Tải bản đầy đủ
Chương 2: Tác động của chính sách đến bình ổn giá gạo trong nước

Chương 2: Tác động của chính sách đến bình ổn giá gạo trong nước

Tải bản đầy đủ

29

khối lượng xuất khẩu trên 69% tổng lượng xuất khẩu, cho thấy có sự tập trung cao ở
thị trường xuất khẩu. Khi có hợp đồng xuất khẩu, các doanh nghiệp này có vai trò
ấn định giá thu mua cho các đầu mối dựa trên cơ sở tính toán giá đã ký kết. Đối với
thị trường xuất khẩu thì được chia thành 2 dạng ký kết hợp đồng: hợp đồng thương
mại và hợp đồng tập trung. Hợp đồng thương mại do các doanh nghiệp tự tìm kiếm
bạn hàng, thỏa thuận giá và lượng. Hợp đồng tập trung thông qua đấu thầu ở các thị
trường lớn, được Chính phủ cam kết thực hiện, chiếm hơn 50% tổng lượng xuất
khẩu, với khối lượng từng hợp đồng lớn.
Dựa trên số liệu cân đối sản lượng và tiêu dùng, dự trữ, Chính phủ giao cho
Hiệp hội tính toán điều tiết xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu thông qua Hiệp hội
bằng phương thức đăng ký giá và khối lượng xuất. Phương thức điều tiết này gặp
phải 2 vấn đề đối với bình ổn giá gạo trong nước.
Một là, doanh nghiệp trước khi đăng ký không có động cơ mua vào dự
trữ, dù giá thị trường thấp, có mối quan hệ bạn hàng từ trước, do không chắc
chắn đăng ký được hạn ngạch, triệt tiêu động cơ dự trữ cạnh tranh (mua khi giá
rẻ - dự trữ cho xuất khẩu tạo nên lợi thế xuất khẩu). Đơn cử trường hợp công
ty Du lịch-Thương mại Kiên Giang vào 02/2009 19 , sau khi liên hệ với bạn
F

F

hàng thì không được cho đăng ký xuất khẩu đã tạo nên một cuộc tranh cãi lớn
về phương thức điều hành đăng ký xuất khẩu của Hiệp hội lương thực Việt
Nam.
Hai là, khi có được hợp đồng xuất khẩu (lược tả theo hình 3.1), đăng ký
với Hiệp hội thành công, doanh nghiệp mới tổ chức thu mua trong thời gian
ngắn (t0 đến t1) căn cứ theo giá hợp đồng đã ký. Hệ quả của nó là giá trong
nước tương quan chặt với giá thế giới. Đồng thời thị trường trong nước tăng
thêm lượng cầu ngắn hạn dành cho xuất khẩu (Do không đủ năng lực dự trữ từ
trước, đường cầu gạo cho xuất khẩu ở các doanh nghiệp dốc đứng làm cho D1
19

http://ngoaithuong.vn/news/tinchuyende/1459_xuat_khau_gao_hiep_hoi_lam_kho_doanh_nghiep.h
tml
HU

U

30

dịch chuyển thành D2 sau đó trở về D1; ΔQ = Q1 – Q0), làm giá gạo trong nước
biến thiên tăng. Khối lượng ký kết trong hợp đồng (ΔQ) càng lớn kéo theo sự
biến thiên giá (ΔP) càng lớn.
P

P
D1
S

D0
P1
P0

Q0

Q1

Q

t0

t1

t

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ mô tả biến động giá gạo trong nước theo hợp đồng xuất khẩu.
Các hợp đồng được phân bổ dàn trải suốt trong năm (theo tính toán, phân bổ
của Hiệp hội ở từng thời điểm nhằm bảo đảm an ninh lương thực) cùng với lượng
dự trữ thấp ở các doanh nghiệp xuất khẩu đã làm cho giá gạo trong nước tương
quan chặt với giá gạo thế giới. Do đó giá gạo trong nước biến động theo sự biến
động của giá gạo thế giới.
2.2 Mua trợ giá
Thời gian vừa qua khi thị trường lúa gạo có biến động, Chính phủ sử dụng
biện pháp can thiệp mua trợ giá nhằm đề phòng giá xuống quá mức có thể gây thiệt
hại lớn cho cuộc sống của nông hộ nhỏ khiến họ không nhiệt tình tiếp tục làm vụ
cho sản xuất sau, nguy cơ sụt giảm nguồn cung. Chính sách can thiệp bằng mua
theo trợ giá chỉ áp dụng khi lượng cung trong nước vượt lượng cầu. Cụ thể trong
năm 2007, Chính phủ đã thực hiện thu mua tạm trữ với mục đích bình ổn giá thông
qua dự trữ tại 2 doanh nghiệp Nhà nước là Tổng công ty lương thực miền Bắc và
Tổng công ty lương thực miền Nam, bằng việc tạm ứng vốn và hỗ trợ lãi suất để thu
mua tạm trữ. Giá thu mua được ấn định một lần là giá thành sản xuất cộng thêm

31

30% lợi nhuận cho nông dân với khối lượng xác định trước có tác dụng như giá sàn
cho thị trường mà chưa có vai trò tích cực ổn định giá.
P
D

S

Pmi
Pt

Q2 Qt

Q1

Q

Sơ đồ 2.2: Mô tả giá thu mua có tác dụng bình ổn
Sơ đồ 2.2 cho thấy các biến động giá gạo nội địa (Pt) sẽ bị triệt tiêu bởi mức
giá Chính phủ thu mua (Pmin) trong điều kiện Pmin > Pt. Khi này người bán không
sẵn lòng bán với mức giá Pt do có thể bán được với mức giá Pmin cao hơn Pt. Điều
này giúp giá gạo nội địa ổn định trong ngắn hạn khi giá thị trường thấp hơn giá thu
mua của Chính phủ.
Tuy nhiên đối với các biến động của giá gạo cao hơn mức giá Chính phủ thu
mua thì chính sách mua trợ giá không còn tác dụng.
P
S

D

Pt
Pmin

Qt

Q

Sơ đồ 2.3: Mô tả giá thu mua không có tác dụng bình ổn

32

Khi này các biến động giá gạo nội địa (Pt) không chịu tác động bởi mức giá
Chính phủ thu mua (Pmin). Người bán không sẵn lòng bán với mức giá Pmin do có thể
bán được với mức giá Pt cao hơn Pmin.
Do đó, khi giá thị trường thấp, giá thu mua sẽ đẩy giá thị trường lên ngang
bằng, nhưng khi giá thị trường lên cao thì giá thu mua tạm trữ lại không có tác dụng
điều tiết. Phương thức này chỉ có tác dụng 1 phía (triệt tiêu biến động khi giá thấp),
thị trường cũng không tránh khỏi tác động của sự biến động ngoại sinh. Việc thu
mua tạm trữ bằng giá cố định như vậy có thể hoàn thành vai trò giảm thiệt hại cho
nông hộ nhỏ khi biến động giá (chỉ là 1 trong 3 lợi ích của bình ổn giá) chứ không
có vai trò tích cực hoàn toàn đối với bình ổn giá gạo trong nước.
Bên cạnh đó, chính sách mua trợ giá có nguy cơ vi phạm cam kết của Việt
Nam đối với WTO. Ước tính nếu Chính phủ mua trợ giá lúa đảm bảo lợi nhuận
30% cho nông dân với sản lượng dôi dư cho xuất khẩu là 5 triệu tấn (25% tổng sản
lượng) thì mức hỗ trợ của riêng chính sách mua trợ giá là 7,5% mà chưa tính đến
các hỗ trợ khác như: điện, tưới tiêu, lãi suất thu mua dự trữ…có khả năng vượt quá
cam kết hỗ trợ dưới 10% tổng sản lượng của WTO. Vậy cho dù phương thức thu
mua giá sàn có làm giảm biến động giá, nhưng cũng khó có thể sử dụng như một
phương thức chính thức để bình ổn giá gạo.
Kết luận chương
Nhìn tổng thể, các chính sách có tác động đến giá gạo cho thấy quan điểm
kiên quyết của Chính phủ tập trung vào việc điều tiết thị trường nhằm đảm bảo đủ
lượng tiêu dùng trong nước, hơn là hài hòa các nội dung về an ninh lương thực 20 mà
F

F

bình ổn giá là 1 trong 3 nội dung chính. Cụ thể là:
Để đảm bảo tiêu dùng trong nước, Chính phủ tuy không áp đặt hạn ngạch
xuất khẩu gạo, nhưng áp dụng phương thức quản lý xuất khẩu bằng đăng ký lượng

20

Ủy ban An ninh lương thực thế giới (CFS) đánh giá tình hình an ninh lương thực của 1 quốc gia
theo 3 tiêu chí là: tính sẵn có của lương thực, tính ổn định về sản lượng, khả năng tiếp cận được
lương thực. Các chính sách của Chính phủ áp dụng thời gian qua do tập trung nhằm đảm bảo tiêu
dùng trong nước nên chỉ đáp ứng chỉ tiêu tính sẵn có mà chưa nhắm đến mục tiêu là làm tăng khả
năng tiếp cận thông qua bình ổn giá lương thực nội địa.

33

và giá hình thành nên hình thức hạn ngạch linh hoạt. Phương thức này triệt tiêu
động cơ dự trữ cạnh tranh trong doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời làm cho giá gạo
trong nước biến thiên cùng với sự biến thiên của giá gạo thế giới.
Để bình ổn giá gạo trong nước, Chính phủ thực hiện chính sách thu mua tạm
trữ khi giá gạo xuống thấp. Phương thức này có tác động chưa triệt để đối với mục
tiêu bình ổn giá vì chỉ giảm được các biến thiên khi giá xuống thấp hơn giá sàn, còn
khi giá gạo trong nước biến thiên cao hơn giá sàn thì phương thức này không còn
tác dụng.

34

Chương 3: Thảo luận và gợi ý chính sách
3.1 Nhận diện các vấn đề đối với bình ổn giá gạo trong nước
Từ nửa cuối thập niên 90 đến nay, khi Việt Nam trở thành một trong số các quốc
gia có khối lượng xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, thì tình hình giá gạo trong nước
cũng có những biến động lớn dù rằng lượng gạo dôi dư xấp xỉ 5 triệu tấn/năm. Dựa
trên mô hình cung cầu, chương 1 và 2 đã nhận diện nguyên nhân biến động giá gạo
nội địa trong ngắn hạn dựa trên sự mất cân đối cung cầu. Cụ thể có 3 nguyên nhân
chính được nhận diện là: sự biến động ngắn hạn của sản lượng; do kênh xuất khẩu
tác động; năng lực điều tiết thị trường yếu của Chính phủ. Cụ thể:
1.

Trong khi cầu nội địa ổn định thì nguồn cung có tính mùa vụ. Sản phẩm
được thu hoạch trong thời gian ngắn làm tổng cung tăng nhanh đột biến
theo 3 vụ thu hoạch chính. Năng lực dự trữ yếu làm cho đường cung ngắn
hạn dốc đứng, giá gạo nội địa giảm nhanh xuống đáy theo từng đợt thu
hoạch từ đỉnh giá ở cuối vụ. Bên cạnh đó, vai trò tích cực để ổn định giá
gạo nội địa đã không thể phát huy khi năng lực dự trữ yếu.

2.

Thập niên vừa qua, cầu gạo thế giới tăng cao, có những biến động lớn, mất
cân đối cung cầu ngắn hạn (do thiên tai, tăng trưởng nhu cầu về năng
lượng sinh học, tăng dân số, đầu cơ…) làm giá gạo thế giới biến động
mạnh, có những thời điểm ở trạng thái khủng hoảng lương thực. Các
doanh nghiệp không có gạo dự trữ cho xuất khẩu đã làm cho giá gạo nội
địa chịu tác động lớn sự biến thiên giá gạo thế giới theo từng thời điểm ký
kết, giao hàng. Lượng gạo xuất khẩu phân bổ đều trong năm theo phương
thức đăng ký đã làm cho giá gạo trong nước tương quan chặt với các biến
động của giá gạo thế giới.

3.

Dù rằng chưa có chính sách chính thức bình ổn giá gạo trong nước, tuy
nhiên trong các thời điểm khác nhau Chính phủ sử dụng 2 giải pháp có
tính tình thế để bình ổn giá gạo trong nước là mua tạm trữ và dừng xuất

35

khẩu. Tuy nhiên phương thức mua tạm trữ không phát huy năng lực bình
ổn giá triệt để (bình ổn 1 phía), thiếu tính linh hoạt. Đồng thời Chính phủ,
Hiệp hội lương thực thiếu thông tin về thị trường càng làm giảm năng lực,
hiệu quả của các chính sách điều hành bình ổn giá gạo trong nước, nhất là
đối phó khi xảy ra khủng hoảng lương thực.
3.2 Đề xuất giải pháp
3.2.1 Kế hoạch tồn kho đệm
Tính mùa vụ là biểu hiện đặc trưng của các sản phẩm nông sản, đặc biệt là
các sản phẩm không thể dự trữ buộc phải tiêu dùng ngay (lập tức phải đưa ra thị
trường ngay sau khi thu hoạch). Đa số các quốc gia đều sử dụng các biện pháp
nhằm ổn định giá nông sản, thông thường nhất là thu mua đưa vào dự trữ khi dôi dư
và bán ra khi thiếu hụt theo giá thị trường được gọi là kế hoạch tồn kho đệm 21 . Kế
F

F

hoạch tồn kho đệm với mục đích cơ bản là làm giảm tính mùa vụ của nông sản, điều
tiết lượng dự trữ để cân bằng cung cầu kể cả trong nước và xuất khẩu. Cụ thể như
Thái Lan, là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Chính phủ Thái Lan bình ổn
giá trong nước bằng phương thức mua gạo trên giá sản xuất ở các thời điểm thu
hoạch, đảm bảo nông dân trồng lúa có lợi nhuận. Sau đó, gạo được tạm trữ và tiến
hành đấu giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi có hợp đồng.
Tác động của kế hoạch tồn kho đệm đến giá gạo được mô tả như sau:

21

Tên gọi được sử dụng chính thức trong cuốn Nguyên lý kinh tế nông nghiệp (David Colman và
Trevor Young,1989)