Tải bản đầy đủ
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương hiệu

2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương hiệu

Tải bản đầy đủ

11

Mini. Chiến lược này thể hiện việc nắm bắt cơ hội bằng cách liên kết với thị trường
rộng hơn mà không đi ngược lại với mục đích cốt lõi và định vị của công ty mẹ.
Có thể thấy rằng phát triển một thương hiệu mạnh có thể mang đến những lợi
ích lớn cho doanh nghiệp như: tăng thêm thị phần, cho phép xác định chính sách giá
cao, giảm chi phí khuyến thị, hay nói cách khác thì sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận
cho nhà sản xuất. Thông qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu, luận văn nghiên cứu
tập trung vào các yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thương hiệu, bao
gồm:
Bảng 1.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương hiệu
Thứ tự
Các yếu tố
1

Chất lượng sản phẩm

2

Giá cả sản phẩm

3

Hệ thống thông tin

4

Hệ thống phân phối

5

Hệ thống nhận diện thương hiệu

6

Quảng bá thương hiệu

7

Yếu tố con người

8

Chính sách nhà nước (quy hoạch, hỗ trợ, …)
(Nguồn: Vũ Chí Lộc và Lê Thị Thu Hà, 2007)

1.2.1 Chất lượng sản phẩm
Sự cảm nhận về chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng của thương
hiệu và có thể được kết hợp với một trong những cách dưới đây.
Chất lượng hay cảm nhận về chất lượng đều xuất phát từ cảm nhận của người
tiêu dùng. Khi đã lấy được lòng tin của khách hàng về chất lượng, bạn sẽ gặt hái thành
công khi xây dựng thương hiệu. Theo Al Reis và Laura Reis, cách tốt nhất để khẳng
định chất lượng là thu hẹp định vị của sản phẩm hay thương hiệu. Khi đó sản phẩm
hay thương hiệu sẽ mang tính đặc thù hơn là tính chung chung, và những thương hiệu
sản phẩm mang tính đặc thù sẽ được cho là có “chất lượng cao hơn” những thương
hiệu mang tính chung chung.

12

Cách khác để tạo ra cảm nhận về chất lượng là định giá cao cho sản phẩm,
thương hiệu. Hầu hết người tiêu dùng cho rằng mình có khả năng phân biệt chất lượng
giữa các sản phẩm, nhưng trong thực tế mọi thứ đều không như họ suy nghĩ. Dù tin
hay không, giá cao là một lợi ích đối với một vài khách hàng. Nó cho phép những
khách hàng giàu có thỏa mãn sở thích và thói quen mua sắm sản phẩm sang trọng. Dĩ
nhiên, những sản phẩm hay dịch vụ này cần tạo ra sự khác biệt để chứng tỏ đẳng cấp
của mình.
1.2.2 Giá cả sản phẩm
Dù đã có thời điểm khi những sản phẩm được cho là có giá trị không tốt đều
được đánh đồng với giá rẻ, quan niệm này ngày nay đã thay đổi. Ngày càng có nhiều
thương hiệu có giá trị ra đời. Southwest Airlines là một ví dụ điển hình về một thương
hiệu vừa có thể đưa ra mức giá rẻ nhưng vẫn duy trì được một hình ảnh thương hiệu
mạnh. Thực tế hầu hết những hãng hàng không lớn khác đều theo chân Southwest
giới thiệu những chuyến bay giá rẻ dưới những thương hiệu mới hay thương hiệu liên
kết.
1.2.3 Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin ảnh hưởng không nhỏ đến thương hiệu của doanh nghiệp,
Trước hết cần thu thập thông tin từ môi trường bên ngoài và môi trường bên trong
doanh nghiệp. Sau khi đã thu thập thông tin cần phân tích sự tác động – mức độ ảnh
hưởng của những thông tin này đến thương hiệu và công tác xây dựng thương hiệu.
Sử dụng các phương pháp xử lý, phân tích thông tin thu thập được như: phương pháp
nghiên cứu định tính – nghiên cứu khám phá, phương pháp nghiên cứu định lượng –
nghiên cứu mô tả, dựa vào bảng câu hỏi … Có hai loại thông tin cần nắm đó là khách
hàng và đối thủ cạnh tranh.
1.2.3.1 Hệ thống thông tin về khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu của khách hàng ngày càng thay đổi nhanh
chóng nên những cuộc khảo sát để tìm hiểu khách hàng phải được diễn ra một cách
thường xuyên và đều đặn. Trong những năm vừa qua, đa số các loại hàng hóa ra đời
đều dựa trên 2 nghiên cứu về “hành vi tiêu dùng của khách hàng” và “sự phân loại

13

khách hàng”. Cả 2 nghiên cứu trên cho thấy rằng, bên cạnh những nhu cầu tất yếu mà
khách hàng nhận được từ sản phẩm, khách hàng còn mong chờ từ nhà sản xuất cung
cấp thêm những giá trị gia tăng.
Khách hàng luôn có đủ năng lực để cảm nhận những giá trị mà doanh nghiệp
mang lại cho họ, do đó họ dễ dàng chọn cho mình một sản phẩm phù hợp. Doanh
nghiệp cũng hiểu được rằng họ phải cung cấp những sản phẩm bao gồm cả nhu cầu
đích thực và những nhu cầu phụ khác cho khách hàng. Tuy vậy, các bộ phận bán hàng
và tiếp thị của doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối mặt với những vấn
đề này. Để vượt qua được những khó khăn này, doanh nghiệp cần xác định cách thức
giải quyết các vấn đề với khách hàng thông qua việc thu thập thông tin về khách hàng,
từ đó mới tạo ra chiến lược thích hợp cho sản phẩm.
Một số kinh nghiệm về lựa chọn loại thông tin để phân tích như: phân tích khách
hàng thông qua: xu hướng tiêu dùng, động lực thúc đẩy mua hàng, những nhu cầu
chưa thoả mãn, phân khúc thị trường, ...; phân tích đối thủ cạnh tranh thông qua hình
ảnh thương hiệu và việc nhận diện thương hiệu, phân tích các điểm mạnh và yếu, các
rủi ro và cơ hội của đối thủ, chiến lược hiện tại và tương lai; phân tích môi trường
doanh nghiệp thông qua: hình ảnh hiện tại, các điểm mạnh, yếu, cơ hội và rủi ro, các
giá trị, văn hoá, truyền thống doanh nghiệp,…
1.2.3.2 Hệ thống thông tin về đối thủ cạnh tranh
Để chuẩn bị một chiến lược Marketing có hiệu quả, công ty phải nghiên cứu các
đối thủ cạnh tranh của mình cũng như những khách hàng hiện có và tiềm ẩn của mình.
Điều đó đặc biệt cần thiết khi thị trường tăng trưởng chậm, bởi vì chỉ có thể tăng được
mức tiêu thụ bằng cách thu hút khách hàng từ các đối thủ cạnh tranh.
Công ty cần thu thập thông tin về chiến lược, mục tiêu, các cách phản ứng và
các mặt mạnh, mặt yếu của đối thủ cạnh tranh. Công ty cần biết các chiến lược của
từng đối thủ cạnh tranh để dự đoán những biện pháp và những phản ứng sắp tới. Khi
biết được những mặt mạnh, mặt yếu của đối thủ cạnh tranh, công ty có thể hoàn thiện
chiến lược của mình để giành ưu thế trước những hạn chế của đối thủ cạnh tranh,
đồng thời tránh xâm nhập vào những nơi mà đối thủ đó mạnh. Biết được cách phản

14

ứng điển hình của đối thủ cạnh tranh sẽ giúp công ty lựa chọn và định thời gian thực
hiện các biện pháp.
1.2.4 Hệ thống phân phối
Hệ thống phân phối đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa từ nhà
sản xuất đến người tiêu dùng, do vậy có ảnh hưởng nhất định đến thương hiệu doanh
nghiệp. Đối với sản phẩm mủ cao su ở Việt Nam, có các kênh phân phối sau:
- Người nông dân

Thương lái

Xuất khẩu

- Người nông dân

Thương lái

Nhà máy chế biến

- Người nông dân

Nhà máy chế biến

Xuất khẩu

Xuất khẩu

Với các mô hình kênh phân phối tiêu thụ như trên cho thấy sản phẩm cao su ở
Việt Nam chủ yếu được thu mua gom lại và xuất khẩu là chính. Tỷ lệ tiêu thụ trên thị
trường nội địa rất thấp không đáng kể vì hệ thống chế biến cao su phần lớn là sơ chế
để xuất khẩu. Hiện nay, thị trường nội địa chưa có nhiều doanh nghiệp chế biến sâu
cho ra những sản phẩm cuối cùng.
1.2.5 Hệ thống nhận diện thương hiệu
Hệ thống nhận diện thương hiệu là sự diễn đạt bản sắc của một công ty bằng
hình ảnh thông qua việc sử dụng văn từ và các biểu tượng. Hệ thống nhận diện thương
hiệu gồm những yếu tố nhận biết cấu thành thương hiệu được thể hiện một cách đồng
bộ, nhất quán tạo nên đặc điểm riêng giúp phân biệt thương hiệu đó với những thương
hiệu khác.
Hệ thống nhận diện thương hiệu mạnh phải có ý tưởng cụ thể, khác biệt, dễ nhớ,
đáng tin cậy, uyển chuyển, linh động, thể hiện được bản sắc riêng, làm tang nhận thức
về thương hiệu, xây dựng tính ổn định và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Hệ
thống nhận diện thương hiệu được xem là cách ngắn nhất, nhanh nhất và hiệu quả
nhất đối với những chiến lược truyền thông thương hiệu nên cần được xem như tài
sản, cần được chăm sóc, quản trị và đầu tư một cách sâu rộng và dài lâu.
Hệ thống nhận diện thương hiệu bao gồm các yếu tố chính: tên gọi, logo, câu
khẩu hiệu, nhạc hiệu, biểu tượng, kiểu dáng, mẫu mã, bao bì, tính cách thương hiệu.

15

1.2.5.1 Tên thương hiệu
Tên thương hiệu là một bộ phận của thương hiệu có thể đọc được, bao gồm chữ
cái, từ và con số (Phillip Kotler & Kevin Lane Keller, 2009). Còn theo Richard
Moore, (Richard More, 2003): Tên thương hiệu là tên mà doanh nghiệp sử dụng để
giới thiệu sản phẩm và phản ánh tính cách thương hiệu của mình.
Như vậy, tên thương hiệu là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất, là công cụ giao
tiếp ngắn gọn, đơn giản nhưng có hiệu quả nhất, là yếu tố trung tâm của sự liên hệ
giữa sản phẩm và khách hàng tạo nên khả năng nhận biết, gợi nhớ, phân biệt và định
hướng cho khách hàng sử dụng sản phẩm. Do đó, tên thương hiệu cần phải đáp ứng
được 5 tiêu chí sau:
• Ngắn gọn, đơn giản
• Dễ nhận biết và dễ nhớ
• Dễ đánh vần, dễ đọc và phát âm
• Không trùng với các công ty khác
• Không dẫn dắt tới những liên tưởng tiêu cực
Hiện nay, có một số cách đặt tên thương hiệu phổ biến sau:
• Sử dụng từ ghép: kết hợp các từ hiện dùng và các âm tiết dễ nhận biết như
Phương Trang, Vietcombank…
• Sử dụng các từ thông dụng, thực sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nhất định
nào đó như Phát Đạt, Hừng Sáng…
• Sử dụng từ viết tắt: được tạo từ những chữ cái đầu tiên của doanh nghiệp, có
thể phát âm được và mang một thông điệp gì đó như HP, EVN…
• Sử dụng từ tự tạo từ những ký tự tạo thành từ mới phát âm được, không có
trong tự điển như Maggi, Yahoo…
1.2.5.2 Logo
Logo có thể hình thành từ những hình vẽ, hoa văn hoặc dấu hiệu đặc biệt có thể
mang tính trừu tượng như hình vương miện của Rolex, hình lưỡi liềm của Nike, hoặc
là những kiểu chữ khác biệt và được cách điệu như Coca-cola, … Khác với tên gọi

16

của thương hiệu, logo trừu tượng, độc đáo, dễ nhận biết và có thể thay đổi theo thời
gian để phù hợp hơn với thời đại.
Logo được tạo ra dựa trên một số tiêu chí sau:
• Màu sắc phải phù hợp với tính cách của sản phẩm, tạo nên sự nhận biết dễ
dàng đối với sản phẩm.
• Tiện khi sử dụng: dễ phóng to thu nhỏ và không phức tạp trong in ấn.
• Phải mang ý nghĩa trong thiết kế như triết lý kinh doanh và sản phẩm.
• Đường nét đa dạng: thẳng, cong, uốn, góc cạnh.
Có 3 cách thiết kế logo:
• Cách điệu tên nhãn hiệu
• Sáng tạo hình ảnh riêng
• Kết hợp hình ảnh riêng và tên nhãn hiệu
1.2.5.3 Khẩu hiệu (Slogan)
Khẩu hiệu là một đoạn văn ngắn, chứa đựng và truyền đạt thông tin mang tính
mô tả và thuyết phục về thương hiệu. Câu khẩu hiệu thường xuất hiện trên các mục
quảng cáo, trên truyền hình, đài phát thanh, pano, bao bì… Đó là công cụ ngắn gọn,
xúc tích, lột tả được cái tinh túy của thương hiệu và sản phẩm, mang tính đặc trưng
của sản phẩm, là phương thức quảng bá thương hiệu rất hữu hiệu trong việc tạo dựng
giá trị thương hiệu, ví dụ “Viettel – Hãy nói theo cách của bạn”, như “Trung Nguyên
– Khơi nguồn sáng tạo”…
Khẩu hiệu phải bao hàm các yếu tố:
• Dễ nhớ: ngắn gọn và có vần điệu.
• Thể hiện tính cách và sự khác biệt.
• Đáp ứng đúng chiến lược định vị đã đặt ra.
Khẩu hiệu mang lại một số lợi ích cho doanh nghiệp:
• Góp phần gia tăng khả năng nhận biết và lưu lại tên thương hiệu trong tâm trí
người tiêu dùng bằng cách nhấn mạnh hoặc lặp đi lặp lại.
• Định vị được phân khúc thị trường khách hàng mục tiêu.

17

• Giúp khách hàng hiểu nhanh thương hiệu đó là gì và có khác biệt như thế nào
so với các thương hiệu khác.
• Là công cụ khẳng định uy tín và vị trí của mình trên thị trường.
1.2.5.4 Nhạc hiệu
Nhạc hiệu có sức thu hút người nghe và làm cho quảng cáo trở nên hấp dẫn,
sinh động hơn. Nhạc hiệu có thể là một đoạn nhạc nền hoặc một bài hát ngắn có thể
được lưu truyền nhanh và rộng trong công chúng. Nhạc hiệu thường mang giai điệu
nhanh hoặc chậm, vui tươi hoặc trang trọng tùy vào tính cách của thương hiệu. Nếu
là sản phẩm dành cho trẻ em thì cần vui tươi, sinh động, nếu là sản phẩm làm đẹp cho
phụ nữ thì nhạc hiệu cần nhẹ nhàng, quyến rũ. Nhạc hiệu thường in sâu vào trí nhớ
khách hàng rất lâu, chỉ cần nghe đoạn nhạc có thể nhận biết được đó là thương hiệu
gì.
1.2.5.5 Hình tượng thương hiệu
Là cách sử dụng một nhân vật thật như ông già KFC hoặc một con vật nào đó
để diễn tả tính cách riêng biệt như con bò của Vinamilk hay con nai của Vĩnh Tiến…
Hình tượng thường được sử dụng nhiều trong các chương trình quảng cáo, khuyến
mãi, giới thiệu sản phẩm để tạo sự chú ý, sinh động, gợi nhớ, tạo sự khác biệt. Mục
tiêu sử dụng hình tượng thương hiệu là để tạo thiện cảm cho khách hang qua tính
cách gần gũi của nhân vật hoặc tính cách dễ thương của các con vật.
Một số lợi ích tiêu biểu mà hình tượng thương hiệu mang lại cho doanh nghiệp
như giúp xây dựng tình cảm với khách hàng, tạo một sự quan tâm tích cực của khách
hàng đối với thương hiệu thông qua hình tượng đại diện.
1.2.5.6 Kiểu dáng, mẫu mã
Kiểu dáng, mẫu mã của sản phẩm phải thể hiện những thông tin thuyết phục,
giúp tạo ra sự nhận biết tại thời điểm bán hàng, tiện lợi (dễ mang, dễ mở, dễ lưu giữ),
phân biệt được sản phẩm, bắt mắt khi trưng bày (màu sắc đẹp, thiết kế hấp dẫn).
1.2.6 Quảng bá thương hiệu
Nếu chỉ xây dựng thôi thì chưa đủ, doanh nghiệp cần phải phát triển thương
hiệu đó dựa trên những yếu tố đã được xây dựng. Để phát triển thương hiệu doanh

18

nghiệp cần thực hiện các hoạt động truyền thông thương hiệu với thị trường để mọi
người biết đến, hiểu nó và chấp nhận nó. Các biện pháp như quảng cáo, khuyến mãi,
quan hệ công chúng (PR)… chiếm vị trí quan trọng nhằm mục đích truyền bá đến
khách hàng về các lợi ích mà sản phẩm mang lại cũng như tạo sự gắn bó, quan tâm
của khách hàng đối với sản phẩm. Hoạt động truyền thông được coi như “chìa khóa”
giúp mở tung cánh cửa đưa thương hiệu vào cuộc sống, tạo sự tương tác trực tiếp giữa
thương hiệu và người tiêu dùng.
1.2.6.1 Quảng cáo
Giúp xây dựng hệ thống nhận diện và khuyếch trương thương hiệu thông qua
việc tạo ra những giá trị cảm tính về chủ đề và tính cách của thương hiệu. Quảng cáo
luôn gắn với các phương tiện truyền thông đại chúng, hướng tới tổng thể số đông
khách hàng mục tiêu, thông tin về thương hiệu mang tính một chiều từ doanh nghiệp
đến người tiêu dùng.
Các mục tiêu mà quảng cáo cần đạt được:
• Thông tin về sản phẩm mới, công dụng của sản phẩm, xây dựng hình ảnh của
doanh nghiệp.
• Nhắc nhớ về sản phẩm, nơi bán… giúp sản phẩm chiếm được vị trí ưu tiên
trong tâm trí khách hàng.
• Thuyết phục khách hàng dùng thử, thay đổi cách nhìn về sản phẩm.
1.2.6.2 Tổ chức sự kiện (Event)
Là những hoạt động đơn lẻ nhưng độc đáo có sức thu hút sự chú ý của giới
truyền thông và công chúng, thích hợp với cá tính và chủ đề của thương hiệu.
1.2.6.3 Khuyến mãi
Nhằm thúc đẩy người tiêu dùng mua hàng. Có các công cụ khuyến mãi như:
hàng mẫu, phiếu quà tặng, phiếu đổi hàng, trưng bày, biểu diễn tại nơi bán, chiết
khấu, các hội nghị công ty và các cuộc triển lãm, hội chợ thương mại.

19

Các mục tiêu khuyến mãi:
• Đối với người tiêu thụ: kích thích người tiêu dùng chưa sử dụng dùng thử, kích
thích người đã sử dụng mua nhiều hơn, thu hút những khách hàng của các đối thủ
cạnh tranh.
• Đối với người bán lẻ: khuyến khích họ bán hàng mới, tồn kho nhiều hơn, thúc
đẩy mua hàng ngoài mùa tiêu thụ.
• Đối với lực lượng bán hàng: khuyến khích họ ủng hộ các sản phẩm mới, cố
gắng tìm kiếm nhiều khách hàng hơn, kích thích bán hàng mùa vắng khách.
1.2.6.4 Tài trợ hoạt động xã hội
Việc chọn chương trình tài trợ đòi hỏi doanh nghiệp phải căn cứ vào đối tượng
cụ thể mà chương trình nhắm tới như tài trợ các chương trình thể thao, văn hóa, nghệ
thuật, giải trí, xã hội… Để thực hiện hoạt động tài trợ cần lựa chọn cơ hội tài trợ phù
hợp với tài chính, chiến lược thương hiệu, đánh giá các hoạt động tài trợ.
1.2.6.5 Quan hệ công chúng (PR)
Đây là một công cụ vô cùng hiệu quả, dùng các tiếng nói khách quan, ý kiến
của các cá nhân hoặc tổ chức độc lập để nói về thương hiệu, sản phẩm, tạo niềm tin
cho người tiêu dùng. PR có thể nói được những điều mà quảng cáo không nói được,
nhắm tới những đối tượng nhỏ hẹp hơn trong tổng thể đối tượng mục tiêu.
Tóm lại, cũng giống như con người, thương hiệu cũng có thể được cảm nhận
với các cá tính như: tính vượt trội, tính cạnh tranh, tính độc đáo, ấn tượng, tin cậy,
năng động, trẻ trung, trí tuệ… Những cá tính này có thể tạo nên một thương hiệu
mạnh qua các cách khác nhau, giúp khách hàng tự thể hiện bản thân, tức là như một
công cụ để họ thể hiện cá tính của mình.
1.2.7 Yếu tố con người
Xây dựng thương hiệu nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng của
các mặt hàng nông sản là hữu ích, do đó, cần có sự tham gia của người sản xuất như
là một bộ phận của toàn bộ chuỗi giá trị. Yếu tố con người (trình độ sản xuất, ý thức
phát triển thương hiệu…vẫn là thách thức lớn nhất trong việc tuân thủ các quy trình

20

sản xuất, đạt các chứng nhận quốc tế cũng như các yêu cầu chặt chẽ về sản xuất, nếu
không việc phát triển sản phẩm cũng chỉ có lượng mà không có chất.
1.2.8 Chính sách nhà nước
Các yếu tố chính trị bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của
Chính phủ. Ngày nay các xu hướng chính trị rất nhạy cảm và ngày càng lớn tác động
đến hoạt động kinh doanh, môi trường chính trị bất ổn là khó khăn lớn cho các doanh
nghiệp. Vì vậy điều kiện tiên quyết trong đầu tư phát triển là tình hình chính trị phải
ổn định. Với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, đòi hỏi công ty phải lưu ý đến các
biến cố chính trị trong nước và trên thế giới, có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đồng thời phải tuân thủ theo hệ thống pháp
luật trong nước cũng như các hiệp định, điều ước quốc tế, các quy định về mậu dịch
quốc tế mà nước sở tại cam kết.
1.3 Tóm tắt chương 1
Thương hiệu là tài sản vô hình quí giá nhất mà một doanh nghiệp, một tập đoàn
hay là một tổ chức có được trong quá trình hình thành và phát triển. Trong chương
này, chúng ta đã làm rõ khái niệm về thương hiệu, sự khác nhau giữa thương hiệu và
nhãn hiệu, sự phát triển thương hiệu, vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp và
người tiêu dùng, tám yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương hiệu. Những cơ sở
lý luận này cũng chính là nền tảng trong việc đánh giá thực trạng phát triển thương
hiệu mủ cao su Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam trong chương sau, để từ đó
đề xuất các giải pháp phát triển thương hiệu mủ cao su.

21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU MỦ CAO SU
TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP CAO SU VIỆT NAM
2.1 Sơ lược về Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu chung
Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam được thành lập theo quyết định
248/2006/QĐ-TTg ngày 30/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí
điểm hình thành Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam và Quyết định số
249/2006/QĐ-TTg ngày 30/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập
Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Rubber Group Limited.
Tên viết tắt: VRG.
Trụ sở chính: 236 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (08) 39325234 – 39325235 Fax: 84.8.39327341 – 39325233.
Website: www.vnrubbergroup.com
Email: vrg@rubbergroup.vn
Chi nhánh: văn phòng đại diện Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam tại Hà
Nội. 56 Nguyễn Du, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: (04) 39427041 Fax: 04.39427091 – 39427092
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng hoàn toàn, đất nước thống nhất,
Nhà nước Việt Nam tiếp quản các đồn điền cao su tư nhân, quốc hữu hóa đồn điền
các công ty nước ngoài, chủ trương phát triển ngành cao su thành mũi nhọn trong nền
kinh tế.
Ngày 23/7/1977, Quyết định số 216/NNTC của Bộ Nông nghiệp thành lập Tổng
công ty cao su Việt Nam thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
Ngày 29/4/1995, Tổng công ty cao su Việt Nam được thành lập theo Quyết định
255/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty trực thuộc Chính phủ. Lúc này, các
nông trường, các công ty cao su từ Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải
miền Trung, Bắc Trung Bộ đều trực thuộc Tổng công ty Cao su Việt Nam