Tải bản đầy đủ
2 Sự cân bằng cung cầu

2 Sự cân bằng cung cầu

Tải bản đầy đủ

9

2000 và tăng lên 3,7 điểm phần trăm trong 8 năm ở giai đoạn 2000-2008 (phụ lục
10).
Đáng chú ý là sự suy giảm tăng trưởng năng suất. Năng suất giai đoạn 20002009, nhìn chung tăng ở cả 3 mùa vụ. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn
2000-2009 tương ứng theo mùa vụ Đông Xuân, Hè Thu, Lúa mùa lần lượt là:
2,0%/năm, 3,2%/năm, 3,3%/năm. Việc tăng năng suất mùa vụ đã góp phần tăng
năng suất trung bình cả nước.
65
60
tạ/ha

55
50
45
40
35
Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Cả nước

Đông Xuân

Hè Thu

Lúa mùa

Biểu đồ 1.3: Năng suất lúa giai đoạn 2000-2009 theo mùa vụ
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, 2009
Tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây. Giai đoạn
2000-2005 tốc độ tăng trưởng năng suất là 2,9%/năm giảm xuống còn 2% năm ở
giai đoạn kế tiếp 2005-2009. Nguyên nhân có từ các hiện trạng các yếu tố cấu thành
năng suất.
Một là, nguồn giống lúa tốt thiếu, không có sự đột phá, một phần phụ
thuộc vào nguồn giống Trung Quốc. Hệ thống cung cấp giống chính quy chỉ
đủ năng lực đáp ứng được 34% (Dương Văn Chín, 2008).
Hai là, tăng trưởng năng suất trong thập niên qua có sự đóng góp lớn từ
sự tăng các yếu tố đầu vào đặc biệt là phân bón và thuốc trừ sâu đã góp phần
không nhỏ đến tăng trưởng sản lượng. Tuy nhiên tăng trưởng năng suất dựa

10

trên sự đóng góp của tăng yếu tố đầu vào sẽ giảm dần khi đạt mức đến hạn
nếu không có cải tiến, ứng dụng của công nghệ mới. Thống kê của Bộ Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn tại An Giang, từ năm 2001 đến 2007, chi phí
cho phân bón tăng trên 2,5 lần, thuốc trừ sâu tăng 5 lần trong khi năng suất
tăng thêm chưa đến ½ đối với mỗi hecta.
Ba là, tăng trưởng năng suất ở từng mùa vụ góp phần vào tăng trưởng
năng suất cả năm. Sự gia tăng cấu phần có năng suất cao đóng góp làm năng
suất trung bình cả nước tăng, tuy nhiên không thể giữ tăng trưởng trung bình
lâu dài bằng tăng trưởng trọng số vì diện tích canh tác ở vụ Đông Xuân cũng
chỉ có giới hạn.
Bốn là, hệ số sử dụng đất canh tác cao (từ 1.61 năm 1995 đến 2008 là
1.79), gieo trồng nhiều vụ trên một diện tích canh tác, góp phần làm cho đất
đai trở nên cằn cỗi, người sản xuất ít có điều kiện cải tạo nguồn đất phục vụ
sản xuất ở vụ tiếp theo.
Từ thực trạng diện tích gieo trồng giảm dần, năng suất có xu hướng giảm tốc độ
tăng trường cho thấy nguồn cung có xu hướng giảm nhanh mức tăng trưởng
1.2.2 Thực trạng cầu
Đối với nhu cầu tiêu dùng gạo của Việt Nam có xu hướng tăng do dân số của
Việt Nam tăng liên tục trong suốt giai đoạn 2000 – 2008. Cụ thể, dân số năm 2000
của Việt Nam chỉ có 78,6 triệu người nhưng đến năm 2008 đã đạt trên 87 triệu
người. Tốc độ tăng trưởng bình quân của dân số giai đoạn này là 1,3%/năm (Phụ
lục 10). Xét ở hộ gia đình, tiêu dùng cho lương thực bình quân có xu hướng giảm
do xu hướng giảm ăn tinh bột (chủ yếu là gạo), làm cho cầu tiêu dùng trong ngắn
hạn ít biến động do hơn 75% lượng gạo được sử dụng với mục đích làm lương thực
(Phụ lục 5) . Xét trên nguyên tắc, tổng cung phải bằng tổng cầu, nghĩa là:
Sản
lượng

=

Hao hụt, chăn
nuôi, chế biến

+

Tiêu dùng gộp trong nước
(lương thực, hạt giống, dự trữ)

+

Xuất
khẩu

11

Sản lượng thu hoạch trừ đi phần tiêu dùng gộp trong nước, bao gồm cho
lương thực 6 , hạt giống, dự trữ, và trừ đi lượng xuất khẩu thì còn lại là phần dành
F

F

cho chăn nuôi, chế biến và lượng hao hụt. Vậy, trong khi sản lượng tăng 2,3%/năm,
tiêu dùng tăng 1,8%, thì tổng lượng hao hụt, chăn nuôi, chế biến tăng 2,7%/năm giai
đoạn 2000-2008, chiếm trên 18% tổng sản lượng ở năm 2008. Trong đó, sự gia tăng
tỷ lệ hao hụt (tăng trung bình 2,4%/năm giai đoạn 2000-2008) có nguyên nhân là do
sản lượng tăng nhanh mà năng lực dự trữ thấp (hệ thống kho bãi, xử lý lúa trước
bảo quản…chỉ đáp ứng được 1/4 sản lượng gạo hàng hóa), công nghệ sau thu hoạch
lạc hậu (Chu Tiến Quang, 2009) chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho tăng
trưởng sản lượng.
Với số liệu lịch sử giai đoạn 2000-2008 và xu hướng của sự tăng/giảm của
sản lượng và tiêu dùng tính đến năm 2020 thì nhu cầu lúa cần trên 39,6 triệu
tấn/năm. Trong đó, tiêu dùng chiếm 66% (54% năm 2008), hao hụt, chăn nuôi, chế
biến chiếm 24% (18% năm 2008) trong tổng cầu lúa, gạo trong nước (Phụ lục 11).

40
Xuất khẩu quy đổi lúa

triệu tấn

30

Tiêu dùng quy đổi lúa
Chăn nuôi, chế biến

20

Sử dụng hạt giống
Dự trữ lúa
Hao hụt

10
0
2000

Sản lượng lúa

2005

2008

2010

2015

2020

Biểu đồ 1.4 : Sản lượng, tiêu dùng, hạt giống, dự trữ, hao hụt, xuất khẩu giai
đoạn 2000-2020
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu thống kê của GSO, 2008
6

Bao gồm cả thức uống và các sản phẩm chế biến như rượu, bánh tráng,bún…ở hộ gia đình

12

Để cân đối cung cầu, thì sản lượng sau khi trừ đi lượng hao hụt, chăn nuôi,
tiêu dùng trong nước, lượng dôi dư còn lại dành cho xuất khẩu, thì đến năm 2020,
Việt Nam chỉ còn dôi dư giành cho xuất khẩu được trên 300 ngàn tấn gạo, xấp xỉ
7,5% lượng xuất khẩu năm 2008, 1,4% tổng sản lượng lúa. Lượng xuất khẩu trong
tương lai có xu hướng sụt giảm mạnh, do tổng cầu trong nước tăng nhanh hơn tốc
độ tăng của sản lượng. Một khi lượng dôi dư để điều tiết ngày càng giảm, giá gạo
càng trở nên nhạy cảm với biến động của sản lượng. Do đó, về dài hạn cầu có xu
hướng tăng, do dân số tăng nhanh mà diện tích có xu hướng giảm dần trong điều
kiện chưa có đột phá về năng suất.
P
P1

D

P0
S
Q

Q

Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ mô tả trạng thái không có điểm cân bằng
Trong dài hạn, cân bằng cung cầu có nguy cơ không tồn tại khi lượng cung
không còn đủ cho tiêu dùng gộp trong nước. Khi này, giá gạo sẽ dao động trong
một dải rộng từ P0 đến P1 tương ứng với mức sản lượng Qi.
Tóm lại, trong thời điểm hiện tại nguồn cung đáp ứng đủ tiêu dùng trong nước,
có dôi dự dành cho xuất khẩu. Tuy nhiên về dài hạn, nguy cơ nguồn cung không đủ
cho tiêu dùng trong nước, làm cho giá trên thị trường không có điểm cân bằng, mà
biến động trong một dải rộng. Khi này các biến động giá gạo nội địa sẽ phụ thuộc
lớn vào nguồn nhập khẩu, chịu tác động hoàn toàn từ giá gạo thế giới.

13

1.3 Bình ổn và tính không ổn định của giá gạo
Hệ thống kinh tế ở trạng thái cân bằng khi mọi lực tác động vào nó cân bằng đến
mức không có khuynh hướng biến động thực sự (David Colman và Trevor Young,
1989). Trạng thái cân bằng đạt được khi lượng cung bằng lượng cầu, tại đó không
có khuynh hướng biến động về giá cả và lượng hàng. Khi này tổng cung, tổng cộng
các nguồn cung sản phẩm trên thị trường, đúng bằng tổng cầu, tổng sức mua của
các lực mua. Tuy nhiên, khi thị trường vận động, các điều kiện kinh tế không ngừng
biến động, giá sản phẩm được hình thành từ sự thay đổi các lực cung, lực cầu ở
từng thời điểm xác định. Tính không ổn định không chỉ được hiểu là sự thiên lệch
khỏi mức cố định nào, mà đó là cũng là mức độ của sự biến thiên. Do đó, bình ổn
giá gạo không đơn thuần là giữ ở mức cố định, mà đó còn là các tác động nhằm làm
giảm biến thiên của mức giá.
Sự biến động của giá cả được xem xét trên 2 khía cạnh:
- Do các yếu tố bên trong mô hình cung cầu tác động: Khi có các biến động
của các yếu tố ngoại sinh, giá cả sẽ là tín hiệu để cung cầu tự điều tiết đạt được
trạng thái cân bằng. Các thay đổi dựa vào hàm cung (hành vi của người sản xuất),
hàm cầu (hành vi của người tiêu dùng), nói cách khác là dựa vào đặc tính của hàm
cung, hàm cầu mà giá thay đổi, từ trạng thái bị tác động bên ngoài chệch khỏi cân
bằng, trở về trạng thái cân bằng mà xem như các yếu tố khác không đổi. Thể hiện
trên mô hình cung cầu thì các thay đổi sẽ di chuyển dọc theo đường cung, đường
cầu.
- Do các yếu tố bên ngoài mô hình cung cầu tác động: do các tác nhân bên
ngoài (không là hành vi của người tiêu dùng hay của nhà sản xuất). Sự biến động
này thể hiện trên mô hình cung cầu bằng các dao động dịch chuyển đường cung,
đường cầu ngắn hạn. Sự dao động do các tác động bên ngoài phụ thuộc vào đặc
điểm đặc trưng của từng loại hàng hóa.
1.3.1 Biến động giá gạo do các yếu tố bên trong mô hình cung cầu
Gạo là hàng hóa tư với vô số người sản xuất và người tiêu dùng. Ở thị trường
trong nước, gạo hầu như không có trở lực gia nhập, hay thoát khỏi thị trường. Giá

14

cả tất yếu được hình thành từ cơ sở thị trường. Các thay đổi từ sản lượng, tiêu dùng
tác động trực tiếp đến giá cả trên thị trường. Khi có sự biến động về sản lượng
hay/và mức tiêu dùng kéo theo sự thay đổi giá hàng hóa trên thị trường. Thị trường
sẽ làm nhiệm vụ điều tiết thông qua tín hiệu của giá cả, tự điều chỉnh đến trạng thái
cân bằng.
Tuy nhiên, đối với cầu gạo trong nước, theo số liệu thống kê của tổ chức
FAO, gạo chiếm 70% khẩu phần lương thực, vẫn là lương thực chính của người
Việt Nam, là hàng hóa thiết yếu phục vụ cho đời sống hàng ngày. Do đó, người tiêu
dùng vẫn phải tiêu dùng gạo ở mức cố định cho dù giá gạo có biến thiên. Trong khi
đó, người sản xuất trong nước sẵn sàng thay đổi sản lượng một khi giá cả không còn
thỏa mãn yêu cầu lợi ích. Họ có thể chuyển đổi sang các ngành phi nông nghiệp,
hay chuyển đổi sang cây trồng khác một khi có lợi ích cao hơn. Phản ứng của nông
dân trồng lúa dễ dàng chuyển đổi khi biến thiên giá gạo hơn người tiêu dùng. Do
đó, độ dốc tuyệt đối của đường cung nhỏ hơn so với đường cầu.
Đối với sản phẩm lúa trong điều kiện người nông dân sản xuất lúa đa số là
người nghèo, không có đủ điều kiện (phơi sấy 7 , kho bãi, chi phí vốn) để dự trữ lúa
F

F

chờ giá. Các đại lý, hàng xáo không đủ năng lực dự trữ nhiều ngày do đầu tư xây
dựng kho bãi đủ tiêu chuẩn có chi phí lớn 8 . Mặc khác, dự trữ gạo lưu thông thấp
F

F

nguyên do không chỉ từ thiếu cơ sở hạ tầng, kho bãi mà còn từ yếu tố lãi suất. Nếu
mua tạm trữ tại thời điểm thu hoạch chờ đến khi xuất khẩu doanh nghiệp ngoài chi
phí lưu kho, hao hụt còn mất chi phí cơ hội của vốn. Đơn cử trường hợp doanh
nghiệp mua gạo tạm trữ khi thu hoạch ở vụ Đông Xuân 2007 với mức giá 5110
đồng/kg bán ra sau đó 4 tháng, giữa vụ Hè Thu với mức giá 5278 đồng/kg tăng
3,3%, thì chi phí của vốn là 230 đồng/kg (lãi suất thị trường là 18%/năm). Vậy
7

Độ ẩm dưới 14% mới có khả năng giữ lúa đảm bảo chất lượng trong vòng 3 tháng, còn đối với dự
trữ gạo ở hàng xáo, đại lý sẽ giảm nhanh phẩm chất nếu dự trữ trên 2 tháng.
(http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30065&cn_id=411354#8BUu
C6Ml2ib2)
8
Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn năm 2008, đã kêu gọi đầu tư kho trữ lúa gạo 4 triệu tấn
tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2009-2010 với vốn đầu tư lên đến 7.620 tỉ đồng. Tính
trung bình để dự trữ 10 ngàn tấn thì chi phí đầu tư xấp xỉ 20 tỷ đồng. Chi phí đầu tư chiếm tỷ trọng
quá lớn cơ cấu vốn của các doanh nghiệp, vượt ngoài năng lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
HU

UH