Tải bản đầy đủ
HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

án kinh doanh, phải kế hoạch hóa các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ
chức thực hiện chúng có hiệu quả.
Trong quá trình tổ chức, xây dựng và thực hiện các hoạt động trên, các doanh
nghiệp phải luôn kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của chúng. Muốn kiểm tra đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung hay của từng bộ phận
bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của
các hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp là gì? Để hiểu được phạm trù này trước hết ta tìm
hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì.
Từ trước đến nay có nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế:
Theo P. Samerelson và W. Nordhaus thì: "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội
không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng
hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của
nó". Quan điểm này đề cập đến việc phân bổ có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế và
mức hiệu quả mà tác giả đưa ra được coi là lý tưởng nhất.
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là
tác giả Manfred Kuhn, ông cho rằng: "tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết
quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh". Đây là quan điểm được nhiều
nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình
kinh tế.
Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là
hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị.
Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. Khái niệm hiệu quả kinh tế
tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và
hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản
trị chi phí.
Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và
sử dụng phổ biến đó là: “hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật
lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”.
1.1.1.3. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Từ các quan điểm trên về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau: hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt
được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

9

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì
hiệu quả càng cao.
1.1.2. Phân biệt giữa kết quả và hiệu quả sản xuất kinhdoanh
Có thể nói hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phạm trù này phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất
trong sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra là thấp nhất.
Như vậy, giữa “kết quả” và “hiệu quả” có sự khác nhau như thế nào? Kết quả
sản xuất kinh doanh là phản ánh toàn bộ sản phẩm đầu ra của một quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất kỳ hoạt động nào của con người đều mong muốn đạt được một lợi ích nào
đó. Kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh mới chỉ đáp ứng được một phần nào
nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và toàn xã hội. Tuy nhiên kết quả đó được tạo ra ở mức
nào, với mức giá nào là vấn đề cần được xem xét vì nó phản ánh khía cạnh chất lượng
của hoạt động sản xuất tạo ra kết quả. Mặt khác, nhu cầu của con người bao giờ cũng
lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của họ, bởi vậy người ta quan tâm đến việc làm thế
nào để với khả năng hiện có giới hạn của mình lại làm ra nhiều sản phẩm nhất. Từ đó
nảy sinh vấn đề: lựa chọn cách nào để đạt được kết quả cao nhất.
Như vậy, cần có sự so sánh giữa: đầu ra với đầu vào, chi phí bỏ ra của quá
trình sản xuất kinh doanh và kết quả thu được của quá trình đó. Từ so sánh đó ta đánh
giá về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã hiệu quả hay chưa. Kết quả
chính là cơ sở để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3. Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh
Từ khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, ta có thể thấy hiệu quả sản xuất
kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các
mục tiêu. Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả sản xuất kinh
doanh vào việc tạo lập các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá tính hiệu quả các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần:



Thứ nhất: phải hiểu rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất chính là mối quan
hệ so sánh giữa kết quả có được và chi phí bỏ ra nhưng có tính đến các mục tiêu của
doanh nghiệp
Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối hoặc tương đối.
Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là:
H=K-C




H : là hiệu quả sản xuất kinh doanh
K : là kết quả đạt được

NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

10

Đại học Kinh tế Quốc dân



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

C : là chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào

Còn về so sánh tương đối thì:
Để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước hết ta phải
tính kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả
thì kết quả nó là cơ sở để xác định tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh,
kết quả sản xuất kinh doanh là những đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được
như số sản phẩm bán ra, doanh thu bán hàng, lợi nhuận... Như vậy kết quả sản xuất
kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp.



Thứ hai: phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của xã hội nhằm đạt
được các mục tiêu về xã hội nhất định. Các mục tiêu của xã hội thường là: giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội hay phạm vi khu vực,
nâng cao trình độ văn hoá, nhận thức, nâng cao mức sống, đảm bảo vệ sinh môi
trường... Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm
đạt được các mục tiêu cả về kinh tế và xã hội trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc
dân cũng như trên phạm vi từng vùng miền, từng khu vực trong nền kinh tế. Trong khi
mỗi doanh nghiệp có một mục tiêu riêng của mình. Tuy nhiên ở Việt Nam, có một mục
tiêu bao trùm của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hóa lợi
nhuận. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả xã hội và hiệu quả
kinh tế xã hội có thể đồng nhất hoặc không. Hành động của doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh dựa vào việc cân nhắc có lợi cho bản thân doanh nghiệp trước. Một doanh
nghiệp có thể sản xuất ra sản phẩm mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp nhưng không
đem lại hiệu quả xã hội, thậm chí còn gây nên những gánh nặng. Ví dụ như doanh
nghiệp thu mua chế biến và tiêu thụ nguyên liệu thuốc lá, họ mang lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp mình, tuy nhiên lại ảnh hưởng không tốt đến vấn đề chăm sóc sức khỏe
người dân vì hút thuốc lá không có lợi cho sức khỏe.



Thứ ba: phân biệt được hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài
Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều
vào các mục tiêu của doanh nghiệp, do vậy mà tính chất hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh ở các giai đoạn khác nhau cũng là khác nhau. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả của toàn thể các hoạt động sản xuất kinh doanh trong cả quá trình hoạt động của
doanh nghiệp (hiệu quả lâu dài) là lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi. Còn xét về
tính hiệu quả hiện tại thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu trước mắt mà doanh nghiệp
đang theo đuổi. Trên thực tế, khi thực hiện mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp là tối đa
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

11

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

hoá lợi nhuận có nhiều doanh nghiệp hiện tại lại không đạt mục tiêu là lợi nhuận mà
lại thực hiện các mục tiêu khác như: nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng
cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả về chiều rộng và chiều
sâu... Do đó mà các chỉ tiêu về lợi nhuận là không cao nhưng các chỉ tiêu có liên quan
đến các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp là cao thì chúng ta phải kết luận là doanh
nghiệp đang hoạt động có hiệu quả, không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt
động kém hiệu quả, mà. Như vậy các chỉ tiêu hiệu quả trước mắt có thể là trái với các
chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích cuối cùng của nó lại là nhằm thực hiện chỉ
tiêu hiệu quả lâu dài.
1.1.4. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.4.1. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh doanh xã hội
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả sản xuất kinh doanh thu được từ hoạt
động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Biểu hiện chung là lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh xã hội là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu
kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng thu cho ngân sách...
1.1.4.2. Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không những đánh giá
hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trong sản xuất và ngoài sản xuất mà còn phải
đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung đươc tạo thành trên cơ sở hiệu quả các loại chi phí cấu thành.
1.1.4.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể
bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt
đối của các phương án với nhau. Đó chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của
các phương án.
1.1.5. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.5.1. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường khẳng định sự tồn tại
của doanh nghiệp, trong khi nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại đó là hiệu quả kinh
doanh, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là tồn tại và phát triển một cách bền
vững. Do vậy, một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt
động trong nền kinh tế thị trường hiện nay là việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

12

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của
doanh nghiệp phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn lực của quá
trình sản xuất chỉ thay đổi trong giới hạn thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là nhân tố
rất quan trọng trong việc bảo đảm sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một cách
nhìn khác, sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo ra hàng hóa, của cải
vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu và tạo tích lũy cho xã hội. Để thực hiện
được điều đó thì mỗi doanh nghiệp đều phải vươn lên và đứng vững trên thị trường để
đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra và có lợi nhuận trong quá trình hoạt động
kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế hiện
nay. Như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong mọi khâu của quá trình hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, sự tồn tại mới
chỉ là yêu cầu mang tính chất cơ bản còn sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp
mới là yêu cầu mang tính chất quan trọng. Bởi vì doanh nghiệp muốn tồn tại luôn luôn
phải đi kèm với sự phát triển mở rộng, đòi hỏi phải có sự tích lũy bảo đảm cho quá
trình mở rộng sản xuất theo đúng quy luật của sự phát triển.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp
phải tự tìm tòi, đầu tư phát triển để tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Doanh nghiệp
kinh doanh chấp nhận cơ chế thị trường cũng là chấp nhận sự cạnh tranh. Thị trường
ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng khốc
liệt và gay gắt hơn. Cạnh tranh không còn về mặt hàng, chất lượng, giá cả mà còn phải
cạnh tranh với nhiều yếu tố khác nữa. Nếu phát triển là mục tiêu của doanh nghiệp thì
cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp đó mạnh lên nhưng ngược lại đây cũng có
thể là yếu tố làm cho doanh nghiệp không còn chỗ đứng trên thị trường. Để đạt được
mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải giành được chiến thắng
trong cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường. Do đó doanh nghiệp cần phải có
hàng hóa, dịch vụ chất lượng tốt, bên cạnh đó giá cả phải hợp lý.
Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là nhân tố tiền đề tạo ra cho
doanh nghiệp sự thắng lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường. Muốn
tạo ra được chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Chính sự nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh, khả năng để tồn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp.

NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

13

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

1.1.5.2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với nền kinh tế thị trường nói chung và bản thân mỗi doanh nghiệp nói riêng trong
điều kiện các nguồn lực khan hiến như hiện nay.
Đối với nền kinh tế quốc dân thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ
tận dụng và tiết kiệm được nguồn lực của đất nước. Không chỉ vậy nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh con thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, giúp đất nước đi nhanh
vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế với tốc độ nhanh.
Đối với doanh nghiệp thì mục tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp tham gia vào
nền kinh tế thị trường được tự do hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong
hoạt động kinh doanh của mình phải coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ
trọng tâm hàng đầu. Vì suy cho cùng đây chính là yếu tố đưa doanh nghiệp đi tới thành
công hay làm doanh nghiệp thất bại, quyết định xem doanh nghiệp có đạt được mục
tiêu kinh doanh của mình hay không, có bảo toàn được vốn của doanh nghiệp không.
Hay nói cách khác, đây chính là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Ngoài ra, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là cơ sở để doanh nghiệp tái
sản xuất mở rộng, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho cán bộ công nhân
viên hoạt động trong doanh nghiệp.
1.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp
1.2.1.1. Chỉ tiêu doanh lợi doanh thu (ROS)
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp
dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định.
Lợi nhuận sau thuế
ROS =
× 100%
Doanh thu thuần
Trong đó:
- Doanh thu thuần: là khoản doanh thu bán hàng sau khi đã trừ các khoản giảm
trừ doanh thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, các khoản chiết khấu
thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu bán hàng bị trả lại.
- Lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng): tính bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi
phần thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách nhà nước trong kỳ. Lợi
nhuận trước thuế tính bằng doanh thu thuần trừ đi các khoản: giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

14

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Tỷ số này mang giá trị dương tức là doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng lớn
nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số này mang dấu âm tức là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
1.2.1.2. Chỉ tiêu doanh lợi trên tài sản (ROA)
ROA đo lường hoạt động của một doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản để
tạo ra lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định, không phân biệt tài sản này được hình
thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Ý nghĩa của ROA cho biết hiệu quả hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế
ROA =

× 100%
Bình quân tổng giá trị tài sản

Trong đó:
- Tổng tài sản: là tổng giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của công ty tính đến
thời điểm lập báo cáo.Bình quân tổng giá trị tài sản tính bằng trung bình cộng của giá
trị đầu kỳ và giá trị cuối kỳ.
Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng
cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng có lãi. Nếu nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ.
1.2.1.3. Chỉ tiêu doanh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này cho thấy kết quả của việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho
chủ sở hữu. ROE có liên quan đến chi phí trả lãi vay, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp
phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính (hệ
số nợ và hệ số thanh toán lãi vay).
Lợi nhuận sau thuế
ROE =

× 100%
Bình quân tổng vốn chủ sở hữu

Trong đó:
- Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, vốn chủ sở hữu
thường bao gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới, các
quỹ của công ty.Bình quân tổng vốn chủ sở hữu tính bằng trung bình cộng của giá trị
đầu kỳ và cuối kỳ.
ROE < R (R là tỷ lệ lãi vay ngân hàng): lợi nhuận tạo ra chỉ để trả lãi vay ngân
hàng. ROE càng cao càng tốt vì điều đó chứng tỏ rằng doanh nghiệp sử dụng đồng vốn
hiệu quả của cổ đông. ROE > R: lợi nhuận thu được dư trả chi phí lãi vay, cũng phải
xem xét liệu ROE có tăng hay không.

NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

15

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

1.2.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt động
1.2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn



Vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho =
Bình quân giá trị hàng tồn kho
Trong đó:
- Giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí để tạo ra một thành phẩm. Đối với một
công ty thương mại thì giá vốn hàng bán là tổng chi phí cần thiết để hàng có mặt tại
kho (giá mua từ nhà cung cấp, vận chuyển, bảo hiểm…). Đối với một công ty sản xuất
thì cũng tương tự nhưng phức tạp hơn một chút do đầu vào của nó là nguyên liệu chứ
chưa phải thành phẩm.
- Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản
xuất, kinh doanh bình thường; đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang;
nguyên liệu; vật liệu; công cụ, dụng cụ (gọi chung là vật tư) để sử dụng trong quá trình
sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. Bình quân giá trị hàng tồn kho bằng trung
bình cộng của giá trị đầu kỳ và giá trị cuối kỳ.
Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và
ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng
tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho
thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng
nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro
hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm.
Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng
dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả
năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn
nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến
dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ
lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.



Vòng quay vốn lưu động

Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng.
Công thức xác định như sau:
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

16

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh thu thuần

Vòng quay vốn lưu động =
Tài sản lưu động bình quân
Trong đó:
- Tài sản lưu động bao gồm tiền và các khoản tương đương với tiền, đầu tư
ngắn hạn, khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Tài sản
lưu động bình quân bằng trung bình cộng của giá trị đầu kỳ và cuối kỳ.
Việc tăng vòng quay vốn lưu động có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp. Nó có
thể giúp cho doanh nghiệp giảm được vốn lưu động cần thiết trong sản xuất kinh
doanh, giảm số lượng vốn vay hoặc có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trên
cơ sở vốn hiện có.



Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng nguyên giá tài sản cố định tham gia vào hoạt
động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng. Công thức tính:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Tài sản cố định bình quân
Trong đó:
- Tài sản cố định là tất cả tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời gian sử
dụng, luân chuyển, thu hồi trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ
kinh doanh lớn hơn hoặc bằng một năm). Tài sản cố định ở đây là giá trị còn lại đến
thời điểm lập báo cáo. Tài sản cố định bình quân bằng trung bình cộng của giá trị đầu
kỳ và cuối kỳ.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp cao hơn mức trung bình của
ngành là tốt.



Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Tỷ số này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết hiệu quả sử
dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vào
doanh nghiệp đã đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Công thức tính:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Bình quân tổng giá trị tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp
toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cao hơn mức trung bình của ngành là
tốt.
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

17

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Giá trị của chỉ tiêu càng cao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi
ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng
lực thu lợi của doanh nghiệp càng cao. Nếu ngược lại thì chứng tỏ các tài sản của
doanh nghiệp chưa được sử dụng có hiệu quả.
1.2.2.2. Hệ số về khả năng thanh toán



Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa tài sản lưu động với
các khoản nợ ngắn hạn, công thức:
Tài sản lưu động
Hệ số thanh toán hiện hành =
Tổng nợ ngắn hạn
Trong đó:
- Tổng nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong khoảng thời gian dưới
một năm, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, thuế và các khoản
phải nộp cho Nhà nước, phải trả cho công nhân viên, nợ dài hạn đến hạn trả, các khoản
phải trả khác.
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền để
trang trải các khoản nợ ngắn hạn, vì thế hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo
thanh toán của tài sản lưu động với các khoản nợ ngắn hạn.
Nếu hệ số này thấp thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp ở mức độ thấp và
cũng là dấu hiệu báo trước khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải
trong việc trả nợ. Khi hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc
sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp hệ số này quá cao chưa chắc đã phản ánh
năng lực thanh toán của doanh nghiệp là tốt, nghĩa là khi đó có một lượng tài sản lưu
động tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả vì bộ phận này không
vận động, không sinh lời (có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải đòi, hàng tồn kho ứ
đọng...). Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề nào
chiếm tỷ trọng tài sản lưu động lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn càng tốt và
ngược lại.
Tài sản lưu động trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ phải được chuyển
đổi thành tiền. Trong tài sản lưu động hiện có thì vật tư, hàng hoá chưa có thể chuyển
đổi ngay thành tiền được và do đó khả năng thanh toán kém nhất. Vì thế hệ số khả
năng thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của
đơn vị. Đó là thước đo khả năng trả nợ ngay, không dựa vào bán các loại vật tư, hàng
hoá tồn kho.
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

18

Đại học Kinh tế Quốc dân



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh được xác định bằng mối quan hệ giữa tài sản
lưu động - hàng tồn kho với tổng số nợ ngắn hạn, công thức:
Tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh

=
Tổng nợ ngắn hạn

Ở đây hàng tồn kho bị loại trừ ra vì được coi là tài sản không dễ dàng chuyển
đổi nhanh thành tiền và cũng thấy rằng tài sản dùng để thanh toán nhanh còn được xác
định là: tiền cộng với tiền tương đương. Tiền tương đương là các khoản có thể chuyển
đổi thành một lượng tiền biết trước (thương phiếu, các loại chứng khoán ngắn hạn...).
Thông thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số
này > 0,5 lần vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các
nguồn thu hay doanh số bán.



Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn
lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số khả năng thanh toán tức thời cho biết với
một đồng nợ ngắn hạn doanh nghiệp có thể đảm bảo chi trả bằng bao nhiêu đồng mà
không cần vay mượn thêm hay bán hàng tồn kho. Công thức sau:
Vốn bằng tiền
Khả năng thanh toán tức thời

=

Tổng nợ ngắn hạn

Trong đó:
- Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản lưu động trong doanh nghiệp, tồn tại
trực tiếp dưới hình thức tiền tệ, có tính thanh khoản cao nhất, bao gồm tiền mặt tại quỹ
doanh nghiệp, tiền gửi tại ngân hàng, và các khoản tiền đang chuyển.
Hệ số này càng lớn thì doanh nghiệp càng nhiều tiền để đảm bảo thanh toán,
ngược lại hệ số này càng nhỏ thì doanh nghiệp càng thiếu tiền để chi trả cho các khoản
nợ của mình. Tuy nhiên thừa hay thiếu tiền đều gây ảnh hưởng không tốt tới tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Nếu thừa sẽ gây ứ đọng vốn, còn nếu thiếu sẽ không bảo
đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Thông thường, nếu hệ số này > 0,5 thì
lượng tiền của doanh nghiệp quá nhiều thừa khả năng thanh toán, còn nếu hệ số này <
0,1 thì doanh nghiệp lại không đủ tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn.
 Tóm lại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà cao thì rủi ro thanh toán
sẽ thấp, tuy nhiên lợi nhuận có thể thấp vì khoản phải thu nhiều và hàng tồn kho nhiều.
Khả năng thanh toán mà thấp thì rủi ro thanh toán cao, xong lợi nhuận có thể cao vì tài
NGUYỄN HỮU CƯỜNG MINH

19