Tải bản đầy đủ
các chính sách bảo hộ và mở cửa, tình hình chiến tranh, sự bất ổn chính trị, tình hình kinh tế,... toàn cầu và khu vực ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như sự lựa chọn yếu tố đầu vào của DN. Do vậy, nó ảnh hưởng

các chính sách bảo hộ và mở cửa, tình hình chiến tranh, sự bất ổn chính trị, tình hình kinh tế,... toàn cầu và khu vực ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như sự lựa chọn yếu tố đầu vào của DN. Do vậy, nó ảnh hưởng

Tải bản đầy đủ

tạo rào cản cản trở sự ra nhập mới bằng cách khai thác các lợi thế riêng và định
giá phù hợp, mở rộng thị trường.
- Yếu tố nhà cung cấp: Các nguồn lực đầu vào của một DN được cung cấp
chủ yếu từ các DN khác, các đơn vị kinh doanh và các cá nhân. Việc đảm bảo
chất lượng, số lượng cũng như giá cả các yếu tố đầu vào của DN phụ thuộc vào
tính chất của các yếu tố đó, phụ thuộc vào hành vi và tính chất của người cung
ứng. Vì vậy, phải tránh độc quyền của nhà cung cấp, giảm chi phí đầu vào, tăng
hiệu quả SXKD.
- Khách hàng: Là nguyên nhân tồn tại của DN vì khách hàng, thị trường là
yếu tố quyết định đến cầu - căn cứ quan trong để SXKD. Nếu không có khách
hàng thì DN không thể SXKD được chứ chưa xem xét đến hiệu quả.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
1.2.1. Cơ sở chính trị
Công ty công nghiệp Hóa chất mỏ Tây Bắc là đơn vị trực thuộc Tổng công
ty công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin là đơn vị 100% vốn Nhà nước. Tổng
công ty là một trong hai đầu mối được Nhà nước cho phép cung ứng VLNCN
phục vụ nền kinh tế quốc dân, là một đơn vị có bề dày truyền thống trong quá
trình xây dựng và phát triển ngành VLNCN. Trong nhiều năm qua Tổng công ty
là đơn vị luôn chủ động, sáng tạo và thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất và cung
ứng VLNCN, loại hàng hóa đặc biệt, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều
kiện theo đúng quy định của Nhà nước.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
- Nghị định Số 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2009
của Chính phủ quy định về vật liệu nổ công nghiệp.
- Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2012 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
- Quyết định số 03/2012/QĐ-UBND ngày 04 tháng 02 năm 2012 của
UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về quản lý vật liệu nổ công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Lào Cai.

16

- Quyết định số 1834/QĐ - TTg ngày 28/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt quy hoạch phát triển ngành VLNCN Việt Nam đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030. Trong đó nhấn mạnh: Xây dựng, phát triển ngành Vật liệu
nổ công nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững, trở thành một ngành công
nghiệp tiên tiến, thân thiện với môi trường, có cơ cấu sản phẩm hoàn chỉnh đáp
ứng được nhu cầu trong nước và hướng đến xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế
cạnh tranh.
- Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chiến lược phát triển khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 nhấn mạnh:“Khai thác khoáng sản phải gắn với chế biến, tạo sản phẩm có
giá trị kinh tế cao. Đến năm 2020 chấm dứt các cơ sở chế biến khoáng sản
manh mún, công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, gây ô nhiễm môi trường;
hình thành các khu công nghiệp chế biến khoáng sản tập trung với công nghệ
tiên tiến, có quy mô tương xứng với tiềm năng của từng loại khoáng sản”.
- Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2035, cụ thể là: Tập trung vào 10 ngành công
nghiệp chủ yếu như: ngành cơ khí - luyện kim; ngành hóa chất; ngành điện tử,
công nghệ thông tin; ngành dệt may - da giày; ngành chế biến nông lâm thủy
sản, thực phẩm; ngành sản xuất vật liệu xây dựng; ngành khai thác và chế biến
khoáng sản; ngành điện; ngành than; ngành dầu khí.
- Quyết định số 1843/QĐ-HĐTV ngày 09/7/2012 của Hội đồng thành viên
Tổng công ty công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin về việc phê duyệt Điều lệ
tổ chức và hoạt động của Công ty công nghiệp Hóa chất mỏ Tây Bắc.
- Quyết định số 1854/ QĐ-HĐTV ngày 10/07/2012 của Hội đồng thành
viên Tổng công ty công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin về việc phân cấp quản
lý giữa Tổng công ty công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin và Công ty công
nghiệp Hóa chất mỏ Tây Bắc.

17

1.3 Cơ sở thực tiễn
Năm 2015, đánh dấu mốc quan trọng đối với các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) khi chuyển đổi mô hình hoạt động thành Công ty Cổ phần trong đó có
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và các Công ty con, trực
thuộc. Điều đó làm tăng sự tự chủ về tài chính của DN, đồng thời cũng sẽ tạo ra
áp lực rất lớn đối với các DN hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó, theo xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế, thuế phí của hàng hóa nhập khẩu vào thị trường
trong nước trong giai đoạn 2015 - 2020 sẽ dần về 0% tạo ra một thị trường sản
phẩm đa dạng có tính cạnh tranh cao.
Từ đầu năm 2016, nhu cầu sử dụng VLNCN phục vụ nổ mìn khai thác
khoáng sản và các công trình giao thông, thủy điện, xây dựng trên địa bàn các
tỉnh Tây Bắc giảm mạnh, ngoài ra các khoản thuế, phí, lệ phí tại các địa phương
đều điều chỉnh tăng làm tăng chi phí giá thành gây ảnh hưởng lớn đến doanh thu
và lợi nhuận của Công ty. Đứng trước các thách thức trên việc nâng cao hiệu quả
SXKD là một trong các nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu của DN, mang
tính chất sống còn giúp cho DN đứng vững và phát triển được trên thị trường.
Hiện nay, đối với nhiệm vụ sản xuất, cung ứng và sử dụng VLNCN tại Việt
Nam có hai đơn vị được phép thực hiện là Tổng công ty công nghiệp Hóa chất
mỏ Vinacomin và Tổng công ty vật tư công nghiệp quốc phòng. Trong quá trình
phát triển KT - XH của đất nước, nhu cầu sử dụng VLNCN phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày một gia tăng, trong đó ngành khai
thác mỏ đóng vai trò chủ đạo. Là một đơn vị chuyên sản xuất, cung ứng và sử
dụng VLNCN, Công ty công nghiệp Hóa chất mỏ Tây Bắc, Tổng công ty công
nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin đã nhận thức rõ được nhu cầu của thị trường
và đang vươn lên phát triển khẳng định rõ vai trò của một trong những ngành
công nghiệp mũi nhọn. Với việc nâng cao hiệu quả SXKD, Công ty công nghiệp
Hóa chất mỏ Tây Bắc sẽ đạt được mục tiêu chiếm lĩnh thị phần VLNCN tại các
tỉnh Tây Bắc, xây dựng và củng cố thương hiệu Việt trên thị trường đồng thời
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - chính trị - xã hội tại địa phương.
2. Nội dung thực hiện của đề án
18

2.1 Bối cảnh thực hiện đề án
2.1.1 Một số nét khái quát về điều kiện tự nhiên, KT-XH của tỉnh Lào Cai
2.1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
* Vị trí địa lý: Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Việt Nam,
cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 275 km theo đường bộ. Tỉnh có 203,5
km đường biên giới với tỉnh Vân Nam- Trung Quốc, trong đó 144,3 km là sông
suối và 59,2 km là đất liền. Phía Bắc tỉnh Lào Cai giáp tỉnh Vân Nam - Trung
Quốc; phía Nam giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang; phía Tây
giáp tỉnh Lai Châu.
* Đặc điểm địa hình: Địa hình tỉnh Lào Cai đặc trưng là núi cao xen kẽ với
đồi núi thấp, bị chia cắt lớn, với phần thung lũng dọc sông Hồng và các tuyến
đường bộ, đường sắt chạy qua vùng trung tâm của tỉnh. Các huyện miền núi nằm
bao quanh hành lang trung tâm này từ Đông - Bắc sang Tây - Nam, gồm nhiều
dãy núi và thung lũng nhỏ biệt lập, nơi có các cộng đồng dân cư sinh sống.
Những vùng có độ dốc trên 250 chiếm tới 80% diện tích đất đai của tỉnh. Địa
hình tự nhiên của tỉnh có độ cao thay đổi từ 80m trên mực nước biển lên tới
3.143 m trên mực nước biển tại đỉnh Phan Si Păng, đỉnh núi cao nhất Việt Nam.
Địa hình vùng núi với các tác động tiểu khí hậu của Lào Cai đã giúp tạo nên một
môi trường thiên nhiên rất đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
trên địa bàn.
2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất: Lào Cai có diện tích tự nhiên rộng 805.708,5 ha, độ phì
nhiêu cao, rất màu mỡ, đa dạng bao gồm 10 nhóm đất với 30 loại đất chính, phù
hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau. Trong đó, đất nông nghiệp có 76.203 ha,
đất lâm nghiệp 178.192 ha, đất chưa sử dụng còn khoảng 393.500 ha.
* Tài nguyên khoáng sản: Lào Cai là một trong những tỉnh giàu tài nguyên
khoáng sản nhất Việt Nam với 35 loại khoáng sản khác nhau và trên 150 điểm
mỏ, trong đó có nhiều loại khoáng sản như apatít, đồng, sắt, graphít, nguyên liệu
cho gốm, sứ, thuỷ tinh,.v.v.. với trữ lượng lớn nhất cả nước. Đặc biệt, Lào Cai có
một số mỏ có trữ lượng lớn dễ khai thác, dễ vận chuyển và đang có thị trường
19