Tải bản đầy đủ
C. KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN

C. KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ

47

trí thức có trình độ của tỉnh vào sự nghiệp GD&ĐT và chính sách thu hút
người tài.
1.2. Đối với Sở GD&ĐT tỉnh Vĩnh Phúc
- Tham mưu với UBND tỉnh xây dựng tiêu chí tuyển dụng GV khoa
học, công khai, tuyển được sinh viên giỏi, có tâm huyết với nghề dạy học.
- Sở GD&ĐT phối hợp với các trường THPT thực hiện kiên quyết và
đồng bộ công tác luân chuyển, điều động GV giữa các trường THPT và ưu
tiên các trường mới mở, trường vùng khó khăn, nhằm tạo động lực phấn đấu
cho giáo viên và tạo ra mặt bằng chung về chất lượng đội ngũ.
- Trang bị đủ thiết bị dạy học tối thiểu và hiện đại cho các trường THPT,
giúp GV có điều kiện làm tốt nhiệm vụ đổi mới phương pháp giảng dạy.

1.3. Đối với cán bộ quản lý trường THPT Quang Hà
- Cần quan tâm hơn nữa về công tác phát triển và nâng cao chất lượng
đội ngũ GV, coi công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cơ bản
của nhà trường
- Đặc biệt chú trọng phát hiện bồi dưỡng tài năng, khuyến khích và
động viên cán bộ giảng dạy trong việc học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ.
- Có qui chế nội bộ nhằm động viên thu hút những GV giỏi, những GV
có trình độ để họ cống hiến hết khả năng vào công tác chuyên môn.
2. Kết luận
Đội ngũ GV trong trường THPT đóng vai trò quyết định trong việc đảm
bảo chất lượng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và góp phần vào
thành công của đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT. Hiện nay, Đảng và
Nhà nước cùng ngành giáo dục và các địa phương đã và đang tập trung các
nguồn lực, trong đó đội ngũ GV là nguồn nhân lực quan trọng trực tiếp quyết

48

định sự thành công đổi mới giáo dục. Trong bối cảnh hiện nay, để nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện và thực hiện thành công mục tiêu đổi mới căn
bản và toàn diện GD&ĐT thì việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV là tất
yếu và là nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục.
Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi đổi mới, phát
triển giáo dục để tri thức hóa toàn dân, đào tạo nhân lực, nhân tài chuẩn bị
chuyển về chất của lực lượng lao động từ lao động cơ bắp và cơ khí là chủ
yếu sang lao động trí tuệ, sáng tạo, nâng cao năng lực làm chủ của con người
với tự nhiên, xã hội và bản thân. Do đó phải chăm lo xây dựng đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng và tăng cường về chất lượng,
tiến kịp trình độ của khu vực và từng bước đạt tới tầm quốc tế. Ðội ngũ thầy,
cô giáo phải là những người có thực học, yêu nghề, phương pháp giảng dạy
tiên tiến mới có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo lao động có trình độ và làm việc
bằng kỹ thuật, trí tuệ khi nền kinh tế phát triển và mở cửa thị trường, tham gia
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng toàn
diện, sâu hơn. Thực tiễn xây dựng đất nước và hội nhập, phát triển kinh tế tri
thức hiện nay đặt ra với sự nghiệp giáo dục nhiều vấn đề cần phải đổi mới
một cách cơ bản, theo đó những người làm nghề giáo, nhất là từ bậc trung học
phổ thông trở lên cần nâng cao tinh thần sáng tạo, tự học, tự đào tạo để bồi
bổ, nâng cao trình độ sư phạm, kiến thức và thông qua việc dạy học truyền
thụ cho học sinh, sinh viên ý thức vươn lên, tinh thần tự học, lòng khát khao
tri thức mà rèn luyện, trưởng thành, nghĩa là người thầy phải làm được vai trò
gợi mở cho học sinh, sinh viên tinh thần sáng tạo, khám phá những cái mới
trên nền tảng kiến thức cơ bản, phong phú của nhân loại.

49

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1

Ban chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013, “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị

2

trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Chiến lược phát triển giáo dục Việt

3

Nam 2009-2020, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội.
Bộ giáo dục và đào tạo (2011), Điều lệ trường trung học phổ thông
(ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày

4

07/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo), Hà Nội.
Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5

Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban
6

chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Học viện Quản lí giáo dục Việt Nam (2006), “Đổi mới quản lí giáo
dục: thành tựu, thách thức và các giải pháp”, Kỷ yếu hội thảo khoa

7

học, Hà Nội.
Học viện Quản lí giáo dục Việt Nam (2007), Tài liệu bồi dưỡng cán
bộ quản lí, công chức nhà nước ngành giáo dục và đào tạo - Phần I,

8

Hà Nội.
Đặng Thành Hưng (2010), “Bản chất của quản lí giáo dục”, Tạp chí
Khoa học giáo dục, số 60 tháng 9/2010, Hà Nội.

9
10

Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
Hoàng Phê, Vũ Xuân Lương, Hoàng Thị Tuyền Linh, Phạm Thị
Thuỷ, Đào Thị Minh Thu, Đặng Thanh Hoà (2009), Từ điển Tiếng

11

Việt, NXB Đà Nẵng.
Quốc hội, Luật Giáo dục (2009), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

12
13

Luật giáo dục (2010), Nxb Dân trí, Hà Nội.
Quyết định số 2497/QĐ-UBND ngày 20/9/2011 của UBND tỉnh Vĩnh

.

Phúc về việc phê duyệt qui hoạch phát triển giáo dục đào tạo Vĩnh

50

Phúc đến năm 2020, tầm nhìn 2030.