Tải bản đầy đủ
Cơ sở xây dựng đề án

Cơ sở xây dựng đề án

Tải bản đầy đủ

10

tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì rất cần phải nhận thức rõ hơn nữa
vị trí và vai trò của GD&ĐT, vị trí của người thầy trong sự nghiệp vĩ đại này.
Khi nguồn lực con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi
quốc gia thì phát triển GD&ĐT là phương tiện chủ yếu để quyết định chất
lượng con người, là nền tảng của chiến lược con người. Con người vừa là
trung tâm của mọi sự phát triển, vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển.
Với tư cách là động lực cho sự phát triển, GD&ĐT chuẩn bị cho con người sự
phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực, cho lợi ích hiện tại và tương lai
của đất nước.
Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định nhất đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội. Hàm lượng tri thức trong nền kinh tế là nhân
tố quy định sự phát triển. Hàng hoá nào có hàm lượng tri thức càng cao thì
càng có giá trị. Tri thức là nguồn tài nguyên rất đặc biệt, khác với những
nguồn tài nguyên khác, tri thức là vô hạn, càng khai thác càng giàu lên, càng
cho đi, càng thu về nhiều hơn. Do vậy, phát triển dựa trên tri thức là phát triển
bền vững. Mà tri thức thì chính là những dữ liệu, thông tin hay những kỹ năng
mà con người có được qua sự trải nghiệm hoặc thông qua giáo dục. Như vậy,
giáo dục chính là yếu tố để gia tăng hàm lượng tri thức trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã luôn khẳng
định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai
trò chính yếu của Nhà nước, được ưu tiên trước nhất, thậm chí đi trước một
bước so với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Ngay từ khi mới thành
lập, Đảng đã có nhiều quan điểm chỉ đạo về phát triển GD&ĐT. Ngày
03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ

11

Chí Minh đã trình bày với các Bộ trưởng 6 nhiệm vụ cấp bách của đất nước
lúc bấy giờ, trong đó có nhiệm vụ về giáo dục đó là “diệt giặc dốt”.
Với vị trí quốc sách hàng đầu, GD&ĐT có vai trò là nền tảng, động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của GD&ĐT được thể hiện rõ
trong quan điểm của Đảng ở các kì Đại hội:
Nghị quyết TW 3, khoá 7 năm 1993 khẳng định: Khoa học và công nghệ,
GD&ĐT là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển.
Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã khẳng định: Phát triển GD&ĐT là nền
tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng nhấn mạnh: GD&ĐT là một
trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát
huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững.
Nghị quyết TW 8, khoá XI: GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự
nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư
cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kì quá độ lên
CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định lại quan điểm
xuyên suốt của Đảng ta: “GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,
xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được
thông qua tại Đại hội XI, vai trò của GD&ĐT được nhấn mạnh và làm rõ:
“GD&ĐT cần tập trung vào việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao”.

12

Luật giáo dục năm 2005, Luật giáo dục sửa đổi năm 2009
Luật giáo dục đã quy định nhiều nội dung, trong đó có mục tiêu giáo
dục, đầu tư cho giáo dục, trách nhiệm của nhà giáo, vai trò và trách nhiệm của
cán bộ quản lý giáo dục, mục tiêu của giáo dục phổ thông....
Điều 2: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 13: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.
Điều 15. Vai trò và trách nhiệm của nhà giáo
Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.
Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng,
đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo
thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống
quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học.
Điều 16. Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản
lý, điều hành các hoạt động giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục phải không
ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn,
năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân.

13

Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý
giáo dục, bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục.

Điều 27. Mục tiêu của giáo dục phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng
lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và
có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện
phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Quyết định số 16/2008/QĐ-GDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ
GD&ĐT ban hành Qui định về đạo đức nhà giáo
Quy định về đạo đức nhà giáo là cơ sở để các nhà giáo nỗ lực tự rèn
luyện phù hợp với nghề dạy học được xã hội tôn vinh, đồng thời là một trong
những cơ sở để đánh giá, xếp loại và giám sát nhà giáo nhằm xây dựng đội
ngũ nhà giáo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và lương tâm
nghề nghiệp trong sáng, tích cực học tập, không ngừng nâng cao chuyên môn

14

nghiệp vụ và phương pháp sư phạm, có lối sống và cách ứng xử chuẩn mực,
thực sự là tấm gương cho người học noi theo.
Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ
GD&ĐT ban hành Quy định chuẩn nghề nghiệp GV trung học cơ sở, GV
trung học phổ thông
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơ bản
đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học giúp giáo
viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực
nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên
hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học; làm cơ sở để xây dựng, phát triển
chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học; làm cơ sở để nghiên
cứu, đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên trung học; cung
cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác.
Nội dung của thông tư gồm 06 tiêu chuẩn với 25 tiêu chí:
Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (gồm 05 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
(gồm 02 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học (gồm 08 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục (gồm 06 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội (gồm 02 tiêu chí)
Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp (gồm 02 tiêu chí)
Chiến lược phát triển giáo dục phổ thông tỉnh Vĩnh Phúc đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030

15

Trong 10 đến 20 năm tới, phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo Vĩnh
Phúc theo hướng tiên tiến, hiện đại, đạt chuẩn quốc gia và có yếu tố đạt trình
độ quốc tế. Xây dựng Vĩnh Phúc thành trung tâm giáo dục và đào tạo đa
ngành, đa lĩnh vực và chất lượng cao của cả nước.
Đội ngũ giáo viên phổ thông được phát triển đủ về số lượng, có trình độ
chuyên môn vững và thành thạo phương pháp, công nghệ giáo dục hiện đại,
xây dựng đồng bộ về cơ cấu để thực hiện giáo dục toàn diện, dạy học phân
hóa, dạy học 2 buổi/ngày, dạy học song ngữ Anh - Việt ở một số môn học.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập, nhiều cơ hội và thách thức đặt ra
không chỉ cho ngành giáo dục mà cho toàn xã hội. Đội ngũ GV nói chung còn
bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng. Đa số GV mới
chỉ chú trọng đến dạy chữ, chưa chú trọng dạy làm người, dạy học chưa gắn
liền với thực tiễn đời sống, còn chạy theo lý thuyết kinh điển, bám vào tri thức
có sẵn trong sách giáo khoa, ít lắng nghe, luôn đổ lỗi cho HS, cho cha mẹ HS
và nhà trường, đồng nghiệp. Nhiều GV chưa thực hiện đổi mới phương pháp
giảng dạy, phương pháp giáo dục, chưa chú trọng những đợt tập huấn, huấn
luyện nghiệp vụ do trường hoặc Sở giáo dục tổ chức. Một số GV chưa coi
trọng nghề của mình bằng việc không thực hiện được tính chuyên nghiệp của
nghề giáo, dễ tự do tùy tiện, ngẫu hứng, không chịu theo những qui trình chuẩn
mực chặt chẽ. Tất cả những chuẩn mực của một giờ chỉ được GV quan tâm
thực hiện đầy đủ khi thao giảng hoặc có thanh tra, có người dự giờ.
2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
2.1.1. Bối cảnh trong nước

16

Việt Nam hội nhập một cách sâu và rộng với thế giới trong bối cảnh
nền kinh tế toàn cầu hoá, khoa học, công nghệ có những tiến bộ nhảy vọt, tri
thức nhân loại tăng theo cấp số nhân. Nhiều vấn đề mang tính toàn cầu như
biến đổi khí hậu, bệnh dịch, an ninh lương thực...đòi hỏi sự hợp tác của tất cả
các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam là quốc gia đông dân cư, có tỷ lệ dân số vàng (cứ 2 người
trong độ tuổi lao động thì chỉ có 01 người phụ thuộc). Tuy nhiên tỷ lệ sinh
đang giảm, tuổi thọ nâng cao, giai đoạn dân số vàng đang bước vào giai đoạn
già hóa, người đang ở độ tuổi lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao (86%
người từ 15 tuổi trở lên chưa qua đào tạo).
Việc Việt Nam gia nhập WTO (trong đó có GATS), APEC, TPP và trở
thành thành viên cộng đồng ASEAN vào năm 2015… đang đặt ra cho giáo
dục những thách thức và cơ hội mới. Giáo dục Việt Nam được tiếp cận với
các nền giáo dục tiên tiến, có cơ hội để học tập và hội nhập bình đẳng. Mặt
khác đây cũng là thách thức không nhỏ, đòi hỏi các nhà quản lí giáo dục nâng
cao sức cạnh tranh với các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài.
Nền kinh tế thị trường của nước ta đang được hoàn thiện trong tất cả
các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực được xem là “nhạy cảm” như tài chính, ngân
hàng, viễn thông, GD&ĐT. Các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường như giá
trị, cạnh tranh, cung cầu…đang được vận hành dưới sự điều chỉnh của các bộ
luật tương ứng, giúp Việt Nam hoàn thiện nền kinh tế thị trường đầy đủ và
được quốc tế thừa nhận.
Tình hình chính trị trong nước ổn định, các giá trị văn hoá, tinh thần
được gìn giữ và phát huy. Định hướng XHCN cũng dần được khẳng định rõ
nét hơn. Đó là một xã hội trong đó “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên
lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn