” là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu
quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân”; xây dựng nền giáo dục mở, thực
học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt, có cơ cấu và phương thức giáo
dục hợp lí, gắn với xây dựng, bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng,
chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống
giáo dục và đào tạo, giữ vững định hướng XHCN và bản sắc dân tộc.
Bắt đầu hình thành những đặc trưng của một xã hội học tập, nơi con
người được tạo điều kiện học tập suốt đời. Bước chuyển từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế trí thức, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của kho
tàng kiến thức nhân loại và những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ đã dẫn tới nhu cầu tất yếu là phải học tập suốt đời, và đương

18

nhiên nền giáo dục truyền thống cũng phải chuyển sang một giai đoạn mới là
giáo dục suốt đời cùng với sự hình thành xã hội học tập.
Khái niệm học tập suốt đời đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội
nghị TW 4 (khoá VII): “Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi
người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công
dân”. Quyết định số 112/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010” đã đưa ra những chỉ
tiêu cụ thể, các nhiệm vụ chủ yếu và các giải pháp xây dựng xã hội học tập ở
Việt Nam.
Những cơ hội có thể là: được tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến, có
khả năng học hỏi, tiếp thu những yếu tố tiên tiến phù hợp với truyền thống
của giáo dục đại học Việt Nam, làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới giáo dục
Việt Nam, hội nhập với giáo dục thế giới trong một không gian giáo dục mở.
Còn những thách thức cũng rất to lớn:
- Cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục nhất là giáo dục đại học sẽ gay gắt
hơn, với nhiều đối thủ hơn, và ngay trên đất Việt Nam.
- Mặc dù chúng ta chủ động đổi mới giáo dục nhưng việc Việt Nam hội
nhập ngày càng sâu rộng, nhất là từ khi gia nhập WTO, tiến trình đổi mới giáo
cần được tiến hành nhanh hơn, đồng bộ hơn và hiệu quả hơn.
- Trong bối cảnh đó, giáo dục Việt Nam vẫn phải gìn giữ bản sắc dân
tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
2.1.2. Bối cảnh địa phương
* Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Vĩnh Phúc là tỉnh đồng bằng (trong đó có một số địa bàn miền núi), là
một trong cái nôi hình thành nên cộng đồng người Việt (di chỉ Đồng Đậu) với
dân cư tập trung sinh sống lâu đời, kinh tế phát triển nhanh trong hơn một

19

thập kỷ qua, mạng lưới kết cấu hạ tầng khá phát triển và liền kề với Thủ đô
Hà Nội nên có mạng lưới giáo dục, đào tạo tương đối toàn diện và phát triển.
Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau (ngân sách nhà nước, chương trình
mục tiêu, huy động từ các thành phần kinh tế, sự đóng góp của người dân…),
mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo các cấp của tỉnh đã và đang phát triển ngày
càng rộng và phân bố trên khắp các xã, đến tận thôn/bản trên địa bàn tất cả
các huyện/thị trong tỉnh với hệ thống cơ sở trường, lớp và cơ sở vật chất - kỹ
thuật từng bước được cải thiện.
Toàn tỉnh có 37 trường trung học phổ thông với 879 lớp, phân bố trên
khắp các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong số các trường THPT có
02 trường Trung học (cấp 2+3).
Tổng số học sinh PTTH năm 2010 có 37.510 em. Tỷ lệ học sinh tốt
nghịêp THCS được vào học lớp 10 tăng từ 75% năm 2000 lên 91,8% năm
2010 (trong đó vào THPT là 76,8% và bổ túc THPT là 15,0%.
Giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh trong những năm qua có
những tiến bộ về kết quả dạy và học. Học sinh các trường THPT của Vĩnh
Phúc có điểm thi trung bình trong thi tuyển vào các trường đại học đứng thứ 5
trên tổng số 63 tỉnh thành của cả nước và 6 trường THPT của tỉnh đứng vào
nhóm 200 trường có chất lượng tuyển sinh cao nhất của cả nước, trong đó có
5 trường thuộc nhóm 100 trường tốt nhất.
Hầu hết các trường trung học phổ thông được xây dựng khang trang. Số
trường THPT đạt chuẩn quốc gia là 11 trường, đạt tỉ lệ 29,7% (tăng 2 trường so
với năm học trước). Hệ thống cơ sở vật chất về trường, lớp và các công trình
phục vụ học tập của cấp trung học phổ thông được xây dựng tương đối đồng bộ
và về cơ bản là tốt. Tính chung trên toàn tỉnh có 99% tổng số phòng học trong
các trường THPT được xây dựng kiên cố, hầu hết thuộc loại nhà cao tầng. Số
phòng bán kiên cố hiện còn 26 phòng. Có 100% trường THPT có 2 -3 phòng

20

máy tính với 30 máy tính/ phòng và được nối mạng Internet, toàn cấp có 3.010
chiếc. Có 47,4% số trường THPTcó phòng học bộ môn được khai thác tốt, hầu
hết các trường đều có thư viện, nhiều trường có thư viện đạt chuẩn.
Số học sinh trung bình/lớp học là 43 học sinh/lớp, nằm trong giới hạn
định mức chuẩn (40 - 45 học sinh/lớp).
Tỷ lệ phòng học/lớp tính chung toàn tỉnh có 0,96 phòng/lớp.
Tổng diện tích đất của các trường THPT hiện có 76 ha, bình quân một
học sinh đạt 20,2 m2/học sinh, so với định mức của HĐND tỉnh là 30 m2/1
học sinh, còn thiếu bình quân 9,8 m2/học sinh.
Tổng số giáo viên trung học phổ thông của toàn tỉnh năm 2010 có
1.897 người. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trở lên là 100,0%, trong đó tỷ lệ trên
chuẩn là 25,97%.
Số giáo viên bình quân/lớp vào khoảng 2,16 giáo viên/lớp (cao hơn so
với mức chuẩn là 2,25 giáo viên/lớp). Tuy nhiên, về cơ cấu môn học, hiện còn
thiếu khá nghiêm trọng giáo viên tin học. Toàn tỉnh có 34 giáo viên tin học
tính cho 38 trường THPT của tỉnh (mỗi trường không có đủ 1 giáo viên); cả
tỉnh có 210 giáo viên ngoại ngữ (bình quân 5 giáo viên một trường). Như vậy,
còn tình trạng trường THPT không có giáo viên tin học. Giáo viên một số bộ
môn khác như nhạc, mỹ học, thể dục, giáo dục công dân... cũng thiếu.
Việc bồi dưỡng kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng
nghiệp vụ được tổ chức thường xuyên. Hàng năm thường có 100% cán bộ
quản lý và giáo viên THPT được tập huấn về chương trình, sách giáo khoa và
sử dụng thiết bị dạy học lớp 10. Thường xuyên tổ chức cho giáo viên THPT
tập huấn về sử dụng thiết bị dạy học tại trường Đại học sư phạm Hà Nội.
* Bối cảnh nhà trường:
Trường THPT Quang Hà là đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo
tỉnh Vĩnh Phúc, nằm tại thị trấn Gia Khánh huyện Bình Xuyên. Năm 1987

21

nhà trường được thành lập với tên gọi trường PTTH Kỹ thuật Quang Hà, đến
năm 1993 đổi tên thành trường PTTH cấp 2 - 3 Quang Hà. Ngày 11/6/1997
UBND tỉnh Vĩnh Phú(cũ) ra Quyết định số 644/QĐ-UB giải thể trường PTTH
cấp 2 - 3 Quang Hà và thành lập trường THPT Quang Hà.
Nhà trường tuyển sinh con em các xã thuộc phía Bắc huyện Bình
Xuyên là: Tam Hợp, Hương Sơn, Trung Mỹ, Bá Hiến, Thiện Kế và thị trấn
Gia Khánh, các xã Minh Quang, Hợp Châu của huyện Tam Đảo. Phần lớn gia
đình học sinh ở vùng nông thôn làm nông nghiệp, nhìn chung kinh tế của
nhiều gia đình còn khó khăn nên sự chăm lo về học tập cho con em còn nhiều
hạn chế. Hằng năm chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 của nhà trường thấp nhất
so với các trường THPT trong Tỉnh, điểm chuẩn vào trường là 11.0 điểm
(Trung bình 2,2 điểm/môn). Những yếu tố trên là những nguyên nhân chính
ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường.
Qua quá trình phát triển đến nay cơ sở vật chất nhà trường đã có nhiều
thay đổi, hiện tại nhà trường đã có 30 phòng học kiên cố đầy đủ ánh sáng,
quạt điện và bàn ghế ngồi, 10 phòng chức năng, 01 nhà đa năng, 01 thư viện,
01 phòng truyền thống, 01 phòng y tế với 04 giường và tủ thuốc chăm sóc sức
khoẻ và sơ cấp cứu ban đầu cho học sinh, 01 căng tin, 12 phòng học bộ môn
đầy đủ các TBDH, có nhà để xe cho giáo viên, học sinh. Khu vệ sinh của học
sinh được vệ sinh thường xuyên sạch sẽ, hệ thống lọc nước sạch công suất
300 lít/giờ đủ cung cấp nước uống cho toàn trường.
Bảng 2.1: Qui mô lớp, học sinh
Lớp 10
Năm học

Lớp 11

Lớp 12

Cộng

Số

Số

Số

Số

Số

Số

Số

Số

lớp

HS

lớp

HS

lớp

HS

lớp

HS

2013 -2014

8

358

8

335

9

382

25

1075

2014-2015

8

348

8

334

8

327

24

1009

22

2015-2016

8

302

8

333

8

331

24

966

2.2. Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án
2.2.1. Số lượng, cơ cấu và độ tuổi giáo viên
Bảng 2.2 Cơ cấu, độ tuổi giáo viên
Môn

Tổng

Toán

Hóa
Sinh
Văn
Anh
Sử
Địa
GDCD
Tin
TD
KTCN
KTNN
Cộng

số
11
5
4
3
10
6
5
4
2
2
4
1
2
59

Giới tính
Nam
Nữ
2
1
2
2
1
1
1

9
4
2
3
8
5
4
3
2
2

Chia ra theo độ tuổi
≤30
>30;≤40 >40;≤50
1
1
1
1
1
1
1
1

4
1
15

1
1
44

8

10
4
4
2
5
4
3
3
1
1
3
1
2
43

>50

1

4
1
1

1
7

1

Đại đa số GV nhà trường có kinh nghiệm giảng dạy từ 10 năm cho đến
15 năm. Đây là độ tuổi sung sức nhất, đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm
về chuyên môn, nghiệp vụ, là lực lượng năng động nhất, tích cực, chủ động,
nhạy bén với cái mới. Có thể nói GV của trường đang có cơ cấu “vàng”. Nếu
có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, khích lệ, động viên tốt thì sẽ tạo ra đội ngũ
GV chuyên nghiệp, tinh nhuệ, có khả năng thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo
dục của nhà trường. Ngược lại, nếu không khơi dậy được niềm đam mê nghề