Tải bản đầy đủ
c. Sự tổ chức nội dung thông tin

c. Sự tổ chức nội dung thông tin

Tải bản đầy đủ

92
- Thông tin không quan trọng: thông tin về tiêu chuẩn cho ngạch giảng dạy,
tiêu chuẩn cho ngạch nghiên cứu.
Ở báo điện tử, sự cạnh tranh rất khắc nghiệt. Để độc giả đọc đến nội dung bài
báo, cần phải đem vào đó cái tốt nhất (hoặc cuốn hút nhất) ngay lúc bắt đầu. Những
chi tiết khác sẽ được phát triển về sau. Vì thế, nhà báo đã luôn tuân thủ nguyên tắc
vàng khi viết báo để sản phẩm của mình thu hút được người đọc, có tính cạnh tranh
và tương tác cao. Có thể tóm lược nguyên tắc vàng ấy bằng hình sau:

Hình 2.2: Quy tắc vàng trong viết báo
Ngoài ra, các cấu trúc kim tự tháp xuôi và hình chữ nhật cũng xuất hiện.
Ví dụ: cấu trúc hình chữ nhật
(43)

Giáo viên lên tiếng về đoạn văn mở 0 điểm gây xôn xao (DT 18/11/2015, PL

19)
Trong bài báo này, tác giả trình bày chia sẻ của nhiều giáo viên Văn về cách
chấm đoạn văn mở bị chấm 0 điểm mà trước đó báo đã đưa tin. Trong đó, các ý kiến
của các cô giáo được lần lượt đưa ra, ngang hàng nhau và được tập hợp thành hai
luận điểm song song với nhau là: Giáo viên cần chỉ lỗi cho học sinh, Theo văn mẫu
cũng nên cho điểm. Các chi tiết của bài báo được sắp xếp ngang hàng nhau. Mỗi chi
tiết mang một lượng thông tin mới. Không chi tiết nào nổi trội hoặc ngược lại
không có giá trị thông tin.
Ví dụ: cấu trúc kim tự tháp xuôi

93
(44)

Tiến sĩ trượt vẫn phục, VN mới có “cú nhảy then chốt” (VNN 11/05/2015,

PL4)
- Mở đầu ấn tượng: nêu sự việc nhiều thạc sĩ tốt nghiệp nước ngoài trượt kỳ
thi công chức với lời bình “có gì lạ đâu!”
Có gì lạ đâu!
Khi được hỏi quan điểm về sự kiện nhiều thạc sĩ tốt nghiệp nước ngoài trượt
kỳ thi tuyển công chức của TP. Hà Nội vừa qua, một người bạn của tôi, từng lấy bằng
Thạc sĩ của một ĐH danh tiếng tại Hoa Kỳ thổ lộ: “Có gì lạ đâu! Họ trượt là đúng!”
- Mức độ quan trọng dần: nêu các ý kiến giải thích cho lời nhận xét trên, rồi
phân tích các những nguyên nhân khiến cho nguồn “nguyên khí” được đào tạo
ngoài nước này chưa đóng góp được nhiều và hợp lý cho sự phát triển của đất nước.
- Chi tiết quan trọng nhất: lời bình luận rút ra từ toàn bộ vấn đề.
Đến khi nào hàng trăm thạc sĩ, tiến sĩ (thay vì 30 người) được đào tạo cả
trong nước lẫn ngoài nước đều không buồn khi thi công chức trượt vì thấy rằng
những người được chọn xứng đáng hơn cả về trình độ lẫn sự phù hợp, thì Việt Nam
đã sẵn sàng cho một cú nhảy then chốt.
Bài báo bắt đầu bằng thông tin lôi cuốn người nghe, sau đó cung cấp dần dần
chi tiết phát triển đề tài của tin. Đây là phương pháp tăng dần lượng thông tin đối
với người nghe.
Tóm lại, tiêu đề, sapô là những phần dễ nhận diện tính tương tác của văn bản
báo chí. Tác giả khi tạo lập văn bản đã chú ý đến những thành phần cấu trúc này để
tạo tính có vấn đề, tính tương tác đầu tiên tới người đọc. Đây gần như là những
thành phần bề nổi, những thứ dễ “đập” vào mắt người đọc để tác động đến họ. Còn
bề sâu của văn bản, phần nội dung bài báo với các cách cấu trúc thông tin khác nhau
chính là phần quyết định tính chất, mức độ nông sâu của sự tương tác.
2.2.2.2. Hành động ngôn từ
Như đã trình bày ở chương 1, các yếu tố quan trọng khi phân tích diễn ngôn
là tư tưởng - quyền lực - ngữ cảnh - hành động. Diễn ngôn tương tác, tác động tới

94
người đọc là nhờ quyền lực của nó. Hơn nữa, diễn ngôn như một hành động; quyền
lực của diễn ngôn được thực thi thông qua các hành động ngôn từ. Bằng diễn ngôn
chứa hành động ngôn từ, người nói tác động tới người khác và làm thay đổi họ. Do
đó, dưới đây, chúng tôi xuất phát từ hành động ngôn từ trong các diễn ngôn với các
ngữ cảnh báo chí cụ thể để chỉ ra quyền lực và tư tưởng của các diễn ngôn đó.
Quyền lực ấy tạo ra sự tương tác trong diễn ngôn báo chí.
Khảo sát số lượng cụ thể ở 185 bài báo như sau: (do số lượng HĐNT ở các
bài báo rất nhiều nên dưới đây trong bảng thống kê, chúng tôi chỉ đưa ra số liệu
thống kê dựa trên PTTT nổi bật của bài báo đó)
Dân trí
ST
T

1
2
3
4
5
6
7

Chủ đề

Thạc sĩ, thủ khoa xuất
sắc trượt công chức Hà
Nội
ĐH Tôn Đức Thắng
phong GS, PGS
Đà Nẵng kiện nhân tài
Tích hợp môn Lịch sử
Học sinh nói xấu giáo
viên trên Facebook
Tranh cãi mở đầu đoạn
văn 0 điểm
Giảng viên nói xấu
trường trên Facebook
Tổng

VietNamNe
t
PTT PTT
T
T
trực gián
tiếp tiếp

Tổng

PTT
T
trực
tiếp

PTT
T
gián
tiếp

14

3

14

3

28

6

20

2

16

1

36

3

5

3

2

0

7

3

27

1

26

1

53

2

5

0

2

0

7

0

2

0

4

0

6

0

16

3

12

3

28

6

8

165
(89,19
%)

20
(10,81
%)

89

12

76

PTTT
PTTT
trực tiếp gián tiếp

Bảng 2.7: Phân loại các PTTT dựa vào HĐNT

95
Nhìn vào bảng trên có thể thấy, PTTT trực tiếp được sử dụng chiếm đa số
(89,19%), PTTT gián tiếp khá ít (10,81%). Sự tương tác của diễn ngôn báo chí
thường được thể hiện trực tiếp, biểu hiện rõ ràng; ít những đối thoại, tương tác
ngầm hay nói cái này nảy cái khác.
a. HĐNT trực tiếp và PTTT trực tiếp
a1. PTTT trực tiếp được thể hiện rất hiển ngôn trên bề mặt ngôn từ từ tiêu đề,
sapô đến nội dung thể hiện nhất quán những thông tin rõ ràng mà người đọc “đọc là
có thể hiểu”. Trong đó, hành động kể, trần thuật (nhóm trình bày) với mục đích
thông tin là hành động được sử dụng nhiều nhất. Vì hành động này có đích ở lời
là miêu tả một sự tình đang được nói đến, hướng khớp ghép là lời - hiện thực (giá trị
đúng - sai mà nó nêu ra được xác định trên cơ sở lời có phù hợp hay không với sự
vật được nói tới), trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh
đề là một mệnh đề có thể đánh giá tính đúng - sai lôgic. Những tiêu chí này phù hợp
với chức năng cung cấp thông tin của báo chí.
Ví dụ một số bài báo tường thuật chuyển tải những thông tin tương tác rõ
ràng tới người đọc như:
(45)

Sáng 26/11, Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên sơ thẩm dân sự

xét xử trường hợp vi phạm hợp đồng Đề án nguồn nhân lực chất lượng cao của
thành phố Đà Nẵng (Gọi tắt là Đề án 922), buộc bồi hoàn số tiền hơn 1,7 tỷ đồng.
(Đà Nẵng: Nhân tài thua kiện, bị buộc trả 1,7 tỷ đồng VNN 27/11/2015, PL11)
Những cụm “xét xử trường hợp vi phạm”, “buộc bồi hoàn”… trong ví dụ
trên đã cung cấp thông tin cơ bản về trường hợp có người vi phạm, có người bị kiện
và có người thua kiện… - nghĩa là có người “sai” về mặt pháp luật. Từ đó, bài báo
đưa ra những thông tin có thể tương tác theo chiều hướng đánh giá tính chất đúng sai cả về pháp luật (cái lí) và tình cảm (cái tình).
Sau tin tóm tắt thông tin về vụ xét xử nhân tài trên, bài báo tường thuật lại
chi tiết về một trường hợp vi phạm hợp đồng: từ khi phê duyệt Đề án đến khi đi
học, trở về công tác và vi phạm hợp đồng bị ra quyết định chấm dứt tham gia Đề án
và bị khởi kiện. Toàn bộ bài báo là những hành động trần thuật, kể, miêu tả lại vụ
việc. Việc sử dụng những hành động như trần thuật, kể, miêu tả đã cung cấp những

96
thông tin cần thiết của vụ việc đến cho người đọc từ đó họ có thể tương tác lại bằng
cách đánh giá, nhận xét tính chất đúng - sai, bày tỏ quan điểm, lập trường, tư tưởng
của mình. Bài báo sử dụng HĐNT với ý nghĩa tường minh. Vì thế, những điều
muốn tương tác cũng được biểu hiện rõ ràng với các tín hiệu ngôn ngữ hiển ngôn:
“xét xử”, “khởi kiện”, “thua kiện”… Theo đó, trong những phản hồi tương tác lại ở
bài báo này, độc giả cũng tập trung bàn luận tới các vấn đề đã nêu ra trong bài báo
với các từ khóa “xét xử”, “thua kiện”…
Một ví dụ khác:
(46)

Chiều tối 7/12, một cuộc họp giữa lãnh đạo Bộ GD-ĐT và Hội Khoa học Lịch

sử Việt Nam dưới sự chủ trì của Ban Tuyên giáo TƯ xung quanh tranh luận có nên để
môn Lịch sử là môn học độc lập, bắt buộc trong chương trình SGK mới.
[…] Theo đó, điều mà cả hai bên đều thống nhất là Lịch sử đóng vai trò
quan trọng trong chương trình phổ thông và là nội dung giáo dục bắt buộc đối với
tất cả học sinh từ tiểu học lên THPT. (Không tích hợp Lịch sử vào môn Công dân
với Tổ quốc VNN 07/12/2015, PL17)
Đoạn trên sử dụng cấu trúc khẳng định với từ “là” (là nội dung giáo dục bắt
buộc), cấu trúc phủ định “không + động từ” (không tích hợp) – phủ định để khẳng
định (Lịch sử là môn độc lập). Người đọc có thể tiếp nhận thông tin qua tiêu đề và
nội dung bài báo rất hiển ngôn: môn Lịch sử sẽ là một môn học độc lập, không tích
hợp vào môn Công dân với Tổ quốc. Trong bài báo trên, nhà báo nói về một cuộc
họp để bàn về môn Lịch sử. Nội dung cuộc họp, các bên tham gia, các ý kiến tranh
luận và các điểm thống nhất sau cuộc họp… đã lần lượt được kể lại đầy đủ. Theo
đó, sự tương tác trở lại của độc giả cũng tập trung bàn luận về nội dung và kết luận
của cuộc họp này.
Như vậy, hầu hết HĐNT trong các bài báo kể trên là hành động trần thuật với
mục đích là miêu tả và thông báo. Nó được sử dụng đúng như khái niệm mà nó gợi
ra. Đó là những lời kể lại, thuật lại một câu chuyện hoặc sự việc với các chi tiết và
diễn biến của nó. Chúng nói về các sự kiện, các hiện tượng, các tình trạng hoặc
hành động. Các ý kiến nêu lên để người nghe biết, đồng tình, phản đối hoặc tư duy
cùng. Bản chất của HĐNT trong DNBC là việc sử dụng các phương tiện ngôn từ để