Tải bản đầy đủ
Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử (The interaction of E-newspaper discourse) đã bước đầu được đề cập đến ở các cấp độ khác nhau. Về cơ bản, các công trình đã đề cập tới vấn đề các hình thức tương tác và vấn đề độc giả tương tác vớ

Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử (The interaction of E-newspaper discourse) đã bước đầu được đề cập đến ở các cấp độ khác nhau. Về cơ bản, các công trình đã đề cập tới vấn đề các hình thức tương tác và vấn đề độc giả tương tác vớ

Tải bản đầy đủ

18
Một số công trình đã bước đầu đề cập đến vấn đề này song chưa có những
phân tích đi sâu cụ thể. Trong Báo chí - những vấn đề lí luận và thực tiễn [61], các tác
giả khái quát và cho ví dụ về tính tương tác cao của báo điện tử qua vai trò của độc
giả phản hồi lại thông tin. “Một tin tức gửi đi nhanh chóng nhận ngay phản hồi của
rất nhiều độc giả, nhận xét về nội dung thông tin, chia sẻ tình cảm với người trong
cuộc thậm chí phản ứng ngay với tờ báo về cách đưa tin (Ví dụ việc đưa tin về vụ
sóng thần hồi cuối năm 2004 rất được quan tâm nhưng không ít người phàn nàn về
việc đăng tải các hình ảnh quá thương tâm). Đài phát thanh và truyền hình có một số
mục giao lưu hay talkshow cho phép người xem, người nghe gọi điện trực tiếp,
nhưng chắc chắn không “bì” kịp với kiểu trao đổi qua Internet” [61; 255].
Hoàng Anh (trong Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông
đại chúng, bài Các đặc điểm của ngôn ngữ báo mạng điện tử) [2] cũng chỉ ra tính
tương tác là một đặc điểm của ngôn ngữ báo điện tử. Tác giả phân tích kết cấu
mở là điểm làm cho báo điện tử khác với các loại hình báo chí khác. Nhiều tác
phẩm trên báo mạng điện tử có kết cấu mở để thu hút sự tham gia công chúng vào
quá trình thông tin. “Xuất phát từ nhận thức rằng thông tin mà nhà báo đưa ra chỉ
là một lát cắt, một khía cạnh nhỏ trong cả mảng thông tin lớn đáng quan tâm, vì thế
nó cần được tiếp nối, được bổ sung, được làm rõ để bảo đảm tính đa dạng, phong
phú, nhiều chiều, đáp ứng sự chờ đợi của công chúng, các nhà báo mạng điện tử
thường gợi mở thêm nhiều vấn đề để chính độc giả trả lời. Nhờ tính tương tác cao,
báo mạng cho phép độc giả dễ dàng gửi ý kiến của mình tới tòa soạn và những ý
kiến như vậy có thể được biên tập và công bố tức thì.” [2;75]
Như vậy, theo tác giả, tính tương tác của báo mạng điện tử là do vai trò
năng động của độc giả. Cụ thể hơn, tác giả đưa ra ba cách phổ biến để công chúng
tham gia vào quy trình thông tin trong báo mạng điện tử: Thứ nhất là dạng lấy ý
kiến độc giả. Thứ hai là dạng giao lưu, hỏi đáp giữa độc giả và các nhân vật. Thứ ba
là mời độc giả tham gia vào diễn đàn nhằm thảo luận về một vấn đề thời sự đang
được quan tâm rộng rãi trong xã hội.
Tác giả kết luận kết cấu mở của các tác phẩm báo mạng là nhân tố quan
trọng giúp tòa soạn thu nhận được nhiều thông tin. Ngoài ra, đây cũng là cách để

19
tạo ra niềm hứng thú cho công chúng, thu hút họ trở thành bạn đọc thường xuyên
của mình.
Đây cũng là hướng phân tích trong Những kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ
trong truyền thông đại chúng (www.journalism.org) [120]. Kết cấu mở của báo
mạng có ba dạng: lấy ý kiến độc giả, đặt câu hỏi độc giả trả lời, giao lưu trực tuyến.
Nhờ tính tương tác cao, độc giả gửi ý kiến của mình tới tòa soạn, tòa soạn biên tập
rồi công bố. Công trình Các thủ thuật làm báo điện tử (Nxb Thông Tấn 2006) [35]:
đề cập đến sự thay đổi vai trò của độc giả: độc giả bình đẳng, bình luận, tương tác
lại, phản hồi thông tin, chia sẻ tình cảm với bài báo.
Như vậy, các công trình kể trên đã bước đầu chỉ ra tính tương tác của báo
mạng điện tử là do sự tương tác qua phản hồi của độc giả với thông tin mà bài
báo đã đưa ra và kết cấu mở của báo mạng chính là đặc điểm thu hút sự tham gia
của độc giả vào quá trình làm báo. Đây là sự tương tác giữa độc giả với tòa soạn và
nhà báo.
Ngoài ra, trên website báo chí www.journalism.org [120] công bố một số
công trình nghiên cứu trực tiếp về tính tương tác của báo điện tử. Các tác giả đã chỉ
ra vai trò của độc giả trong việc tương tác, các phương tiện đa phương tiện để tương
tác, các tiêu chí đo tính tương tác và các biểu hiện tương tác. Cụ thể công trình:
Những đặc điểm mang tính tương tác của báo điện tử (Keith Kenney, Alexander
Gorelik và Sam Mwangi). Công trình này đề cập tới mô thức mới của truyền thông
và độc giả, đưa ra các tiêu chí đo lường tính tương tác như: công cụ tìm kiếm, siêu
liên kết, phản hồi, các đặc điểm đa phương tiện… Ngoài phản hồi thuộc về mặt
ngôn ngữ, các tiêu chí này đều thuộc về mặt phi ngôn ngữ.
Như vậy, nghiên cứu này đã cho thấy có sự tương tác bằng ngôn ngữ và không
bằng ngôn ngữ. Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ lựa chọn tương tác bằng ngôn ngữ.
Những nghiên cứu trên tuy trực tiếp đề cập tới những biểu hiện cụ thể của
tính tương tác song về cơ bản vẫn chỉ tập trung ở những đặc điểm về độc giả, về đặc
tính đa phương tiện của báo. Những biểu hiện này là đúng, là trúng nhưng chưa đủ

20
đối với sự tương tác đa dạng của diễn ngôn báo điện tử. Độc giả chỉ là một yếu tố,
một nhân vật tương tác trong quy trình tương tác của báo điện tử.
1.1.2.2. Nghiên cứu về hình thức tương tác
Phần lớn hệ thống các khóa luận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ ở các cơ sở đào
tạo ([53], [59], [63], [94]…) đã có nghiên cứu cụ thể về tính tương tác của báo điện
tử; song mới chỉ chỉ ra các hình thức tương tác bề mặt của diễn ngôn báo điện tử.
Rất nhiều công trình đã chỉ ra tính tương tác là đặc điểm làm nên sự khác
biệt lớn giữa báo điện tử và các loại hình báo chí còn lại; đồng thời cũng thống kê
một số hình thức tương tác giữa tòa soạn báo mạng và công chúng như: tương tác
qua box phản hồi; tương tác qua thư điện tử (e-mail); tương tác qua đường dây
nóng; tương tác qua thư tín; tương tác qua hình thức thăm dò dư luận (vote); tương
tác qua giao lưu trực tuyến. Từ đó, các tác giả thống kê các hình thức tương tác
chính trên báo mạng điện tử như sau: (1) Tương tác giữa người đọc và máy: công cụ
tìm kiếm (tìm kiếm theo chủ đề, theo ngày tháng, theo từ khóa), hình thức bỏ phiếu
(vote), đọc báo theo ý thích, RSS. (2) Tương tác giữa độc giả và tòa soạn: hộp thư
góp ý, giao lưu trực tuyến (chat với người nổi tiếng, bàn tròn trực tuyến. (3) Tương
tác giữa độc giả với độc giả. (4) Tương tác giữa độc giả với phóng viên, BTV.
Như vậy, các công trình này thực chất mới chỉ đề cập tới những hình thức
tương tác giữa tòa soạn, nhà báo - độc giả, người đọc và máy. Những khía cạnh về
nội dung, quan hệ, các nhân tố tương tác hoàn toàn chưa được đề cập đến.
Điểm lại các công trình có đề cập đến tính tương tác của diễn ngôn báo chí
và báo mạng điện tử có thể nhận thấy vấn đề này đã bước đầu được quan tâm
nghiên cứu. Hầu hết các tác giả đã chỉ ra tính tương tác là đặc điểm của báo chí nói
chung và đặc biệt thể hiện rõ ở báo mạng điện tử. Nguyên nhân được lí giải đó là do
báo điện tử có sự phản hồi của độc giả. Phần lớn các công trình đã khảo sát và
thống kê chi tiết, đầy đủ các hình thức tương tác. Song thực tế, tính tương tác của
diễn ngôn báo chí là một địa hạt với nhiều vấn đề phức tạp và hấp dẫn hơn rất
nhiều. Toàn bộ nội dung, quan hệ và các nhân tố tương tác là những vấn đề đang

21
còn bỏ ngỏ cần sự nghiên cứu chi tiết. Những vấn đề thiên về mặt cấu trúc hình
thức, ngôn ngữ có tác động lớn và chịu ảnh hưởng bởi tính tương tác hầu như chưa
được đề cập tới. Luận án sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về tương tác ở cả người
phát (nhà báo, tòa soạn) và người nhận (độc giả). Và điểm khác biệt chính là nghiên
cứu báo điện tử ở bình diện diễn ngôn với những đặc tính tiêu biểu liên quan tới hệ
tư tưởng - quyền lực - ngữ cảnh - hành động.
1.2. Cơ sở lí thuyết
“Tương tác” theo Từ điển tiếng Việt là “tác động qua lại lẫn nhau”
[76;1383], tác động là “làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất
định” [76;1134]. Như vậy, tương tác chính là tác động qua lại khiến cho đối tượng
có sự biến đổi.
Theo Đỗ Hữu Châu [11], tác động là làm biến đổi trạng thái của các sự vật
chịu tác động. Ví dụ có A và B là hai sự vật nằm trong quá trình tương tác. Trước
khi tương tác A ở trạng thái a, B ở trạng thái b. Nếu sau khi tương tác a chuyển sang
trạng thái c và b chuyển sang trạng thái d thì A đã tác động vào B và ngược lại. Khi
đó quá trình tương tác đạt hiệu quả. Do đó, tương tác chính là quá trình tác động
qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự biến đổi giữa các yếu tố đó.
Điểm khác biệt giữa tương tác và tác động chính là ở sự tác động qua lại. Tác
động là mối quan hệ một chiều từ A tới B hoặc B tới A nhưng tương tác là mối quan
hệ hai chiều giữa A và B (A tác động B và ngược lại B có sự tác động trở lại A).
Thuật ngữ tương tác (interaction) mà chúng tôi dùng ở đây xuất phát từ
tương tác hội thoại (interaction in dialogue) và tương tác diễn ngôn (discourse
interaction, discourse in interaction). Tương tác trong tương tác hội thoại được đặt
trong phạm vi giao tiếp. Tương tác trong tương tác diễn ngôn được xuất phát từ
mệnh đề “diễn ngôn như một sự tương tác xã hội” (discourse as social interaction)
của Van Dijk.
Đặc tính về tương tác trong ngôn ngữ được chỉ ra khi ngôn ngữ học nghiên
cứu về giao tiếp. Vì thế, tương tác ở đây được dùng trong phạm vi giao tiếp và được
hiểu là một vấn đề của giao tiếp. Nó là một khái niệm của dụng học mà chỉ từ khi có

22
dụng học tương tác mới trở thành một đối tượng nghiên cứu (trong tương tác của
hội thoại). Tương tác trong tương tác hội thoại chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa
các nhân vật giao tiếp (thể phát và thể nhận), tương tác của các nhân tố giao tiếp.
Ngoài ra, thuật ngữ tương tác xuất phát từ tương tác diễn ngôn với ba nguyên
lí cơ bản đã được thừa nhận là:
1- Giao tiếp là một quá trình tương tác.
2- Diễn ngôn là sản phẩm của giao tiếp trong quá trình tương tác.
3- Trong quá trình hoạt động, giữa các diễn ngôn luôn có sự tương tác.
Diễn ngôn báo chí cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong báo chí có
tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời (ví dụ tương tác qua các hình ảnh,
giao diện website của báo điện tử...). Trong luận án này, chúng tôi chỉ xét đến
tương tác bằng lời và thông qua lời, tương tác giữa các nhân vật giao tiếp thông
qua lời và bằng lời trong phạm vi của diễn ngôn báo chí (cụ thể trên các trang tin
điện tử). Nghĩa là những tương tác được nghiên cứu ở đây có liên quan đến ngôn
ngữ. Tương tác bằng lời là một trường hợp riêng của tương tác nói chung. Tương
tác bằng lời là hoạt động giao tiếp sử dụng lời nói giữa những người tham gia giao
tiếp. Trong đó, diễn ngôn (sản phẩm của giao tiếp) thông qua các thành phần nội
dung thực hiện chức năng tác động đến các nhân vật giao tiếp. Lời bao gồm cả dạng
nói và dạng viết. Trong luận án, tương tác của diễn ngôn báo chí chỉ được xem xét
qua lời viết (loại trừ lời nói).
Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các vấn đề về hoạt động giao tiếp và
giao tiếp báo chí, diễn ngôn và diễn ngôn báo chí, tính tương tác trong giao tiếp và
diễn ngôn.
1.2.1. Khái quát về hoạt động giao tiếp và giao tiếp báo chí
1.2.1.1. Hoạt động giao tiếp
Theo định hướng xã hội, giao tiếp được hiểu như là một hoạt động mang tính
tương tác giữa những người tham gia để chia sẻ kinh nghiệm cộng đồng xuyên qua
thời gian. Vì thế, bản thân hoạt động giao tiếp đã mang tính tương tác cao. Hơn

23
nữa, tương tác còn là một kiểu quan hệ xã hội đặc trưng giữa người với người mà
nó thể hiện nổi bật ở hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. “Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhóm người) với con người (nhóm người),
trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, yêu cầu hoạt động,… đồng
thời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp đối với
nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [16; 480]. Trong hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ, tính tương tác thể hiện ở quá trình vận động tương
tác trong hội thoại và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố giao tiếp.
Nhân tố giao tiếp được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp
chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về mặt hình thức cũng như nội
dung. Các nhân tố giao tiếp bao gồm: nhân vật giao tiếp (những người tham gia
vào quá trình giao tiếp: người phát, thể phát (Sp1) và người nhận, thể nhận (Sp2);
nội dung giao tiếp (hiện thực, thực tế khách quan được các nhân vật giao tiếp đưa
vào cuộc giao tiếp); tiền giả định giao tiếp (các đặc điểm tự nhiên và xã hội của
một dân tộc, một cộng đồng); môi trường giao tiếp (các đặc điểm về thời gian, nơi
chốn cụ thể); phương tiện và kênh giao tiếp (hệ thống tín hiệu); đích giao tiếp (ý
đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định). Đích
giao tiếp là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc giao tiếp bởi nó chi phối gần như
toàn bộ việc lựa chọn các yếu tố còn lại.
Jakobson là người đưa ra mô hình giao tiếp với sáu yếu tố giao tiếp được sắp
xếp theo hàng ngang và hàng dọc như sau:
NGỮ CẢNH
NGƯỜI PHÁT

THÔNG ĐIỆP

NGƯỜI NHẬN

....................................................................................
TIẾP XÚC

Hình 1.1: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp của R. Jakobson [dt 8; 31]

24
Theo hàng ngang có người phát (thể phát), thông điệp và người nhận (thể
nhận). Hàng dọc có ngữ cảnh, thông điệp, tiếp xúc và mã. Đây là những yếu tố quan
trọng với các chức năng khác nhau làm nên quá trình giao tiếp.
Có thể hình dung quá trình giao tiếp với hai quá trình mã hóa và giải mã như sau:
Người phát

Mã hóa

Ngôn bản
(diễn ngôn)

Giải mã

Người nhận

Hình 1.2: Quá trình giao tiếp
(1) Quá trình mã hóa: là quá trình một người, một tổ chức, một cơ quan
chuyển một thông điệp cho đối tượng tiếp nhận. Thông điệp đó được gửi đi dưới
dạng mã hóa (mã hóa bởi chữ viết, hình ảnh, âm thanh...)
(2) Quá trình giải mã: là quá trình từng đối tượng tiếp nhận bằng những con
đường khác nhau làm cho thông điệp được chuyển đến một cách rành mạch và rõ ràng.
Hoạt động báo chí cũng có những đặc điểm tương đồng với hoạt động giao tiếp
nói chung.
1.2.1.2. Hoạt động giao tiếp báo chí
a. Hoạt động báo chí là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Báo chí là một hoạt động giao tiếp sử dụng phương tiện là ngôn ngữ. Quá
trình truyền tin của báo chí cũng bao gồm hai quá trình mã hóa và giải mã. Quá
trình mã hóa là quá trình sáng tạo của tác giả (nhà báo). Quá trình giải mã là quá
trình tiếp nhận của độc giả. Nhà báo truyền đạt thông tin tới người đọc; người đọc
tiếp nhận thông tin và đánh giá, phản hồi lại theo mô hình:

25

Nguồn
Nguồn

Phản
Phản hồi
hồi


Mã hóa
hóa

Nơi
Nơi nhận
nhận

Thông
Thông điệp
điệp

Giải
Giải mã


Mô hình 1.1: Mô hình truyền thông báo chí
Mô hình trên cho thấy trong báo chí, tương tác nổi bật sẽ là sự tác động,
giao tiếp hai chiều qua lại giữa thể phát - nguồn phát (tòa soạn, nhà báo...) và
thể nhận - nơi nhận (công chúng độc giả). Do tính chất giao tiếp gián cách, không
trực tiếp đối mặt (như giao tiếp hàng ngày) nên tương tác trong báo chí ngoài được
thực hiện thông qua các diễn ngôn của nhà báo còn được thực hiện thông qua phản
hồi của các độc giả. Nhà báo và độc giả ở đây không trực tiếp cùng hiện diện mà có
sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua các sản phẩm giao tiếp là các diễn ngôn báo
chí và các phản hồi sau mỗi bài báo. Giao tiếp trong báo chí vì thế là giao tiếp gián
tiếp, giao tiếp cách mặt.
Cụ thể hơn, báo chí là một loại hình truyền thông. Điều quan trọng của
truyền thông đó là quá trình truyền đi thông tin với các quá trình như sau:

26

N

S

M

C

R

E

F

Mô hình 1.2: Mô hình truyền thông của Claude Shannon [25; 27-28]
Theo C. Shannon, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (S) thông qua các
kênh truyền thông đến với người nhận (R) rồi thu được hiệu quả (E). Các yếu tố
trong mô hình truyền thông hai chiều của C. Shannon bao gồm:
S (Source, Sender): Nguồn phát, chủ thể truyền thông
M (Message)

: Thông điệp, nội dung truyền thông

C (Channel)

: Kênh truyền thông

R (Receiver)

: Người nhận thông điệp (đối tượng)

E (Effect)

: Hiệu quả truyền thông

N (Noise)

: Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp)

F (Feedback)

: Phản hồi

Mô hình này cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa nguồn phát và người
nhận thông qua các thông điệp. Ở đây có sự tương tác, người nhận trở thành người
phát rồi ngược lại, liên tục đổi chiều giống như luân phiên lượt lời trong hội thoại.
Nguồn phát truyền đi bằng thông điệp báo chí, nguồn nhận tiếp nhận thông điệp và
phản hồi tương tác bằng việc đồng thuận hay phản đối, bộc lộ quan điểm…
b. Các nhân tố giao tiếp của hoạt động giao tiếp báo chí
Hoạt động giao tiếp báo chí cũng có đầy đủ các nhân tố giao tiếp: nhân vật
giao tiếp, nội dung giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, đích giao tiếp. Trong đó, các nhân
tố giao tiếp (đặc biệt nhân tố nhân vật giao tiếp: thể phát và thể nhận) và sự tương

27
tác của chúng có ảnh hưởng to lớn đến quá trình tạo lập diễn ngôn và lĩnh hội diễn
ngôn. Người phát căn cứ vào các nhân tố giao tiếp để tạo diễn ngôn thích hợp. Còn
người nhận, căn cứ vào diễn ngôn và các nhân tố giao tiếp để giải mã diễn ngôn đó.
Vì thế, sự tương tác giữa các nhân tố giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc
lĩnh hội và giải mã diễn ngôn báo chí.
Hơn nữa, sự tương tác trong báo chí bị chi phối bởi đích của các chủ thể diễn
ngôn (đích của thể phát và thể nhận). Trong báo chí, đích của thể phát Sp1 và thể
nhận Sp2 là khác nhau. Về cơ bản có thể thấy, đích của thể phát Sp1 là đưa ra thông
tin và đích của thể nhận Sp2 là tiếp nhận thông tin.
Mục đích của thể phát là đưa ra những thông tin quan trọng (thậm chí không
quan trọng cũng biến thành quan trọng) để thu hút độc giả. Có thể thấy các trường
hợp như: (1) thông tin quan trọng - nhà báo đưa thành thông tin quan trọng. (2)
thông tin không quan trọng - nhà báo đưa thành thông tin quan trọng. (3) thông tin
quan trọng - có thể bị biến thành không quan trọng (dìm đi). Theo đó, nhà báo sẽ có
các cách trình bày thông tin để thể hiện mục đích của mình. Tất cả những điều này
đều phải thể hiện ra bằng ngôn ngữ. Cụ thể, đó là những vấn đề về mặt kết cấu của
một bài báo (tiêu đề, sapô, cấu trúc tin); hành động ngôn từ…
Mục đích của thể nhận là tiếp nhận thông tin. Nhà báo tác động tới độc giả
về mặt thông tin, nhận thức và sẽ làm cho họ có những hành động tương ứng. Hành
động hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hành động nói (comment phản hồi lại) và
làm (viết một bài báo khác, đi kiện…). Như thế, có hành động mang tính chất ngôn
từ và có hành động mang tính chất phi ngôn từ. Chúng tôi chỉ nhận diện chủ yếu
những hành động mang tính chất ngôn từ (được thể hiện bằng ngôn ngữ thông qua
các phản hồi), còn những hành động phi ngôn từ thì chỉ có thể tiên liệu chứ không
có khảo sát cụ thể.
Như vậy, nếu như với nhà báo, thông tin là cái đã biết và nhiệm vụ của họ là
làm cho độc giả tò mò, kích động về thông tin đó; thì với độc giả, thông tin là cái
chưa biết, cái muốn biết. Từ muốn biết, độc giả muốn bày tỏ thái độ về những thông
tin vừa được tiếp nhận. Có những thái độ mang tính chất cảm tính và có những thái
độ mang tính chất lí tính; những hành vi tương ứng ví dụ: tin hay không tin, xác tín

28
hay không xác tín. Điều nhà báo đưa ra thì nhà báo luôn xác tín, còn độc giả có tin
hay không thì đó thuộc về sự tiếp nhận của họ.
Đích của thể phát và thể nhận sẽ chi phối việc sử dụng ngôn ngữ của thể phát
và thể nhận để thể hiện mục đích. Thể phát sẽ sử dụng ngôn ngữ để tạo ra sự tương
tác hấp dẫn cho thông tin đã biết của mình đối với độc giả. Còn thể nhận sử dụng
ngôn ngữ để thể hiện thái độ về các thông tin vừa biết của mình.
Tóm lại, bản thân hoạt động giao tiếp đã mang tính tương tác cao. Hoạt động
báo chí là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong đó, tương tác nổi bật là sự
tác động, giao tiếp hai chiều qua lại giữa thể phát - nguồn phát (tòa soạn, nhà báo...)
và thể nhận - nơi nhận (công chúng độc giả) thông qua các thông điệp. Trong quá
trình giao tiếp báo chí, các nhân tố giao tiếp (nhân vật giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp,
mục đích giao tiếp…) luôn có sự tương tác với nhau. Điều đó chi phối hoạt động
tạo lập và giải mã thông điệp của báo chí.
1.2.2. Khái quát về diễn ngôn và diễn ngôn báo chí
1.2.2.1. Khái niệm diễn ngôn
“Diễn ngôn” (còn gọi là ngôn bản, tiếng Anh: discourse, tiếng Pháp:
discours) là khái niệm cơ bản trong lí luận phân tích diễn ngôn. Có rất nhiều ý kiến
về thuật ngữ này trong sự so sánh với thuật ngữ “văn bản” (text). Về bản chất, thuật
ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” không đối chọi nhau mà dường như đây là hai thuật
ngữ dùng để gọi tên sản phẩm ngôn ngữ theo những hướng tiếp cận khác nhau. Có
thể xác định “văn bản” và “diễn ngôn” như là hai mặt của cùng một đối tượng. Nói
khác đi, văn bản là một hình thức biểu hiện bằng chữ viết của diễn ngôn.
Đối tượng của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xã
hội - văn hóa, chứ không phải đối tượng tĩnh (tức chuyển sang lời nói chứ không
phải ngôn ngữ, theo thuật ngữ của F.de.Saussure). Nghiên cứu diễn ngôn tức là
nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (language in use). Nếu như trước đây, ngữ pháp
văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ
cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu