Tải bản đầy đủ
b. HĐNT gián tiếp và PTTT gián tiếp

b. HĐNT gián tiếp và PTTT gián tiếp

Tải bản đầy đủ

99
Ví dụ:
(48)

Ít có sai phạm trong tuyển dụng công chức ở Hà Nội? (DT 28/09/2015, PL2)
HĐNT ở tiêu đề bài báo này là hành động hỏi nhưng hỏi để chê, giễu, mỉa.

Bài báo đưa ra kết luận của thanh tra UBND Thành phố Hà Nội và các đơn vị về
quản lý biên chế công chức. Theo kết luận này thì “ưu điểm nhiều, khuyết điểm ít”,
việc tuyển dụng công chức không có sai sót đáng kể nào. Đặt các nội dung bài báo
này trong ngữ cảnh những lùm xùm trong việc sát hạch công chức của Hà Nội năm
2015 vừa được báo chí phản ánh mới thấy được hàm ý của bài báo. Nó đã được
nhắc đến trong bài như: kết luận của thanh tra “bỏ quên”, những lùm xùm “vắng
bóng”. Cuối cùng câu hỏi mà tiêu đề đặt ra mỗi độc giả đã có câu trả lời cho mình.
Ít có sai phạm trong tuyển dụng công chức ở Hà Nội, đó là theo kết luận của thanh
tra; còn thực tế thì ngược lại.
Những thông tin chìm này cũng được suy ra từ một bài báo tương tự:
(49)

Môi trường trọng nhân tài (DT 15/12/2015, PL21)
Bài báo đi tìm câu trả lời cho ba câu hỏi: Một, vì sao người Việt có trí tuệ,

học tập không thua kém các dân tộc khác nhưng đất nước lại không phát triển
nhanh như kỳ vọng. Hai, vì sao những người giỏi không tham gia nhiều vào các
hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, trong khi đất nước rất cần người tài để
xây dựng cơ chế chính sách? Ba, vì sao nhiều người giỏi đi học ở nước ngoài lại
không muốn về?
Cần đặt ba câu hỏi này trong một ngữ cảnh vượt ngoài bài báo là vụ việc
của TS Doãn Minh Đăng và trường: TS Đăng là một người giỏi đi học ở nước
ngoài, trở về nước làm việc nhưng lại xảy ra những mâu thuẫn với nhà trường. Liên
hệ với vụ việc này mới hiểu rõ hơn hàm ý mà tác giả muốn nói trong lời kết của bài:
“Người giỏi không ai chịu nhận lương ba đồng ba cọc để kiếm ăn bằng cách
mờ ám và ngồi chờ “chuyến tàu vét” của buổi hoàng hôn cuối nhiệm kỳ. Nhân tài
chỉ tồn tại trong môi trường trọng nhân tài”.
Rõ ràng, vấn đề ở đây không còn chỉ là chuyện của nhân tài nữa mà là
chuyện môi trường có trọng dụng nhân tài hay không? Vì thế HĐNT hỏi trong bài

100
báo này không đơn thuần để hỏi mà hỏi để khẳng định những thực tế còn tồn tại
trong việc xây dựng môi trường làm việc cho người tài.
Hay trong bài báo Tiến sĩ trượt vẫn phục, VN mới có “cú nhảy then chốt”
(VNN 11/05/2015, PL4) có đoạn kết:
(50)

Đến khi nào hàng trăm thạc sĩ, tiến sĩ (thay vì 30 người) được đào tạo cả

trong nước lẫn ngoài nước đều không buồn khi thi công chức trượt vì thấy rằng
những người được chọn xứng đáng hơn cả về trình độ lẫn sự phù hợp, thì Việt Nam
đã sẵn sàng cho một cú nhảy then chốt.
HĐNT trong đoạn kết trên là hành động khẳng định, khẳng định nhưng để
phê phán thực tại. Cần đặt bài báo trong ngữ cảnh cụ thể về việc 30 thạc sĩ, thủ
khoa xuất sắc nước ngoài trượt công chức; xung quanh vấn đề này có rất nhiều ý
kiến trong đó nổi bật là những chia sẻ của các thí sinh, bức xúc về đề thi, cách thi,
những nghi vấn ẩn đằng sau kết quả. Từ đó nhiều ý kiến mở rộng về vấn đề môi
trường công chức ở Việt Nam, công cuộc chạy đua vào đó. Biết về những ý kiến
này mới thấy được quan điểm của tác giả trong bài báo: khi những người tài trượt
mà vẫn phục thì Việt Nam mới phát triển được.
Một số ví dụ đã phân tích ở trên cho thấy ngữ cảnh cụ thể có vai trò vô cùng
quan trọng trong việc hiểu hàm ý của diễn ngôn báo chí. Nó tạo ra PTTT gián tiếp
thú vị mà nhà báo sử dụng để hấp dẫn người đọc, lôi kéo họ vào quá trình phản hồi
tương tác lại.
b2. HĐNT gián tiếp còn tạo nên những kiểu đối thoại gián tiếp. Nhà báo đã
thông qua nhiều “lời nhân vật khác” để thể hiện lời của mình. Dẫn lời người khác là
một cách tạo ra các cuộc tranh luận hiệu quả.
(51)

Hạn chế học sinh sử dụng Facebook để ngăn ngừa “loạn ngôn” (DT

05/11/2015, PL18)
Trong bài báo thể hiện sự đối thoại về vấn đề cấm học sinh sử dụng
Facebook. Mở đầu, bài báo nêu vấn đề:
Thời gian qua, nhiều vụ học sinh chửi bới nhau, thậm chí chửi cả bố mẹ,
người thân trên Facebook. Mới đây nhất, một nữ sinh Trường THPT Lê Lợi (Hà
Đông, Hà Nội) đã bị đình chỉ học 10 ngày vì nói xấu giáo viên trên Facebook. Đấy
là lý do vì sao, một số trường đã đưa những điều cấm kỵ với học sinh khi sử dụng

101
mạng xã hội.
Sau đó, bài báo đưa ra chia sẻ của lãnh đạo một số trường học với tinh thần
chung: mục đích của nhà trường không phải cấm các em dùng Facebook mà chỉ hạn
chế một số hành vi xấu dễ làm ảnh hưởng đến người khác.
PGS Văn Như Cương (Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường THPT dân lập
Lương Thế Vinh, Hà Nội): cấm nói tục chửi bậy, cấm chửi xéo... đều là những
nguyên tắc cần có của mỗi học sinh bởi như thế là “loạn ngôn”, không nghiêm túc
và thiếu văn hóa.
Thầy Vũ Trọng Lâm (Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Đức Cảnh): “Học
sinh có thể mỗi em đón nhận một kiểu, nhưng những quy định như không nói tục,
chửi bậy, nói xấu, bôi nhọ người khác... đều là những nguyên tắc mà học sinh
trường nào cũng phải thực hiện”.
Các diễn ngôn trên có HĐNT là trần thuật nhưng trần thuật để khẳng định
và thể hiện quan điểm phê phán của mình. Với việc đưa ra và phân tích ý kiến của
các nhà giáo, nhà báo đã gián tiếp bày tỏ quan điểm: hạn chế chứ không cấm học
sinh dùng Facebook và hạn chế học sinh sử dụng Facebook để ngăn ngừa “loạn
ngôn”. Đây chính là những nội dung đối thoại mà bài báo muốn chuyển tải tới
người đọc. Việc dẫn lời các nhân vật khác với các HĐNT gián tiếp rõ ràng đã làm
tăng thêm hiệu quả đối thoại.
Đặc biệt, các diễn ngôn báo chí còn luôn hướng tới lời của người khác hay
tới một điều gì khác để tranh luận, đối thoại. Điều này khiến cho các diễn ngôn
báo chí đã vượt lên nội dung ngôn từ bề nổi để hướng tới ngữ nghĩa bề sâu. Ví dụ:
(52)

Liệu Doãn Minh Đăng có “tâm thần”, “dị dạng” hay… là “tàn tích”?!

(DT08/12/2015, PL20)
Bài bình luận này sử dụng khá nhiều HĐNT gián tiếp, hỏi nhưng để phê
phán, hỏi nhưng để chê, mỉa, giễu. Nội dung bài bình luận xuất phát từ vụ việc mâu
thuẫn của TS Đăng và nhà trường. Trong diễn biến câu chuyện, có một lời nói mà
người viết lưu ý: Có một chi tiết đáng lưu ý là Hiệu trưởng Dương Thái Công còn
cho biết có thể anh Đăng “bị bệnh thần kinh”, cần phải đi chữa trị. Vì lời nói này
nên tác giả nảy sinh ý định phân giải xem TS Đăng có bị bệnh hay không?
Không biết nếu đi khám, các bác sĩ kết luận Doãn Minh Đăng có tâm thần thật

102
hay không, nhưng việc ông Hiệu trưởng bảo anh bị “thần kinh” có thể là… có lý. (1)
Nói có lý là bởi thời nay có chức, có quyền là có danh, có lợi, có bổng, có lộc
nên từ chối danh - lợi thì theo ông Hiệu trưởng, chỉ có người bị… “thần kinh”. (2)
Rồi trong thiên hạ đua nhau chạy chức, chạy quyền, thậm chí “mua bán” với
những cái giá “khủng”, việc được - thua còn “ngàn cân treo sợi tóc”, có ai đó tự
dưng được trao chức, trao quyền lại từ chối thì theo ông, “tâm thần” là… còn
nhẹ?! (3)
Đó là chưa kể theo triết lý: “Sống ở đảo người gù, ai thẳng lưng là dị dạng NV”, nên nếu sống ở thời và ở nơi chạy chức, chạy quyền, ai từ chối quyền chức sao
lại không “dị dạng” nhỉ? Trong trường hợp may mắn nhất, có lẽ anh Đăng là “tàn tích
cuối cùng” còn sót lại của thời mà nhiều nhà khoa học tài năng đã từng từ chối quyền
chức để chuyên tâm vào khoa học. Tiếc thay, thời đó nay còn không?! (4)
Cho nên suy luận theo hướng anh Đăng bị “thần kinh” của ông Hiệu
trưởng, có lẽ anh Doãn Minh Đăng nếu không “tâm thần”, “dị dạng” thì cũng là…
“tàn tích”?! (5)
Đoạn bình luận trên một mặt luôn hướng tới việc lí giải lời của hiệu trưởng
về việc nghi ngờ anh Đăng bị thần kinh (đoạn 1, 5); một mặt lại hướng tới một vấn
đề khác: suy ngẫm về thời cuộc, người tài từ chối chức quyền trong xã hội hiện nay.
Giọng triết lý (đoạn 4), giọng giễu nhại (đoạn 3) đan xen làm nên một giọng điệu
đối thoại sâu cay. Để rồi đằng sau giọng điệu ấy, độc giả đã tìm ra được câu trả lời
cho câu hỏi “anh Đăng bị “tâm thần” như lời ông hiệu trưởng nói, bị “dị dạng” so
với thời đại này hay là “tàn tích” của thời đại trước”. Những câu hỏi trong bài bình
luận đã mang hàm ý giễu sâu cay, tác động mạnh tới người đọc.
Tiểu kết
Thể phát là các nhà báo (đại diện cho các tờ báo). Đây là những người tạo
lập ra phần lớn các diễn ngôn báo chí. Tương tác của thể phát được thể hiện qua các
diễn ngôn của nhà báo với hai đối tượng là: thể phát (trên cơ sở chủ đề) và thể nhận.
1. Tương tác giữa các thể phát trên cơ sở chủ đề thể hiện mối quan hệ tương
tác về mặt chủ đề giữa các diễn ngôn của nhà báo. Đó là sự thay đổi và tương tác về
tiêu điểm thông tin trong các bài báo có cùng chủ đề với nhau. Mỗi bài báo có một

103
đối tượng hướng tới khác nhau song chúng cùng nằm trong mạch chung hướng tới
vấn đề chính của chủ đề.
Trong phạm vi khảo sát, tương tác chủ đề có ba kiểu là: tạo lập chủ đề, duy
trì chủ đề, duy trì và triển khai chủ đề. Tạo lập chủ đề tạo nên chủ đề đầu tiên trong
bài báo gốc và làm nền tảng cho sự duy trì chủ đề. Sự duy trì chủ đề tạo nên sự
tương tác trực tiếp. Đó là sự tác động và tương tác giữa các bài báo với nhau thông
qua các chủ đề chính. Còn các bài báo duy trì và phát triển chủ đề thì ngoài duy trì
chủ đề còn tạo được một chủ đề mới qua sự liên hệ với chủ đề cũ. Sự phát triển chủ
đề luôn logic và mới mẻ, thu hút được lượng lớn phản hồi tương tác của độc giả.
2. Tương tác thể loại thể hiện mối quan hệ tương tác về mặt thể loại giữa các
diễn ngôn. Theo khảo sát, có bốn thể loại (tin, tường thuật, phỏng vấn, bình luận)
được sử dụng với tần số gần như nhau. Mỗi thể loại đều có một thế mạnh và khả năng
tương tác riêng. Sử dụng đan xen, hài hòa các thể loại đã phát huy được toàn bộ thế
mạnh của từng thể loại. Giữa các bài báo cùng chủ đề có mô hình tương tác chủ đề
phổ biến. Đó là việc các chủ đề thường mở đầu bằng thể loại tin (tin ngắn để thông
báo sự việc). Tiếp đến là các bản tin đầy đủ bằng thể loại tường thuật. Các bài phỏng
vấn sau đó tiến hành khai thác thông tin nhiều chiều khác nhau được tiến hành. Các
bài bình luận đan xen để thể hiện những quan điểm, đánh giá riêng. Đó là quá trình
triển khai thông tin để đi đến kết thúc giải quyết vấn đề bằng thể loại tin. Sự chuyển
linh hoạt từ thể loại này sang thể loại khác cho ta thấy các bước để tìm hiểu thông tin
trong báo chí. Đó cũng là nghệ thuật khai thác thông tin của các nhà báo.
3. Tương tác của thể phát với thể nhận cho thấy quyền lực tương tác của nhà
báo. Nhà báo tạo ra các diễn ngôn có sự tác động tới các độc giả và dẫn tới các hành
vi xã hội khác. Các yếu tố thể hiện được quyền lực tương tác này là: cấu trúc diễn
ngôn và hành động ngôn từ.
Các thành phần của cấu trúc diễn ngôn báo chí thể hiện tính tương tác. Tiêu
đề với vị trí đầu tiên chính là thành phần nổi bật đầu tiên thể hiện được thông tin và
sự tác động của diễn ngôn tới người đọc. Đa số các kiểu sapô đều chú trọng đến tính
thông tin, đặc biệt ở báo mạng điện tử tính thông tin còn được đẩy lên ở mức độ cao
hơn: thông tin ngắn gọn nhưng vẫn đầy đủ; tạo điều kiện để người đọc nắm bắt
thông tin nhanh và tương tác nhanh lại. Cấu trúc thông tin được sử dụng nhiều nhất

104
là kiểu hình kim tự tháp ngược. Đây là kiểu cấu trúc đưa những thông tin hấp dẫn
lên đầu bài để thu hút sự quan tâm của độc giả.
Nhà báo đã tương tác thông qua các HĐNT trực tiếp và gián tiếp tương ứng
với hai PTTT (trực tiếp và gián tiếp). Sự tương tác của diễn ngôn báo chí thường
được thể hiện trực tiếp, biểu hiện rõ ràng với ý nghĩa tường minh; với phương thức
gián tiếp, người đọc phải suy ý để nhận ra hàm ý ẩn giấu trong đó.

105
Chương 3
TƯƠNG TÁC CỦA THỂ NHẬN TRONG DIỄN NGÔN BÁO ĐIỆN TỬ
Dẫn nhập
Thể nhận là độc giả, công chúng đọc báo. Nếu như vai trò của thể phát đã
được thể hiện rõ trong việc tạo ra các diễn ngôn có tính tương tác thì vai trò của thể
nhận được thể hiện trong việc tiếp nhận, lĩnh hội các diễn ngôn đó và có ý kiến
phản hồi lại. Thể nhận ở đây lại tiếp tục tạo ra các diễn ngôn (các phản hồi) để
tương tác lại với diễn ngôn trước đó của thể phát. Ở quá trình này, thể nhận - độc
giả trở thành thể phát, chủ thể tương tác trực tiếp cho quá trình tương tác thứ hai
(độc giả - nhà báo) sau quá trình tương tác đầu tiên (nhà báo - độc giả) và có thể có
quá trình tương tác với các độc giả khác (độc giả - độc giả). Mô hình minh họa cho
hai quá trình tương tác này:
Bài báo
Thể phát

Phản hồi
Thể nhận

Thể nhận
Phản hồi

Phản hồi

Hình 3.1: Quá trình tương tác giữa thể phát - thể nhận và các thể nhận
Do đó, trong chương này, tương tác của thể nhận sẽ được miêu tả qua tương
tác giữa thể nhận với thể phát và tương tác giữa các thể nhận với nhau.
Trong diễn ngôn báo chí, thể nhận và thể phát luân phiên thay đổi vị trí cho
nhau nên thể nhận và thể phát ở trạng thái động. Có hai loại thể nhận khác nhau:
(1) Thể nhận1 là độc giả: tiếp nhận thông tin tương tác trong các bài báo.
(2) Thể nhận2 là các nhà báo, tòa soạn báo: sau khi đóng vai trò là thể phát 1
(đưa ra thông tin tương tác với thể nhận 1) thì thay đổi vị trí trở thành thể nhận 2 để
tiếp nhận sự tương tác trở lại với thể nhận1 (lúc này đóng vai trò là thể phát2).
Hai thể nhận nói trên thể hiện tính động của thể nhận trong diễn ngôn báo chí.
Trong chương 3 này, chúng tôi chỉ đề cập tới những đặc điểm của thể nhận 1. Dưới
đây, khi nói đến thể nhận tức là chỉ thể nhận1.

106
Thể nhận - độc giả của báo chí đặc biệt là báo điện tử có đặc điểm riêng so
với độc giả ở các phong cách chức năng khác. Họ không tiếp nhận thông tin một
chiều. Họ có thể tham gia vào quá trình đưa tin, trở thành đồng tác giả của các bài
báo bằng cách phản hồi tức thời ý kiến của mình, cung cấp thêm các chi tiết, sự việc
liên quan mà phóng viên chưa có điều kiện khai thác hay tranh luận để mở rộng vấn
đề theo các hướng khác nhau. Vì thế, tính chủ động của độc giả là điều kiện để xuất
hiện quá trình tương tác trở lại của độc giả. Độc giả chủ động: chủ động trong tiếp
cận thông tin và chủ động trong việc đóng góp ý kiến.
Dưới đây, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại hệ thống phản hồi ở từng
chủ đề và từng báo cụ thể. Qua đó rút ra những đặc điểm về tần số phản hồi; đặc
điểm phản hồi (nội dung, hình thức phản hồi); các phương tiện ngôn ngữ thể hiện sự
tương tác trong phản hồi (hành động ngôn từ, một số phương tiện ngôn ngữ khác).
Đây chính là các đặc điểm thể hiện rõ hiệu quả tương tác của diễn ngôn báo chí.
3.1. Hệ thống diễn ngôn phản hồi - diễn ngôn của thể nhận
Báo điện tử có rất nhiều hình thức để độc giả tương tác: hệ thống thư điện tử
(email); các cuộc giao lưu, bàn tròn trực tuyến (online seminars); các diễn đàn; phản
hồi qua đường dây nóng, qua đường thư tín; bình chọn, thăm dò dư luận… Ở đây,
chúng tôi chỉ xét sự tương tác của độc giả qua hình thức phản hồi (comment, bình
luận) dưới mỗi bài viết. Ở báo mạng, sự tương tác trực tiếp của độc giả qua phản
hồi là một đặc điểm làm nên sự khác biệt so với các loại hình báo chí khác.
3.1.1. Đặc điểm diễn ngôn phản hồi
3.1.1.1. Mô hình xây dựng diễn ngôn phản hồi
Tận dụng tính năng của Internet, dưới sự hỗ trợ của các phương tiện công
nghệ, báo điện tử đã thiết lập được một kênh thông tin phản hồi tốc độ, tin cậy và
đặc biệt hiệu quả. Các loại hình báo chí truyền thống với các kênh thông tin phản
hồi qua viết thư, gọi điện thoại đến các chuyên mục: “bạn đọc viết” của báo in, “hộp
thư truyền hình” của truyền hình, “bạn nghe đài” của phát thanh… có thể gặp khó
khăn khi tiếp nhận thông tin do các yếu tố khách quan như thời gian, thất lạc, điện
thoại không liên lạc được… Báo điện tử với hệ thống các phản hồi được xây dựng
ngay dưới mỗi bài viết, chỉ cần viết bình luận và ấn gửi là tòa soạn nhận được. Mọi

107
phản hồi đều được gửi đúng địa chỉ với tốc độ nhanh và được tòa soạn tiếp nhận.
Hình ảnh sự xây dựng phản hồi dưới mỗi bài viết của các báo:

Hình 3.2: Phản hồi dưới mỗi bài viết của báo điện tử
Nhờ mô hình phản hồi nhanh chóng và thuận tiện, độc giả dễ dàng viết và
gửi bình luận phản hồi trở lại với tòa soạn. Phản hồi trở thành diễn ngôn của các thể
nhận - các độc giả đọc báo điện tử.
Trong phạm vi khảo sát có hiện tượng nhà báo tập hợp các phản hồi của độc
giả, phân loại chúng theo nội dung rồi xây dựng thành một bài báo. Nghĩa là một
bài báo được xây dựng từ hệ thống phản hồi của độc giả đọc báo, nội dung phản hồi
chính là thông tin của bài báo. Trong trường hợp này, phản hồi được nhà báo tập
hợp lại trở thành bài báo - diễn ngôn của thể phát.
Ví dụ: Bài báo Độc giả chấm điểm bài văn điểm 0 (VNN, PL19) tóm tắt lại
nội dung chính hàng ngàn ý kiến phản hồi của độc giả về bài văn có mở đoạn được
0 điểm. Hệ thống các ý kiến khác nhau đã được nhà báo sắp xếp vào hai luận điểm
lớn là: Giáo viên và phụ huynh nên trao đổi trực tiếp và Khi con phải học văn mẫu.
Toàn bộ bài báo là tập hợp các phản hồi, nhà báo đưa ra các phản hồi này
một cách khách quan, không tham gia bình luận hay đánh giá đúng, sai.
Bài báo cung cấp một cái nhìn toàn diện về tất cả các nội dung tương tác trở
lại của độc giả đối với vấn đề nhà báo đưa ra. Điều này cho thấy, trong quá trình
khai thác thông tin, việc nhà báo và tòa soạn quan tâm tới phản hồi của độc giả là
cần thiết. Thậm chí, chúng còn được hiện diện trở thành nội dung của một bài báo
để tất cả các độc giả được biết.

108
Hiện tượng này theo khảo sát chỉ có duy nhất một trường hợp trên. Có thể
thấy rằng, bản chất phản hồi luôn do độc giả tạo ra trước; sau đó có thể được các
nhà báo biên tập, sử dụng các phản hồi này để tạo ra một bài báo mới. Vì thế, có thể
khẳng định phản hồi chính là các diễn ngôn của thể nhận, do thể nhận tạo ra.
Ở mỗi phản hồi đều có tên của người phản hồi (nickname bình luận). Theo
khảo sát, tên của độc giả phản hồi ở báo điện tử khá độc đáo và cũng có khả năng
tương tác. Nhiều trường hợp, các nicknamne thể hiện một phần thông tin cần phản
hồi. Đa số độc giả điền tên riêng song cũng nhiều độc giả điền các con số, các kí
hiệu, các tên mang hàm ý riêng… Ví dụ:
- Các nicknamne là tên riêng kèm theo địa chỉ rõ ràng:
(53) Bài viết quá hay. Đó là những lời tâm huyết các bạn trẻ nên tham khảo để soi
vào mình để xem mình đang là ai. Mình cần gì để có bước đi tốt cho tương lai. (Lê
Thị Việt Hồng THPTC Hùng Vương Gia Lai). (Thủ khoa từ chối công chức, làm
công dân toàn cầu VNN 24/04/2015, PL3)
- Các nickname kí hiệu: H2O, H2s, hhhhhh123, … (Dân trí)
- Các nickname ngẫu nhiên: Người Xa Lạ, Akiko, Cool cool Sat, Tờ Rí,
Fantasic, Haiku, Nuida Changtrai, Nơi Ấy Bình Yên, … (Dân trí)
- Các nickname mang hàm ý: Quá chuẩn, Bùng Văn Phát, Chém gió, Thái
cực, Con Thuyền Ngược Dòng, Nhân tài, Bình loạn, Người Trẻ Ngày Nay, That that
hoi, Dân Việt... (VietNamNet); Nhân v Quả, Chơi Suốt Năm, TTX Thoi nay, Tiếng
Nói, Dân Đen, Hoi Ngu Dân Tri, VÌ DÂN VÌ NƯỚC, Thuongdan, Nói Phải… (Dân
Trí)
Đặt các nickname trên cùng với nội dung phản hồi, có thể nhận thấy chúng
cũng thể hiện một phần nội dung muốn nói của độc giả. Có những nickname thể hiện
mục đích ngay ở tên phản hồi: Thương dân, Long Dân (Dân trí) hay thể hiện sự đả
kích: Nguyễn Hoàng Ăn Thuế (Dân trí), Suy ngam, Người Vĩ Đại, Con Nhà Nông…
Như vậy, để tương tác thì độc giả không chỉ chú ý tới nội dung phản hồi mà
còn chú ý từ những dấu hiệu bên ngoài nội dung như tên bình luận.
3.1.1.2. Số lượng diễn ngôn phản hồi

109
Dưới đây, chúng tôi sẽ phân loại, thống kê số lượng phản hồi của báo điện tử
đồng thời chỉ ra một số kiểu chênh lệch số lượng phản hồi kèm theo một số lí giải.
Việc quan tâm tới số lượng phản hồi là rất cần thiết vì nó chính là những chỉ số định
lượng (có thể đo đếm được) chỉ ra những chỉ số định tính về tính tương tác và hiệu
quả tương tác của báo điện tử.
a. Số lượng diễn ngôn phản hồi ở hai báo Dân trí và VietNamNet
Thống kê 185 bài báo của hai báo điện tử Dân trí và VietNamNet thu được số
lượng phản hồi cụ thể như sau:
ST
T

1
2
3
4
5
6
7
Tổng

Chủ đề

Thạc sĩ, thủ khoa xuất sắc
trượt công chức Hà Nội
ĐH Tôn Đức Thắng
phong GS, PGS
Đà Nẵng kiện nhân tài
Tích hợp môn Lịch sử
Học sinh nói xấu giáo
viên trên Facebook
Tranh cãi mở đầu đoạn
văn 0 điểm
Giảng viên nói xấu
trường trên Facebook

Dân trí

VietNamNet

Tổng
bài

Tổng
phản
hồi

Số
bài

Số
phản
hồi

Số
bài

Số
phản
hồi

17

1325

17

502

34

1827

22

836

17

461

39

1297

8
28

102
635

2
27

1
268

10
55

103
903

5

252

2

0

7

252

2

277

4

237

6

514

19

692

15

408

34

1100

185

5996
(100%
)

4119
1877
(68,7% 84 (31,3%
)
)
Bảng 3.1: Số lượng các diễn ngôn phản hồi
10
1

Nhìn vào bảng thống kê có thể thấy lượng phản hồi của hai báo điện tử Dân
trí và VietNamNet là rất nhiều (5996 phản hồi ở 185 bài). Có những chủ đề lượng
phản hồi lên đến số lượng hàng trăm, nghìn (635, 836, 1325…). Đa số các bài báo ở
các chủ đề đều có nhiều phản hồi, rất ít bài báo có ít hoặc không có phản hồi. Điều
này chứng tỏ lượng độc giả đọc báo và tương tác ở báo điện tử là rất nhiều.