Tải bản đầy đủ
Tính cấp thiết của đề tài:

Tính cấp thiết của đề tài:

Tải bản đầy đủ

VNĐ/kg

2

8,000
7,800
7,600
7,400
7,200
7,000
6,800
6,600
6,400
6,200
6,000
1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

tháng
Biểu đồ b : Diễn biến giá gạo bán lẻ trong nước năm 2009
Nguồn: Số liệu do Tổng cục thống kê cung cấp năm 2010
Đặc biệt là tại thời điểm khủng hoảng lương thực năm 2008, giá gạo thế giới
nhảy vọt từ 350 USD/tấn (tháng 01/2008) lên mốc 1000 USD/tấn (tháng 04/2008)
tăng 260% trong vòng 4 tháng. Chính phủ lúng túng về tình trạng an ninh lương
thực bị đe dọa đã tạo nên cầu nối từ khủng hoảng thế giới dẫn đến khủng hoảng giá
lương thực trong nước. Giá trong nước tăng trên 150% trong cùng thời điểm tương
ứng, dù rằng các thống kê lượng gạo sau đó khẳng định rằng không có sự thiếu hụt
lương thực trong nước, kể cả ở các đô thị lớn (Đặng Kim Sơn, Phạm Hoàng Ngân,
2008). Trong thời điểm đó, Chính phủ đã quyết định dừng ký kết các hợp đồng xuất
khẩu để ngăn chặn khủng hoảng lan truyền, nhưng động thái này không chỉ không
có tác dụng tách rời thị trường trong nước với thị trường thế giới mà còn đẩy giá
gạo lên cao hơn. Hệ số tương quan giữa giá gạo trong nước và giá gạo thế giới cao,
xấp xỉ 0,96 1 tại thời điểm khủng hoảng.
F

1

F

(ArgoInfo, 2008)

3

Biểu đồ c: Giá gạo tẻ ở Cần Thơ từ tháng 1 đến tháng 8/2008
Nguồn: ArgoInfo, 2008
Sự biến động giá gạo làm xáo trộn mạnh trong xã hội cũng như nền kinh tế. Tác
động kinh tế của sự ổn định giá gạo thể hiện trên 3 phương diện: Lợi ích kinh tế vi
mô cho người tiêu dùng, lợi ích kinh tế vi mô cho nhà sản xuất, lợi ích kinh tế vĩ mô
(Timmer và David Dawe, 2008). Sự biến động giá lương thực có thể gây ra những
trận đói cục bộ, ngắn hạn ở nhóm người có thu nhập thấp, tác động đến sức khỏe,
năng suất người lao động. Đối với nhà sản xuất, nông dân trồng lúa, sự biến động
giá gạo tạo nên rủi ro cao cho suất sinh lợi của nhà sản xuất, làm cho người nông
dân khó tiếp cận các nguồn vốn, hoặc phải chịu chi phí sản xuất cao hơn. Mặt khác,
sản phẩm lúa gạo có tính mùa vụ, sự bình ổn giá gạo mang đến lợi ích cao hơn của
nhà sản xuất về giá mùa vụ (dòng ngân lưu), giảm thiệt hại từ hiện tượng “được
mùa-mất giá”, “mất mùa-được giá”. Bên cạnh đó, sự ổn định giá lương thực làm
giảm bất bình đẳng xã hội, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Người nghèo có
tỷ trọng chi tiêu cho lương thực lớn hơn các đối tượng khác, biến động giá lương
thực làm cho họ giảm tiết kiệm để dự phòng cho lương thực, dẫn đến giảm thu
nhập. Tác động của sự biến thiên giá lương thực ở các quốc gia nghèo, đang phát

4

triển sẽ nặng nề hơn các quốc gia đã phát triển. Do đó, bình ổn 2 giá gạo ở Việt Nam
F

F

càng có vai trò quan trọng. Lợi ích của việc bình ổn giá gạo là rõ ràng, tuy nhiên thị
trường, dưới tác động “bàn tay vô hình” có thể tự đạt được sự ổn định hay không?
Nếu không thì các tác động của Chính phủ có đạt được hiệu quả ổn định giá gạo
trong nước hay làm tồi tệ thêm như giai đoạn khủng hoảng lương thực năm 2008.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Bình ổn giá gạo trong nước” để nghiên cứu
nhằm giải đáp 2 câu hỏi chính sách: (1) Có cần thiết sự can thiệp đến của Chính
phủ đến giá gạo trong nước để bình ổn? (2) Tác động của các chính sách của
Chính phủ đối với giá gạo trong nước về bình ổn giá?
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của đề tài là phân tích đặc điểm, thực trạng thị trường gạo làm cơ sở
cho sự can thiệp của Chính phủ để bình ổn giá gạo trong nước. Đồng thời, đề tài
cũng phân tích, đánh giá tác động của các chính sách đến giá gạo. Từ đó đề ra
những gợi ý chính sách góp phần bình ổn giá gạo trong nước.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: giá bán lẻ gạo Việt Nam 3 .
F

F

- Phạm vi về thời gian: giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008
- Phạm vi về không gian: bối cảnh của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp: phân tích các chỉ tiêu
liên quan đến các yếu tố cung, yếu tố cầu, các số liệu nghiên cứu của các đề tài đã
thực hiện, số liệu từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, từ các
báo cáo phân tích của ADB, IRRI, FAO, USDA, ARGO, GSO, từ Internet,… để
phân tích, đánh giá, so sánh và tổng hợp.
- Phương pháp định tính dùng để phân tích thể chế về cơ chế hình thành giá gạo

2

Bình ổn không chỉ được hiểu là giữ ở mức cân bằng, mà còn là giảm thiểu các biến thiên so với
mức cân bằng (David Colman và Trevor Young, 1989).
3
Giá bán lẻ gạo Việt Nam được tính bằng trung bình có trọng số của sản lượng ở 2 thị trường chính
là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Nguồn số liệu về giá bán lẻ gạo nội địa
được sử dụng trong đề tài do Tổng cục Thống kê Việt Nam cung cấp.

5

trong nước, trong đó tập trung phân tích những nguy cơ tạo nên bất ổn để đề xuất
các gợi ý chính sách.
5. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Đặc điểm, thực trạng giá gạo Việt Nam
Trong chương 1, đề cập đến sự hình thành giá gạo, dựa trên mô hình cân bằng
cung-cầu để phân tích. Trong đó tập trung phân tích sự mất cân đối cung cầu trong
ngắn hạn làm cơ sở đánh giá sự biến động giá gạo. Chương 1 gồm các nội dung chủ
yếu lần lượt từ khảo sát sự hình thành cân bằng cung cầu, đánh giá các tác động nội
sinh, các tác động ngoại sinh của cung cầu gạo trong nước, cầu xuất khẩu để chỉ ra
các nguy cơ, thách thức làm cơ sở cho sự can thiệp của Chính phủ để bình ổn giá
gạo trong nước
Chương 2: Tác động của các chính sách đến bình ổn giá gạo trong nước
Trong chương 2, tập trung phân tích đánh giá sự tác động của các chính sách có
ảnh hưởng đến giá gạo, thông qua đánh giá, phân tích tác động làm biến đổi cung
cầu trong nước. Cụ thể là: chính sách an ninh lương thực, chính sách thương mại
nhằm chỉ ra các bất ổn, cũng như sự thiếu khả thi của các chính sách của Chính phủ.
Chương 3: Thảo luận và gợi ý chính sách
Chương 3 đúc kết các kết luận quan trọng, từ đó đề xuất những giải pháp, chính
sách nhằm bình ổn giá gạo. Ngoài ra, tác giả dự báo một số nguy cơ khả thi của giải
pháp đề ra.