Tải bản đầy đủ
PHẦN I. MỞ ĐẦU

PHẦN I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ

2012” nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và hướng dẫn học sinh lớp Điều dưỡng 12B sử dụng sơ đồ tư duy để
học và tự học môn Chính trị, năm học 2011-2012.
- Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh lớp Điều dưỡng 12B đối với môn
Chính trị.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về quá trình học và tự học của học sinh.
- Nghiên cứu và hướng dẫn học sinh sử dụng Sơ đồ tư duy để học và tự học.
- Tiến hành thực nghiệm ở trường Cao đẳng Y Tế Sơn La.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Sơ đồ tư duy trong việc học môn Chính trị của học sinh lớp Điều dưỡng 12B.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp Điều dưỡng 12B.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Sơ đồ tư duy và ứng dụng sơ đồ tư duy trong việc học và tự học môn Chính trị
của học sinh lớp Điều dưỡng 12B, năm học 2011-2012.
5. Giả thuyết khoa học
Vận dụng Sơ đồ tư duy trong việc học và tự học môn Chính trị của học sinh sẽ tích
cực hóa hoạt động nhận thức, tăng hứng thú học tập cho học sinh, từ đó góp phần nâng
cao kết quả học tập của học sinh lớp Điều dưỡng 12B, năm học 2011-2012.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng quan các tài liệu trong nước và
ngoài nước về lý luận dạy học có liên quan đến đề tài. Sử dụng phối hợp các phương pháp
phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa . . . trong nghiên cứu các tài
liệu có liên quan tới việc ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học.
2

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra cơ bản thực trạng việc học và
sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập của học sinh lớp Điều dưỡng 12B, năm học 20112012. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài.
- Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm, đưa ra những kết quả phân tích định
tính, định lượng từ đó rút ra kết luận cho đề tài.
7. Những đóng góp mới của đề tài
Xây dựng phương pháp học, tự học môn Chính trị của học sinh lớp Điều dưỡng
12B, năm học 2011 - 2012 bằng sơ đồ tư duy.
8. Cấu trúc của Đề tài khoa học
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Đề tài khoa học gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong việc
học và tự học của học sinh.
Chương 2. Hướng dẫn học sinh lớp Điều dưỡng 12B trường cao đẳng Y Tế
Sơn La, năm học 2011 - 2012 sử dụng Sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị,
năm học 2011 - 2012.
Chương 3. Thực nghiệm

3

PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ
DUY TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo
dục nước ta từ những năm 1960. Cũng ở thời điểm đó, trong các trường sư phạm đã có
khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Trong cải cách giáo dục
lần hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong phương hướng cải cách, nhằm
đào tạo những con người lao động sáng tạo làm chủ đất nước.
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học”.. Có thể nói
cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới học tập chủ động, sáng tạo, chống lại thói
quen học tập thụ động. [2].
Sử dụng SĐTD trong học tập là một hình thức học tập tích cực, giúp học sinh chủ
động linh hoạt, tiết kiệm thời gian, phát huy tối đa tính sáng tạo, khả năng tư duy, năng
kiếu hội họa, đem lại hứng thú và kết quả cao trong học tập. [8]
Tuy nhiên, hiện nay số lượng công trình nghiên cứu ứng dụng SĐTD trong dạy và
học chưa nhiều, một số đề tài liên quan chủ yếu áp dụng cho các đối tượng THCS, THPT,
số đề tài áp dụng cho đối tượng trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học còn rất ít.
1.2. Thực trạng việc học, tự học của học sinh, sinh viên ở các trường chuyên nghiệp
1.2.1. Thực trạng việc học của HS, SV ở các trường chuyên nghiệp
1.2.1.1. Hoạt động học
Học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh nghiệm
từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc
tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong
tình huống nào thì trong bản thân sự học cũng hàm chứa sự tự học.
1.2.1.2. Thực trạng việc học của HS, SV ở các trường chuyên nghiệp
Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ năm 2006 có phần
nhận xét về phương pháp dạy và học ở các trường cao đẳng, đại học của Việt Nam như sau:
4

- Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình
và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực, kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và
giảng viên trong và ngoài lớp học.
- Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnh
vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu
quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu.
- Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại những
thông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi).
- Sinh viên là những “thợ chép”: Thầy nói gì, viết gì trên bảng thì cứ việc cặm cụi
chép bằng hết vào cuốn vở trở thành cẩm nang duy nhất cho thi cử và thậm chí cả cho
việc hành nghề sau này. Dĩ nhiên học thụ động sẽ sản sinh ra những nhà “trí thức” thụ
động, chỉ đâu đánh đấy cũng chưa xong chứ nói gì đến nghiên cứu, sáng tạo.
Tình hình yếu kém nói trên của giáo dục đại học, cao đẳng vẫn tồn tại cho đến
ngày nay. [14]
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân như thiếu trang thiết bị học tập, thương mại
hóa giáo dục, phương pháp giảng dạy của giảng viên, chú trọng lý thuyết nhiều hơn thực
tiễn,… Tuy nhiên một nguyên nhân rất quan trọng nhưng lại ít được nhắc đến đó là thái
độ của HS, SV trong việc học của mình.
Theo số liệu khảo sát của báo Tuổi trẻ thì chỉ 30% trong số những sinh viên được
hỏi có thái độ tích cực trong học tập, trong khi có đến 60% chọn giải pháp học đối phó.
Có nhiều lí do dẫn đến tình trạng trên:
Một là: HS, SV vội vàng tự mãn xem môi trường chuyên nghiệp là nơi xả hơi, nghỉ
ngơi, thư giãn sau 12 năm học vất vả bậc phổ thông.
Hai là: Do định hướng nghề nghiệp chưa tốt. Bản thân HS chưa hoặc không nhận
thức được đi học chuyên nghiệp để làm gì? Chuyên ngành mình chọn có phù hợp với mục
tiêu, sở thích, tính cách năng lực của bản thân hay không? Đa số HS lựa chọn ngành học
là theo ý muốn của gia đình, nhu cầu của xã hội, xu hướng cùng bạn bè,… Vì thế trong
quá trình học họ chưa thực sự yêu thích môi trường, ngành nghề, từ đó không có ý thức
vươn lên trong học tập và rèn luyện.
5