Tải bản đầy đủ
Phần 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT ___________________

Phần 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT ___________________

Tải bản đầy đủ

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

• Lạm phát phi mã (Galloping inflation) là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng với tốc
độ 2 hoặc 3 con số (15%, 26%, 311%, 957% . . .) mỗi năm. Khi đó, tiền mất giá trị
một cách nhanh chóng và người ta chỉ nắm giữ một lượng tiền tối thiểu để đảm bảo
cho các giao dịch hàng ngày. Loại lạm phát này khi ở đỉnh điểm sẽ gây ra những hệ
quả kinh tế nghiêm trọng.
• Siêu lạm phát (Hyper inflation) là hiện tượng tốc độ tăng mức giá hết sức
nhanh chóng, có khi tới vài trăm phần trăm một tháng hay vài nghìn phần trăm mỗi
năm. Siêu lạm phát không thể kéo dài trong quá nhiều năm do tiền gần như mất hết
giá trị, các doanh nghiệp không thể hoạt động được và phá sản, người dân không
dùng tiền trong các giao dịch nữa và quốc gia gặp phải tình trạng này buộc phải cải
tổ chính sách kinh tế nước mình và tìm cách chấm dứt lạm phát.
1.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát
Tỷ lệ lạm phát cao hay thấp do nhiều nguyên nhân chi phối. Trong đó, nổi bật
nhất gồm các nguyên nhân chính sau:
 Lạm phát cầu kéo (Demand - pull inflation). Là nguyên nhân xảy ra khi tổng
cầu tăng nhanh hơn so với sản lượng tiềm năng của nền kinh tế. Từ đó kéo
theo sự tăng lên của mức giá ở điểm cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu. Bản
chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung
hàng hóa hạn chế trong điều kiện nền kinh tế đã đạt cân bằng trên thị trường
lao động. Có 3 nguyên nhân làm cho tổng cầu tăng là: sự gia tăng cung tiền,
tăng chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu tăng.

Hình 1: Lạm phát cầu kéo
Hình 1 biểu thị trường hợp đơn giản nhất của lạm phát cầu kéo. Khi đường cầu dịch
chuyển từ AD0 đến AD1, nền kinh tế ở trạng thái vượt quá trạng thái sản lượng tiềm năng.
Trong trường hợp này đường cung vẫn giữ nguyên. Mức giá tăng tiếp từ P0 đến P1, nền
kinh tế lại chuyển về trạng thái đạt mức sản lượng từ Q0 đến Q1. Cứ như thế, sau khi
đường tổng cầu dịch chuyển về bên phải trái kéo theo mức giá tăng liên tục.

6
6 | Page

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

 Lạm phát chi phí đẩy (Cost-push inflation)- Là nguyên nhân lạm phát bắt
nguồn từ sự gia tăng chi phí sản xuất như chi phí tiền lương tăng, giá nguyên
vật liệu tăng, giá nhập khẩu tăng, chính sách thuế và các khoản phải nộp khác
tăng; công nghệ sản xuất lạc hậu, cơ chế quản lý kém hiệu quả đẩy chi phí sản
xuất tăng lên.

Hình 2: Lạm phát chi phí đẩy
Ban đầu, đường tổng cung là AS0. Khi chi phí đầu vào tăng, các hãng giảm mức
cung hàng hoá, dịch vụ và đường tổng cung dịch chuyển sang tới vị trí AS 1 rồi AS2,
sản lượng giảm xuống còn Q1 và Q2, đẩy mức giá tăng từ P0 lên P1 và P2. Hiện
tượng mức giá tăng liên tục, đồng thời sản lượng cân bằng suy giảm được gọi là
tình trạng lạm phát đình trệ.
 Lạm phát dự kiến (Anticipated inflation). Lạm phát vừa phải có xu hướng tiếp
tục giữ mức ổn định của nó làm cho giá cả tăng đều đều. Tỷ lệ lạm phát này
được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ (inertial inflation). Trong trường hợp này, mọi người
có thế dự tính trước mức độ của lạm phát nên gọi là lạm phát dự kiến.
Hình dưới cho ta thấy khi đầu vào tăng, đường cung trong ngắn hạn dịch
chuyển từ ASS0 đến ASS1 rồi ASS2 do giá đầu vào tăng một cách đều đặn. Khi đó,
Chính phủ cần can thiệp bằng cách kích thích tăng tổng cầu và nhiều biện pháp
khác. Khi đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1 và AD2 một cách đều đặn như
hình dưới thì loại lạm phát này có thể dự tính được. Trong trường hợp như vậy, sản
lượng cân bằng vẫn giữ nguyên.

7
7 | Page

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

Hình 3: Lạm phát dự kiến
 Lạm phát và lãi suất: Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát.
Khi tỷ lệ lạm phát tăng, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của
việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc
siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độ gửi tiền vào Ngân hàng, vào
quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi hàng hoá có thể dự trữ, gây
thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao.
 Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác gây ra lạm phát như:
Để đảm bảo mức lợi nhuận, các ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá
thành sản phẩm cũng gây ra lạm phát.
- Giá nhân công tăng liên tục trong đại đa số hoặc toàn thị trường lao động
cũng sẽ dẫn đến lạm phát. Trường hợp này còn gây ra nạn thất nghiệp vì
doanh nghiệp sẽ tuyển người kỹ hơn, yêu cầu cao hơn đối với kỹ năng và
trình độ của người lao động để xứng đáng với tiền công.
- Lạm phát do cung tiền tăng cao hơn nhu cầu. Khi đó, tiền trong lưu thông
tăng nhanh hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền
kinh tế. Ví dụ như tốc độ tăng trưởng cung tiền là 10% nhưng tốc độ tăng
trưởng thực của nền kinh tế 7% thì lạm phát tiền tệ là 3%. Chính sách tiền tệ
mở rộng sẽ kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế, khi tốc độ
tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung, thì cũng dẫn đến
lạm phát.
- Lạm phát đẻ ra lạm phát: Khi lạm phát xảy ra, người dân cho rằng hàng hóa
sẽ còn tăng giá trong tương lai, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại, tổng cầu sẽ
cao hơn tổng cung và gây ra lạm phát. Đặc biệt, đối với một số ngành có sức
ảnh hưởng lớn lên thị trường, trong trường hợp lạm phát chi phí đẩy, đường
cung dịch chuyển sang trái càng làm thiếu hụt hàng hóa, lạm phát lại giam
tăng nhanh chóng.
1.3 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế thế giới
- Lạm phát vẫn ngày ngày xảy ra trên toàn cầu. Nguyên nhân của nó thì có
nhiều. Mỗi nguyên nhân lại gây ra một nhóm tác động riêng đến nền kinh tế
thế giới. Tuy nhiên, có thể tóm gọn các tác động ấy thành các loại như sau:
1.3.1
Tác động phân phối lại thu nhập và của cải
-

Tác động này xảy ra một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân, tập đoàn, v.v. đặc
biệt đối với những ai giữ nhiều tài sản có giá trị danh nghĩa cố định (ví dụ tiền mặt)
và những người làm công ăn lương. Cụ thể như sau:
• Tác động tới người cho vay và người đi vay:
Khi nền kinh tế có lạm phát thì mối quan hệ giữa người vay và người cho vay
được xem xét theo lãi suất thực. Thu nhập được chuyển từ người đi vay sang người
8
8 | Page

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

cho vay khi lạm phát trong thực tế khác với mức lạm phát dự kiến và ngược lại.
Chênh lệch giữa lạm phát thực tế và lạm phát dự kiến càng cao thì mức độ phân
phối càng nhiều.
• Tác động giữa người hưởng lương và ông chủ:
Nói chung tốc độ tăng tiền công hầu như chậm hơn so với tốc độ tăng của giá.
Vì vậy những người lao động hưởng lương bao giờ cũng bị thiệt thòi và người được
lợi là các ông chủ. Quá trình phân phối này chỉ không diễn ra khi tốc độ tăng của tiền
công bằng với tốc độ tăng của giá.
• Tác động giữa người mua và người bán tài sản thực
Những người bán tài sản thực để lấy tiền mặt trước khi lạm phát xảy ra thì khi
có lạm phát những người bán sẽ bị thiệt thòi và người được lợi là người mua.
• Tác động giữa các doanh nghiệp với nhau
Do tỷ lệ tăng giá hàng hóa trong khi lạm phát không giống nhau, vì vậy những
doanh nghiệp nào mà sản xuất và tồn kho những mặt hàng có tỷ lệ tăng giá chậm sẽ
bị thiệt thòi.
• Giữa Chính phủ và công chúng
Đa phần, khi xảy ra lạm phát thu nhập của công chúng sẽ chuyển sang tay
chính phủ. Vì 3 lý do sau: (1) Chính phủ nợ dân chủ yếu là dưới dạng tài sản tài
chính (ví dụ như trái phiếu chính phủ). Món nợ này là rất lớn; (2) các khoản chi trả
lương, trợ cấp… thường cố định trong một thời gian dài, kể cả có thay đổi thì cũng
không kịp tốc độ thay đổi của giá; (3) các hoạt động thu thuế (như thuế thu nhập) sẽ
tăng lên nhanh chóng, vì lạm phát đẩy thu nhập của dân chúng tăng lên và chịu ở
mức thuế cao hơn.
Nhìn chung “ lạm phát không dự kiến được thường có xu hướng chuyển của
cải từ tay người chủ nợ sang tay con nợ, giúp người đi vay và làm thiệt người cho
vay. Trong trường hợp lạm phát giảm xuống không lường trước được thì sẽ có ảnh
hưởng ngược lại.
1.3.2
Tác động đối với sản lượng và công ăn việc làm
Nếu lãi suất thực là số âm thì khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng
sẽ rất khó khăn. Bên cạnh đó, lạm phát làm cho nội tệ mất giá. Để đảm bảo thu nhập
của mình, nhiều nhà đầu tư nước ngoài có khuynh hướng chuyển tiền kinh doanh
của mình về nước, điều này càng làm cho thị trường vốn thêm suy yếu. Điều này
càng khiến sản lượng sụt giảm nhanh chóng và tạo ra hiện tượng thất nghiệp do dư
cung lao động.
1.3.3
Tác động đến cơ cấu kinh tế và phân bổ tài nguyên
Trong thời kỳ lạm phát diễn ra, giá cả của tất cả các hàng hóa không thay đổi
theo cùng 1 tỷ lệ. Do vậy, những ngành có giá tăng nhanh sẽ nâng tỷ trọng của
ngành trong sản lượng, thay đổi vị thế kinh doanh của ngành mình (ví dụ như ngành
xăng dầu). Khi lạm phát tăng nhanh chóng cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của giá cả
9
9 | Page

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

tương đối (tức đối với từng ngành riêng rẻ), có những doanh nghiệp ngành nghề làm
giàu nhanh chóng. Nhưng cũng có những doanh nghiệp ngành nghề lại suy sụp, phá
sản, thậm chí còn chuyển hướng kinh doanh khác, dẫn đến thay đổi cơ cấu kinh tế.
Thêm vào đó, khi xảy ra lạm phát, các doanh nghiệp sẽ hạn chế đầu tư và
những dự án có khoảng thời gian thu hồi vốn dài. Tác động này có thể làm giảm hiệu
quả sử dụng các nguồn nhân lực của nền kinh tế trong dài hạn. Sự giảm sút của
năng lực sản xuất có thể làm cho đường tổng cung AS dịch chuyển sang trái cùng
với mức giảm của sản lượng tiềm năng.
Lạm phát làm biến dạng giá cả tương đối, tỷ lệ lạm phát càng cao thì sự biến
dạng giá cả tương đối càng lớn. Mặt hàng có giá trị biến dạng một cách trầm trọng
do lạm phát đó là tiền tệ (tiền kim loại và tiền giấy). Giá cả của đầu vào hoặc hàng
hoá đã được định giá theo những quy tắc lâu dài cũng có xu hướng tách xa hơn khỏi
mức giá chung trong những thời kỳ lạm phát.
1.4 Phương hướng điều chỉnh lạm phát của Chính phủ các nước
Dựa theo nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, để kiềm chế lạm phát,
Chính phủ các nước có thể sử dụng một trong số các biện pháp sau đây:
• Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt. Cụ thể là hạ






lãi suất tiền cho vay của ngân hàng , thắt chặt chi tiêu công cộng, tiền
lương…
Cắt giảm cầu tiêu dùng bằng cách nâng thuế thu nhập.
Giảm chi tiêu của Chính phủ, giảm thâm hụt NSNN.
Giảm giá thành các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tăng chi tiêu cho đầu tư sản xuất



bằng nhiều biện pháp như giảm thuế sản xuất, giảm lãi suất cho vay nhằm
tăng cung.
Giảm cung tiền, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hoặc bán trái phiếu trên thị



trường mở, hoặc tăng lãi suất chiết khấu, ...
Tăng cường công tác an sinh xã hội, thông tin truyền thông.

10
10 | P a g e

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

Phần 2 - LẠM PHÁT VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NĂM
2010-2016, ĐIỂN HÌNH LẠM PHÁT CAO NHẤT TRONG NĂM 2011 __
Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010-2016

2.1

Cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu ảnh hưởng tới Việt
Nam và kéo lạm phát về mức 7% trong năm 2009. Tuy nhiên, đợt lạm phát hai con
số thứ 2 lại bắt đầu từ tháng 9 năm 2010, trước cả khi tác động của khủng hoảng
giảm xuống. Đợt lạm phát cao này kéo dài 13 tháng đến tháng 10 năm 2011 khiến
cho lạm phát lên đến 11,75% trong năm 2010 và 18,13% trong năm 2011.
Trước tình hình lạm phát như trên, ngày 24 tháng 02 năm 2011 Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội với nhiều giải pháp quan trọng.
Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các Nghị quyết và giải pháp kiềm chế và
kiểm soát lạm phát, kinh tế nước ta đã từng bước được cải thiện và tương đối ổn
định, tỷ lệ lạm phát liên tục giảm. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với cùng kỳ năm
trước đã giảm từ 2 con số năm 2011 (18,13%) xuống mức 1 con số (6,81% năm
2012; 6,04% năm 2013; 1,84% năm 2014 và 0,60% năm 2015 và dự kiến 4,5% năm
2016). Lạm phát cơ bản giảm từ 13,62% năm 2011 xuống 8,19% năm 2012; 4,77%
năm 2013; 3,31% năm 2014 và 2,05% năm 2015.
Năm
%

2010
11,75

2011
18,13

2012
6,81

2013
6,04

2014
1,84

2015
0,6

2016
4,5 (dự kiến

Hình 4. Chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân từ 2010-2015 (năm trước so với
năm sau. Nguồn : Tổng cục thống kê)
2.2
Vài nét về tình hình lạm phát năm 2011
2.2.1
Nguyên nhân
• Yếu tố cầu kéo
- Lý do cơ bản nhất để lạm phát bộc lộ mạnh vào những năm gần đây là quá
trình phát triển nền kinh tế dựa vào đầu tư và tình trạng kém hiệu quả trong
11
11 | P a g e

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ VI MÔ ECO102
NHÓM 6 LỚP CKTN17

việc sử dụng vốn trong suốt cả thập kỷ qua. Hiện tượng này phổ biến cả trong
khu
vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và khối doanh nghiệp tư nhân / nước
ngoài (DNTN)
- Giá vàng liên tiếp thiết lập kỷ lục
• Yếu tố chi phí đẩy
- Đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, lạm phát
tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất , giá lương
thực, thực phẩm và giá vàng trên thị trường thế giới tiếp tục xu hướng tăng
cao đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế trong nước.
- Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần ( ngày 24/2 và 29/3) mỗi lít
xăng tăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38%, đã tác động trực tiếp tăng chỉ
số giá nhóm giao thông vận tải và gián tiếp nhiều vòng đến hoạt động sản
xuất của các linh vực khác
- Giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnh tăng khoảng 15,3%
áp dụng từ 1/3.
• Yếu tố tiền tệ
- Việc phát triển dựa trên đầu tư khiến lượng cung tiền trong nền kinh tế liên tục
tăng với tốc độ chóng mặt. So với 5 năm trước, VNĐ mất giá gần một nửa.
CPI của năm 2011 bằng 1,96 lần năm 2006, tức là 100 VNĐ của năm 2011 chỉ
bằng 50,1 VNĐ của năm 2006. So với 10 năm trước, giá trị VNĐ chỉ còn bằng
hơn một phần ba. CPI của năm 2011 bằng 2,58 lần so với CPI của năm 2011,
tức là 100 VNĐ của năm 2011 chỉ bằng 38,6 VNĐ của năm 2001.
- Việc tăng cung tiền với gia tốc lớn như vậy trong khi thực lực của nền kinh tế
không mạnh, hiệu quả sử dụng vốn thấp khiến lượng hàng hóa sản xuất ra
không tăng cùng nhịp với tăng cung tiền. Từ đó tất yếu dẫn tới giá cả leo
thang – hay nói cách khác là VNĐ mất giá.
- Ngoài ra việc tăng lương tối thiểu cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát

12
12 | P a g e