Tải bản đầy đủ
Con bạn có đi học thêm không? Kiến thức chính là lúc học phụ (thêm). Con bạn kém thì đừng rên vì không đi học thêm! (Nguyễn Quốc Tiến)

Con bạn có đi học thêm không? Kiến thức chính là lúc học phụ (thêm). Con bạn kém thì đừng rên vì không đi học thêm! (Nguyễn Quốc Tiến)

Tải bản đầy đủ

139
Tôi hoàn toàn đồng ý với Linh, gia đình - môi trường gần để tạo cho con có
thể tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhưng vô cùng quan trọng là môi trường do
chính bố mẹ, ông bà tạo ra! Thầy, cô không phải ai cũng cứ muốn dạy thêm để tăng
thu nhập. Ở quê tôi, các bậc phụ huynh thường hay nhờ dạy thêm dịp hè để có thời
gian đi làm mà chẳng được! Giáo viên dạy các con bằng cả tấm lòng, trong khi
điều kiện kinh tế còn muôn phần khó khăn, vất vả! Ở họ, tôi học được điều rằng:
“Khi chưa có những gì mình quý thì hãy quý những gì mình có”. Do vậy, dù thế
nào đi chăng nữa, mỗi chúng ta cũng cần nhận rõ một điều: Không Thầy, đố mày
làm nên! (Hung Pham)
Sau phản hồi đầu của độc giả TuanMinh về trường hợp con học lớp 1 của
mình thì những phản hồi sau tranh luận xung quanh phản hồi này với các vấn đề về:
cách dạy con, về chuyện học thêm ở trường, về sự kính trọng đối với người thầy.
Các phản hồi này đã vượt khỏi vấn đề đang đề cập trong bài báo (giáo viên đưa ý
kiến về một đoạn văn mở đầu bị chấm 0 điểm). Theo khảo sát, hệ thống phản hồi về
chủ đề này khá phong phú: ngoài tranh cãi đúng, sai về cách chấm điểm; độc giả
còn phân tích về cách dạy và học Văn hiện nay trong nhà trường. Đây là những
hướng phản hồi có thể nằm trong mục đích tạo lập diễn ngôn ban đầu của bài báo.
Song những trường hợp vượt đích giao tiếp ban đầu như đã phân tích ở trên chứng
tỏ khả năng nhìn nhận vấn đề nhiều chiều của độc giả, sự bình đẳng và quyền lực
trong việc tiếp cận diễn ngôn của độc giả. Vai trò định hướng tiếp nhận thông tin
của nhà báo không phải lúc nào cũng được bảo toàn.
Tóm lại, hành động ngôn từ là yếu tố quan trọng trong việc nhận diện tương
tác diễn ngôn báo chí. Đó là yếu tố thể hiện hệ tư tưởng và quyền lực của diễn ngôn
trong những ngữ cảnh khác nhau. Khảo sát hành động ngôn từ qua các diễn ngôn
phản hồi của độc giả báo điện tử; chúng tôi nhận thấy phản hồi của độc giả xuất
hiện cả hành động ở lời và hành động mượn lời. Hành động ở lời tạo nên sự “đa
thanh”, hành động mượn lời tạo nên sự “dị thanh” trong các phản hồi.

140
Trong đó, độc giả sử dụng rất nhiều hành động ở lời với nhiều mục đích
khác nhau mà nổi bật là ba nhóm: trình bày, điều khiển, biểu cảm. Nó thể hiện
quyền lực của độc giả trong việc muốn trình bày quan điểm, tham gia điều khiển,
biểu cảm về thông tin mà họ đọc được. Bên cạnh đó, hành động mượn lời thể hiện
quyền lực của người tiếp nhận diễn ngôn trong việc lĩnh hội diễn ngôn vượt ngoài
mục đích giao tiếp ban đầu của người tạo lập. Trong DNBC, hành động mượn lời
thể hiện rõ nhất ở những phản hồi của độc giả nằm ngoài mục đích tạo lập diễn
ngôn của nhà báo. Những hiệu quả mượn lời là rất phong phú, có thể nằm trong sự
tính toán ban đầu của nhà báo nhưng cũng khi vượt ngoài sự kiểm soát của họ.
3.3.2. Một số phương tiện ngôn ngữ khác
Độc giả đã sử dụng khá nhiều các thủ pháp, biện pháp ngôn ngữ độc đáo làm
tăng khả năng tác động đến với người đọc. Dưới đây, khi phân tích các đặc điểm
của ngôn ngữ phản hồi, chúng tôi sẽ chỉ ra những biểu hiện của sự độc đáo ấy.
Với 7 chủ đề đã phân loại, 185 bài báo và 5996 phản hồi, ngôn ngữ phản hồi
của độc giả báo mạng điện tử đã bộc lộ rất nhiều đặc điểm. Chúng tôi không có
tham vọng có thể phân tích được cụ thể ngôn ngữ trong từng phản hồi. Song khảo
sát sơ bộ có thể nhận thấy những đặc điểm về ngôn ngữ được bộc lộ khá tương
đồng ở tất cả các chủ đề. Trong tiểu mục này, chúng tôi lựa chọn khảo sát ngôn ngữ
trong các phản hồi của độc giả ở một chủ đề: Giảng viên nói xấu trường trên
Facebook.
Cuối năm 2015, dư luận xã hội rất quan tâm tới vụ việc Doãn Minh Đăng
(một Tiến sĩ của trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ) bị nhận các hình
thức kỷ luật do nói xấu nhà trường trên Facebook. Từ vụ việc của TS Đăng, các bài
báo đã đề cập tới vấn đề dùng người tài trong xã hội hiện nay. Hơn nữa, TS Đăng
từng là một thí sinh đạt giải nhất tuần cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia nên các bài
báo hướng đến quan điểm của các thí sinh từng vô địch cuộc thi Olympia, được học
bổng đi du học và ở lại lập nghiệp ở nước ngoài. Từ đó, bàn đến vấn đề du học sinh
nên đi hay về nước làm việc và cao hơn nữa là câu chuyện về lòng yêu nước, sự

141
cống hiến cho Tổ quốc. Trên hai tờ báo mạng Dân trí và VietNamNet, chủ đề này có
34 bài báo (chi tiết tên bài xem PL20-22) với 1100 phản hồi (bình luận). Các bình
luận này đã thể hiện rất nhiều điểm độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ. Trong đó
nổi bật nhất là các thủ pháp: dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao; chơi chữ; trích dẫn
nhiều nguồn phong phú; sử dụng hình ảnh ẩn dụ, lặp giọng điệu... (Dưới đây, chúng
tôi qui ước trích dẫn dẫn chứng như sau: số trong ngoặc thể hiện số thứ tự của bài
báo trong bảng phụ lục theo từng báo. Các dẫn chứng cùng ở một chủ đề, do đó,
chúng tôi không nêu rõ tiêu đề bài viết mà viết tắt tên bài bằng số thứ tự trong bảng
phụ lục. Ví dụ: (DT, 6) báo Dân trí, bài số 6: Liệu Doãn Minh Đăng có “tâm thần”,
“dị dạng” hay… là “tàn tích”?!).
3.3.2.1. Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Thành ngữ, tục ngữ, ca dao là một kho tàng quí giá của người Việt với những
ưu thế nổi trội như nội dung phong phú, hình thức đa dạng, giàu hình ảnh, dễ sử
dụng. Trong các phản hồi; độc giả đã sử dụng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao
để chuyển tải những nội dung ý nghĩa cần bình luận, tương tác phản hồi lại với bài
báo và nhà báo. Có thể thấy hai dạng thức cơ bản là:
a. Giữ nguyên dạng
Các thành ngữ, tục ngữ được dùng nguyên vẹn cả cấu trúc như chúng vốn có,
không bị thêm hoặc bớt các thành tố nào. Theo khảo sát có rất nhiều thành ngữ, tục
ngữ, ca dao được sử dụng: thượng vàng hạ cám (DT, 8); đất lành chim đậu (VNN,
5); ăn không ngồi rồi, run như cầy sấy (VNN, 6); vơ đũa cả nắm (VNN, 8); nói một
đàng làm một nẻo (DT, 6); đánh lận con đen (DT, 3); ra ngô ra khoai (VNN, 7);
đất thơm cò đậu (VNN, 9); tránh voi, không hổ mặt nào(VNN, 9); tiên trách kỷ,
hậu trách nhân (VNN, 10); kính trên nhường dưới (DT, 3)… Dễ dàng nhận thấy,
bản thân các thành ngữ, tục ngữ này đã thể hiện những nội dung cần biểu đạt của
người sử dụng. Không cần phải phân tích nhiều; người đọc cũng có thể nhận ra
ngay dụng ý thể hiện trong đó. Một số ví dụ cụ thể trong các phản hồi như:

142
(114) Thời thế lạ lùng. Trường Kinh doanh cho đào tạo Y dược, TS chuyên môn bắt
chuyển sang ngạch quản lý, không chịu thì gây khó dễ đủ điều… cứ râu ông nọ
cắm cằm bà kia thế này bao giờ giáo dục mới phát triển được….(DT, 2)
(115) Nói thật, chỉ nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Bên ngoài cứ nghĩ giảng
viên là những người cao quý nhưng có một số trong những giảng viên ấy lại là
những con người hoàn toàn khác trên bục giảng […]. (DT, 2)
(116) Không có lửa làm sao có khói. Hoan hô sự dũng cảm của thầy Đăng! (VNN, 2)
(117) “Làm tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại”. Không lẽ lại chịu làm“tớ
thằng dại” nữa hay sao? Có muốn cống hiến cũng không được thì về làm gì? (DT,
14)
(118) Không có mợ thì chợ vẫn đông, trong xã hội thời nào cũng vậy, nếu không có
anh, thì có người khác (có thể là không bằng anh) nhưng chẳng có việc gì là làm
không được. Anh không sai nhưng cũng chẳng đúng. (DT, 8)
(119) Sau cơn mưa trời lại sáng. Tất cả đều cùng nhau đóng góp quê hương ngày
càng phát triển. Chúc anh Đăng và nhà trường đêm Noel vui vẻ, an lành. (DT, 18)
(120) […] Ngày xưa có câu: “Con không chê cha mẹ khó. Chó không chê chủ
nghèo”. Như vậy là đủ hiểu rồi. (DT, 8)
Lời bình luận trên đã thể hiện sự không đồng tình của độc giả đối với những
người thành công nhưng quay ra chê đất nước (nơi sinh ra và nuôi lớn họ), những
du học sinh đi học ở lại nước ngoài rồi quay lại chê đất nước mình.
Sự viện dẫn các yếu tố thành ngữ, tục ngữ đã làm cho các lời phản hồi vừa
ngắn gọn, hàm súc; vừa phong phú, đa nghĩa. Chúng làm tăng khả năng tương tác
cho các phản hồi.
b. Cải biên các yếu tố
Trên cơ sở các yếu tố gốc; độc giả đã thay thế, cho thêm hoặc lược bớt vào
cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ, ca dao các yếu tố mới để thể hiện ý đồ của mình.
Theo thống kê, thành ngữ “đất lành chim/cò đậu” là thành ngữ được sử dụng
nhiều nhất trong các phản hồi. Bên cạnh việc sử dụng nguyên dạng thành ngữ này,

143
các độc giả còn cải biên thành nhiều dạng mà điển hình là việc thêm các từ biểu thị
quan hệ “thì, để” để nhấn mạnh ý cần diễn đạt:
(121) Người xưa có câu đất thơm thì cò đậu. Với con cò nó còn biết chọn mảnh đất
tốt cho mình sinh sống huống chi là một con người bằng xương bằng thịt […]. (DT,
13)
(122) […] Ở đâu đất lành thì chim đậu ở đấy. Nếu cứ nói quanh co Tam Quốc thì
chẳng giải quyết được vấn đề. (VNN, 9)
(123) Chúc mừng TS Đăng đã giải quyết ổn thỏa công việc tại đơn vị. Chúc anh sẽ có
“đất lành để đậu”- thành công - đạt kết quả có giá trị cao - thực tế trong cuộc
sống. […] (DT, 19)
Phản hồi trên đã thêm yếu tố mục đích “để”, bỏ đi yếu tố “chim/cò” (ẩn về
con người) để nhấn mạnh sự “đậu” – tìm được nơi làm việc phù hợp của con người.
Hay trong những ví dụ sau, việc thêm các từ ngữ của độc giả cũng mang ý
nghĩa nhấn mạnh cho người đọc thấy nội dung bình luận:
(124) Có tài thì hay có tật, cái tật mà anh Đăng mắc phải là vô tổ chức không xin
phép khi dự hội nghị khoa học tại Hà Nội. […] (DT, 17)
(125) Không có thực sao vực được đạo... tây cũng vậy thôi có tiền họ mới làm, nhưng
họ làm bằng cả sự chuyên nghiệp. (VNN, 12)
Ngược lại, có những trường hợp các câu thành ngữ, tục ngữ hay ca dao bị
lược bớt các yếu tố. Ví dụ:
(126) Đọc bài viết, tôi mới hiểu vì sao chúng ta đang “xúc tép nuôi cò” khi bước
chân ra đi, các em nhận được lời nhắn: “Đi đi, đừng về!” (VNN, 6)
Câu ca dao xưa “Công anh xúc tép nuôi cò/ Cò ăn cò lớn cò rò lên cây” đã
được lược bớt chỉ còn lại vế “xúc tép nuôi cò”. Vế còn lại bị lược bớt không làm cản
trở quá trình nhận thức của người đọc, ngược lại còn giúp cho người đọc hiểu rõ hơn
định hướng thông tin của người viết: nhấn mạnh về hành động làm ơn, giúp đỡ (xúc
tép nuôi cò) nhưng bị bội bạc lại (cò ăn cò lớn cò rò lên cây). Câu ca dao quen thuộc
nên chỉ cần một vế ngắn gọn đã thể hiện được toàn bộ thông tin, thậm chí sự hàm súc
của nó còn có giá trị truyền đạt thông tin hơn. Đặt trong tương quan với lời nhắn “đi

144
đi, đừng về” với các du học sinh; người đọc có thể suy ra hàm ý của độc giả khi viết
lời bình luận này: chua xót khi nhận ra việc làm công cốc, công cò của mình.
Sáng tạo hơn, có những phản hồi, độc giả đã chủ động thay thế các yếu tố cũ
bằng các yếu tố mới. Ví dụ:
(127) Tại lính mà trình độ cao hơn, giỏi hơn lãnh đạo. Lính nói gà, lãnh đạo nói vịt,
thế nên trong hai người sẽ có một người nói sai. Vậy ai là người nói sai ??? […]
(DT, 17)
Xuất phát từ câu thành ngữ “ông nói gà, bà nói vịt”; độc giả thay các chủ
thể ông/ bà thành lính/lãnh đạo (cấp dưới/cấp trên) để thể hiện sự mâu thuẫn của hai
người “nói” (ở đây là TS Đăng và thầy hiệu trưởng). Sự thay thế này chỉ ra rõ hơn
sự không đồng nhất trong lời nói của hai cá nhân trong một tập thể để đi đến một
kết luận có tính chắc chắn: một người sai.
Không dùng nguyên văn các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao; chỉ lấy ý có sẵn,
sáng tạo lại tự do, linh hoạt từ ngữ là cách mà nhiều độc giả đã sử dụng khi phản
hồi. Sự sáng tạo này mang lại hiệu quả tương tác hơn.
3.3.2.2. Chơi chữ
Chơi chữ theo từ điển tiếng Việt là “dùng các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa,
nói lái… trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định trong lời nói (như bóng
gió, châm biếm, hài hước…) trong lời nói [76; 235]. Nhờ chơi chữ, lời nói của chủ
thể phát ngôn trở nên sinh sộng, hấp dẫn.
Trong các phản hồi được khảo sát, độc giả sử dụng chơi chữ ở nhiều dạng
khác nhau. Nổi bật là một số kiểu cơ bản như: sử dụng từ đồng âm hoàn toàn, đồng
âm không hoàn toàn (khác nhau ở vần, khác nhau ở phụ âm đầu).
a. Sử dụng từ đồng âm hoàn toàn
Độc giả ưa sử dụng phép đồng âm đa nghĩa giữa các từ. Cùng một từ A
nhưng dùng với các nét nghĩa khác nhau theo mô hình khái quát A (x 1) – A (x2)
trong đó A là vỏ âm thanh của từ; còn x 1, x2 là hai ý nghĩa khác nhau của vỏ âm
thanh đó. Ví dụ từ “bằng” - (A):

145
(128) Không biết ông có phải dân kỹ thuật không? Tôi mấy chục năm nay làm kỹ thuật từ
khi về nước đến khi về hưu mới nhận ra bằng gì cũng thua bằng lòng. Mấy thằng em
khá về kỹ thuật cũng giống tôi làm trưởng phòng đến khi nghỉ. (VNN, 6)
“Bằng” thứ nhất (x1) là danh từ chỉ bằng cấp (thứ để chứng nhận năng lực,
trình độ, thành tích), “bằng” thứ hai (x 2) lại là động từ chỉ việc cảm thấy vừa ý, cho
là ổn, là được.
(129) Vậy là bác Công sắp thành “Công toi rồi”. Sự việc có thể rất đơn giản nhưng
đã trở nên phức tạp.[…] (DT, 17)
Thầy hiệu trưởng của trường nơi TS Đăng làm việc tên là Công. Độc giả đã
chơi chữ tên thầy hiệu trưởng (công – công lao) trở thành nghĩa đối lập “công toi”.
Qua đó ngầm ý phê phán việc làm của thầy hiệu trưởng “cách chức, thậm chí cho
thôi việc anh Đăng đi rồi sẽ có nhiều tập đoàn, đơn vị mời anh Đăng về làm vì
người ta cần người làm thực sự. Và hệ lụy càng nhiều người tài sẽ không dám làm
cho cơ quan nhà nước”.[…] (DT, 17)
Hay cùng một từ “cơ hội” nhưng độc giả lại đặt nó trong những sắc thái
nghĩa khác nhau để tạo hiệu quả ý nghĩa bất ngờ:
(130) Hiệu trưởng Công nhấn mạnh: ...“Tôi lấy làm tiếc khi anh Đăng rời bỏ những
cơ hội lớn của mình...” Đó là ông Công nghĩ nhưng anh ta không phải là người cơ
hội. (DT, 17)
Đặt trong thế đối lập “cơ hội lớn” mang sắc thái tích cực và “người cơ hội”
mang sắc thái tiêu cực mới thấy được lời bình luận quả là sâu cay. Việc chơi chữ từ
“cơ hội”, đặt nó trong thế so sánh giữa lời nói của thầy hiệu trưởng và suy nghĩ
đánh giá về con người anh Đăng của độc giả; lời bình luận đã tạo được điểm nhấn
thông tin vừa sâu sắc, vừa bất ngờ.
b. Sử dụng từ đồng âm không hoàn toàn (gần âm)
Các từ đồng âm không hoàn toàn thường có vỏ âm thanh gần giống nhau, chỉ
khác nhau ở phụ âm đầu (giống nhau về vần) hoặc khác nhau về vần (giống nhau về
phụ âm đầu) hoặc thanh điệu.
b1. Thứ nhất, giống nhau về vần
Ví dụ một loạt các từ (hay các âm tiết) trong các bình luận sau cùng có vần “ê”:

146
(131) Tình trạng con ông cháu cha, cha truyền con nối nữa. Thứ nhất hậu duệ, thứ nhì
quan hệ, thứ ba tiền tệ và cuối cùng mới là trí tuệ. (DT, 14)
(132) Thứ nhất là hậu duệ, thứ nhì là huynh đệ, thứ ba tiền tệ, thứ tư là trí tuệ. Quân
bây giờ rất ghét cấp dưới giỏi hơn, thông minh hơn. (DT, 17)
(133) Ở Nhật không theo quy tắc: Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ.
(VNN, 12)
(134) Trả lời luôn, người tài không quan hệ (thế, thân), không tiền tệ, không phải là
đồ đệ chắc chắn là đứng thứ 5. (VNN, 13)
Vần “ê” giàu sức gợi, xoáy sâu và gây nên một ám ảnh với người đọc về các
bậc xếp hạng thứ tự trong xã hội theo đánh giá của độc giả: hậu duệ - quan hệ,
huynh đệ, đồ đệ - tiền tệ - trí tuệ.
Hoặc các từ có cùng vần “iêu” trong ví dụ sau:
(135) “Biết điều thì gặp nhiều may mắn” TS Đăng nếu biết luồn cúi thì chẳng mấy
chốc là thay thế ông hiệu trưởng. Đằng này... Haizz. (DT, 17)
Vần “iêu” với hai từ “điều” và “nhiều” đã thể hiện được suy nghĩ của độc giả
về sự kéo theo: biết điều – nhiều may mắn.
b2. Thứ hai, giống nhau về phụ âm đầu
Trong phản hồi sau có rất nhiều âm tiết cùng bắt đầu bằng phụ âm đầu “t”,
tác động mạnh vào người đọc:
(136) Nếu cứ coi ông Doãn Minh Đăng, mấy trò đoạt Ô lim píc .v.v… ra đi không hẹn
ngày trở về, thì ở ta chữ “Tài” với chữ “Tai” vốn đều cùng vần Tê với “Thần
kinh”, “Tâm thần” thì không phải là “Tàn tích”(cũng Tê nốt) nữa đâu ông Tám
ơi! Bởi sáu Tê lậng. Ông phải sửa lại đi, thảng có quan nào rỗi hơi men gái gú ghé
vào đọc thì may ra họ “Tỉnh” ra cũng không chừng!!!- Lại một Tê nữa đấy. Nhiều
Tê cỡ đó thì phải dùng “Phế tích” mới hợp. Cỡ chín Tê đấy ông Tám ạ. Ông Tám
là Điểm Mười của nghiệp viết. (DT, 6)
Người viết đã lựa chọn công phu để tìm ra được các từ vừa có ý nghĩa phù
hợp với tư tưởng mình muốn thể hiện, lại vừa có vỏ âm thanh gần giống nhau. Hình
thức chơi chữ bằng các từ đồng âm hay gần âm khiến những âm thanh được lặp đi
lặp lại, xoáy sâu vào người đọc.

147
(137) Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt - Lọc lừa luồn lọt lại lên lương. (VNN, 9).
Để trả lời cho câu hỏi của tiêu đề bài “Tại sao nhân tài ngại trở về”, độc giả chỉ bình
luận ngắn gọn bằng tất cả những từ cùng giống nhau về phụ âm đầu (th, l). Người đọc
có thể liên tưởng đến những cách nói gần âm, rất vần, rất ấn tượng tương tự như:
Lươn lẹo len lỏi lại leo lên, Luồn lách lươn lẹo lại lên lương.
Chơi chữ bằng từ gần âm như trên có thể khái quát theo mô hình: A---A’--A’’… trong đó A, A’, A’’ là các từ (âm tiết) có vỏ âm thanh gần giống nhau.
b3. Thứ ba, liên tưởng bất ngờ
Có những trường hợp độc giả có sự liên tưởng bất ngờ giữa vỏ âm thanh của
từ với ý nghĩa cần biểu đạt như:
(138) Ổng hiệu trưởng đã đặt phòng cho anh Đăng ở trung tâm tâm thần Biên Hòa
rồi. Bởi anh là giảng viên khoa điên nặng nên bị “tâm thần” đấy! (DT, 6)
Trong phản hồi này, độc giả đã đánh vần từ “điện” thành “điên nặng” để nó
mang nghĩa tương đồng với ý tâm thần trong bài. Cách nói lái “điện = điên nặng,
điên nặng = tâm thần” cho thấy một tư duy nhanh của độc giả.
Không chỉ khai thác vỏ âm thanh của từ, việc bóc tách các từ thành các vỏ
âm thanh độc lập cũng được độc giả sử dụng.Ví dụ sau minh họa cho việc chơi chữ
từ “hành chính” → “hành là chính”:
(139) Cứ cho một ông du học sinh làm một dự án liên quan đến vài cơ quan quản lý
nhà nước xem có nản không? Tôi cam đoan là sau khi bị “hành là chính” thì
không nản mới lạ. (DT, 8)
Từ “hành chính” được tách thành hai từ đứng độc lập để mang ý nghĩa tương
phản với từ gốc. Giữa hai từ có từ “là” theo mô hình bóc tách: AB -> A là B.
Chơi chữ qua khảo sát trong các phản hồi của độc giả báo mạng điện tử là
một thủ pháp ngôn ngữ tạo tính bình giá nổi bật. Khi sử dụng nó, người viết luôn
thể hiện được thái độ, tình cảm rõ ràng đối với vấn đề được phản ánh. Nó là kết quả
của một sự tìm tòi, khám phá, xử lý tinh tế ngôn từ của người viết.

148
3.3.2.3. Trích dẫn nhiều nguồn phong phú
Điểm qua các nguồn trích dẫn của các phản hồi, có thể thấy độc giả đã sử
dụng rất nhiều nguồn để khai thác làm ý cho bình luận của mình như thơ, văn,
truyện; châm ngôn, danh ngôn, các câu nói nổi tiếng, bài hát,…
a. Trích thơ, văn, truyện
Khi cảm tác về xã hội, thời cuộc, vụ việc rối ren; những câu thơ xưa của nhà
thơ Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm được viện dẫn hiệu quả:
(140) Cám ơn cụ Nguyễn Du đã nói hộ thời hậu thế bây giờ: Trải qua ngàn cuộc bể
dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Đến bao giờ đất nước, xã hội Việt
Nam mới hết sự đau đớn đến cùng cực này đây? (DT, 6)
(141) Có tài nhưng cần phải có tâm: chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Không nên
cậy có tài mà ngạo mạn. Cần phải có sự khiêm tốn!
Nếu nói “BỆNH” của anh Đăng theo kiểu nói của nhà thơ Nguyễn Bỉnh
Khiêm thì tôi “bắt bệnh” của anh ấy là Anh “tâm thần” anh tìm nơi vắng vẻ/ Ông
hiệu trưởng “khôn” ông đến chốn lao xao”. (DT, 6)
Xuất phát từ câu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người
khôn người đến chỗ lao xao”, phản hồi của độc giả hàm ý ý nghĩa về đánh giá sự
khôn – dại của TS Đăng và thầy hiệu trưởng trong cuộc tranh luận gay gắt đang
diễn ra. Ai khôn, ai dại thì mỗi người đọc đều có đáp án cho riêng mình.
Mở rộng hàm nghĩa hơn, khi nói về việc có sẵn công việc (chỗ ngồi, ghế) khi
đi du học ở nước ngoài của một số du học sinh; độc giả sử dụng câu Kiều xưa nói
về Mã Giám Sinh“Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”:
(142) Nói đâu xa những du học sinh Olympia có bạn nào về nước. Toàn hạt giống đỏ
đi du học bằng tiền bố mẹ rồi khi về nước là ghế trên ngồi tót sỗ sàng mà chẳng có
cái thành tích gì. (DT, 7)
Chỉ một từ liên hệ “ghế” cộng với các thái độ của những từ “tót”, “sỗ sàng”
đã được phân tích bấy lâu nay; đã cho thấy quan điểm của tác giả về những trường
hợp cá biệt du học sinh đi học bằng tiền của gia đình, bằng đẹp, trở về nước có sẵn
công việc.

149
Khi kết thúc vụ việc, để đúc kết những kinh nghiệm sống cho mỗi người, độc
giả bình luận:
(143) Hy vọng mỗi người đều có bài học cho riêng mình cho cuộc sống còn dài phía
trước... Trong bài thơ “Dậy mà đi” nhà của thơ Tố Hữu có câu – “Ai lên khôn mà
chẳng dại một đôi lần” thật đúng đấy à. (DT, 18)
Sự trích dẫn những câu thơ vốn đã rất nổi tiếng đã làm cho người đọc có thể
suy ra được ý nghĩa bình luận. Có khi trích dẫn, song có khi độc giả lại bình luận
luôn bằng thơ rất thông minh, dí dỏm:
(144) Ừ thì: Có người mê Khổng có người không/ Quân tử Tiểu nhân chẳng lộn sòng/
Hà cớ đan tâm “dìm” lớp trẻ/ “Làm anh khó lắm...” nhắn giùm ông!(DT, 6)
Không chỉ có những câu thơ mà những câu chuyện với những nội dung ý
nghĩa tương ứng cũng được sử dụng: từ những truyện ngụ ngôn xưa đến những câu
chuyện thời nay, của Việt Nam, của thế giới, tất cả đều có mặt trong các bình luận:
(145) Có hiểu phân công lao động là gì không? Giỏi về khoa học cũng có nhiều loại
khoa học, bạn làm khoa học về vật lý khác với khoa học về sinh học, bạn có biết là
có chuyên ngành quản lý giáo dục không? Đừng có thấy mỗi cái vòi rồi phán đó là
con voi. (VNN, 5)
Lấy ý từ truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”, độc giả phê phán cách nhìn
vấn đề phiến diện, không đa chiều về vụ việc của thầy Đăng.
Hay độc giả lấy câu chuyện nổi tiếng của Nexin là dẫn chứng phản bác cho
việc các du học sinh đổ lỗi cho hoàn cảnh đất nước, môi trường để không về nước
làm việc:
(146) Bác Hồ nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có
đức thì thành người vô dụng”. […] Một người thật sự tài đức không bao giờ đổ cho
hoàn cảnh (giống như truyện“phải chi không có ruồi”của Nexin). (VNN, 9)
“Phải chi không có ruồi” - “Giá như không có ruồi” là một truyện ngắn của
nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng thế giới Azit Nexin. Truyện kể về một gã vô tích sự
nọ, lúc nào cũng chỉ đổ tại giá như thế nọ thế kia mà hắn không làm gì nên chuyện.