Tải bản đầy đủ
3 THỰC TRẠNG TÀI KHOẢN VÃNG LAI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 - 2010

3 THỰC TRẠNG TÀI KHOẢN VÃNG LAI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 - 2010

Tải bản đầy đủ

49

quân mỗi năm Việt Nam sẽ phải đi vay nước ngoài một khoản vay tương ứng
khoảng từ 4% - 7% GDP. Do vậy, thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam trong
một thời gian dài là sự thiếu hụt giữa tiết kiệm và đầu tư. Đây cũng là một nguyên
nhân chính khiến nợ công của Việt Nam đang ở mức cao so với nhiều nước trong
khu vực.
Hình 3.3: Thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam (1990 – 2010)
(tỷ lệ phần trăm thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP)

14.0%
12.0%
10.0%

% thâm hụt TKVL so với GDP

8.0%
6.0%
4.0%

Thâm hụt TK
vãng lai (% so
với GDP)

2.0%
0.0%
-2.0%
-4.0%
-6.0%
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

2010

Năm

Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Hiện trạng cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu bao gồm cán cân thương
mại hàng hóa và cán cân chuyển khoản, còn cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập
tương đối nhỏ. Xét về nội dung cấu thành trong cán cân tài khoản vãng lai, thâm
hụt tài khoản vãng lai Việt Nam trong những năm qua chủ yếu là do thâm hụt cán
cân thương mại hàng hóa. Điều này xảy ra là do nhu cầu nhập khẩu các máy móc
thiết bị, nhu cầu nhập khẩu cho mục tiêu đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng tăng,
năng lực sản xuất hàng hóa dịch vụ xuất khẩu bị hạn chế.

50

Hình 3.4: Cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và các cấu thành
giai đoạn 1990 – 2010
10,000

Triệu USD

5,000

0
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

2010

-5,000

-10,000

Năm

-15,000

-20,000
Cán cân thương mại hàng hóa
Cán cân chuyển giao vãng lai
Cán cân tài khoản vãng lai

Cán cân dịch vụ
Cán cân thu nhập

Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Biểu đồ (Hình 3.4) cho thấy tỷ trọng đóng góp từ cán cân chuyển giao vãng
lai của Việt Nam không lớn. Tuy nhiên mức độ thặng dư của cán cân này có xu
hướng tăng dần trong những năm trở lại đây thặng dư trung bình hằng năm từ năm
2006 – 2010 ớ mức 6,6 tỷ USD/năm, với tỷ trọng đóng góp chủ yếu là kiều hối từ
nước ngoài chuyển về của khu vực tư nhân và nguồn vốn hỗ trợ chính thức ODA và
FDI. Tỷ trọng vốn vay ODA kuôn chiếm tỷ trọng từ 70 – 75% trong tổng nợ nước
ngoài của Chính phủ Việt nam. Trong khi đó, cán cân thương mại, cán cân dịch vụ,

51

và cả cán cân thu nhập đầu tư ròng trong thời gian qua đều có tác động tiêu cực đến
cán cân vãng lai: cán cân dịch vụ thường xuyên thiếu hụt 500 - 800 triệu USD trong
giai đoạn 2000 – nay. Cán cân thu nhập âm từ mức trung bình 300 - 500 triệu USD
từ năm 1990 - 2000, và tăng lên mức 2.345 triệu USD vào năm 1999 với biến động
trung bình âm ở mức 500 triệu USD/năm từ 2000 – 2005. Từ 2006 – nay, cán cân
này có xu hướng tăng liên tục và đạt mức thâm hụt trung bình khoảng 1.200 triệu
USD. Tuy nhiên, mức độ tác động đến thâm hụt cán cân vãng lai của 2 nhân tố này
có xu hướng giảm từ 70% trong những năm 1995 - 2000 xuống còn 42% trong
những năm gần đây (2006 – 2010). Trong khi đó, thâm hụt thương mại ngày càng
có xu hướng tăng. Trong giai đoạn 1995 - 2006, thâm hụt thương mại bình quân
khoảng 4,5% GDP, nhưng con số này đã lên đến 14,3% GDP trong những năm
2007 - 2010. Thực tế cho thấy, cán cân vãng lai của Việt Nam trong thời gian qua
chịu tác động chủ yếu từ tình trạng cán cân thương mại. Các giao dịch về hàng hóa
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu và chi của tài khoản vãng lai (chiếm khoảng 70%
- 85%). Vai trò cơ bản của thâm hụt thương mại trong thâm hụt cán cân vãng lai là
một điểm yếu chủ chốt trong khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai và là
một trong những mầm móng đe dọa đến khả năng chịu đựng này.
Liệu rằng hiện tượng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam
trong những năm qua phải chăng là do sự sụt giảm trong tiết kiệm tư nhân, gia tăng
trong đầu tư và hay hoặc có sự thâm hụt trong ngân sách.
Nhìn vào biểu đồ (Hình 3.5) ta thấy trong những năm 1990 – 1992, cán cân
tài khoản vãng lai nhỏ. Các giao dịch trên tài khoản vãng lai bị thu hẹp do tình hình
các nước Đông Âu bị sụp đổ, cán cân tài khoản vãng lai chuyển dần từ thâm hụt
sang cân bằng vào năm 1992. Trong khi đó thâm hụt ngân sách cũng có dấu hiệu
giảm nhưng với tốc độ chậm hơn so tốc độ giảm của thâm hụt tài khoản vãng lai.
Sở dĩ có hiện này này là do trong những năm 1990 – 1992, chính phủ đã thực thi
chính sách tài khóa thặt chặt để kiểm soát lạm phát phi mã vào những năm từ 1986
– 1898, đồng thời chính phủ có những động thái kiểm soát chặt chẽ về quản lý các
khoản giao dịch vãng lai một chiều, kiểm soát đầu tư do vậy tỷ lệ đầu tư giảm và

52

kim ngạch xuất nhập khẩu ròng được cải thiện. Nhờ đó tình hình nền kinh tế ổn
định, khắc phục được khủng hoảng và lạm phát đã được kiểm soát ở mức 2 con số
(tỷ lệ lạm phát từ 1986 – 1989 ở mức giá tăng 3 chữ số).
Hình 3.5: Thâm hụt tài khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách,
đầu tư khu vực tư nhân Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010

25%

Thâm hụt ngân sách (% so với GDP)
20%

Thâm hụt TK vãng lai (% so với GDP)
Đầu tư tư nhân/GDP (% so với GDP)

% so với GDP

15%

10%

5%

0%
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

2010

-5%
Năm
-10%

Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Từ năm 1993 – 1997, hiện tượng thâm hụt tài khoản vãng lai xuất hiện liên
tục và đạt mức khá cao – đáng báo động. Sau năm 1993, Việt Nam bắt đầu tìm
kiếm các nguồn tài trợ từ nhiều nước và cán cân vãng lai bắt đầu thâm hụt trở lại
với mức độ ngày càng lớn cho đến năm 1996, mức thâm hụt lên tới 9,9% so với
GDP. Trong giai đoạn 1993 – 1997, mức thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP
trung bình hàng năm ở mức 9%/năm. Trong giai đoạn này một mặt chính phủ tiếp
tục kiểm soát các khoản chi bao cấp, một mặt chính phủ thực thi tăng chi ngân sách

53

thông qua cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khoảng 63% tổng chi ngân sách
nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chuẩn trang thiết bị đổi
mới công nghệ cho công cuộc hiện đại hóa nền kinh tế. Do vậy nhu cầu nhập khẩu
tăng cao, mức tăng trưởng nhập khẩu khá lớn, chủ yếu là nhập thiết bị và nguyên
vật liệu cho quá trình sản xuất. Cán cân thương mại trong giai đoạn này tăng đột
biến với mức thâm hụt trung bình trên 2 tỷ USD/năm. Tỷ lệ đầu tư trên GDP giai
đoạn này đạt mức 30%/năm. Giai đoạn này mức tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân đạt 8,8%/năm, lạm phát đã được kiểm soát tỷ lệ lạm
phát giảm còn 8,32%/năm, đặc biệt vào năm 1997, tỷ lệ lạm phát ở mức 5,8%.
(Xem bảng 3.5)
Từ năm 1998 – 2001, Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ Châu Á năm 1997 – 1998. Xuất nhập khẩu với các nước đều có xu
hướng giảm, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt cũng giảm rõ rệt. Dòng vốn
đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam, số lượng và mức giải ngân các dự án FDI
mới giảm mạnh kéo theo tình hình nhập khẩu máy móc thiết bị thuộc khối FDI
cũng giảm theo. Hơn nữa, trong giai đoạn này, chính phủ thực hiện nhiều biện pháp
để thúc đẩy kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, kiểm soát nhập khẩu đặc biệt là hạn
chế nhập khẩu hàng tiêu dùng, kích thích xuất khẩu. Do vậy, sau một thời gian dài
ở trong tình trạng thâm hụt, tài khoản vãng lai đã được cải thiện đáng kể. Vào
những năm 1999 – 2001, cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam đã có thặng dư
tuy rất nhỏ chỉ khoảng độ 2% đến 4%. Tuy vậy tình hình kinh tế Việt Nam có dấu
hiệu suy giảm tốc độ tăng GDP bình quân chỉ đạt 6%/năm trong giai đoạn từ 1998
– 2001. Lạm phát đã được kiểm soát một cách tốt nhất, mức lạm phát trung bình
6,3%. (Xem bảng 3.6)
Trong thời kỳ 2002 – 2004, thâm hụt ngân sách chính phủ có xu hướng tăng
kể từ năm 2000, và tốc độ tăng cung VND ở mức cao. Tài khoản vãng lai của Việt
Nam lại tiếp tục bị thâm hụt, có lúc lên tới 4.9% GDP (năm 2003), trong khi đó ở
các nước đang phát triển nói chung khác là thặng dư liên tục từ năm 2000. Nói cách
khác, tăng trưởng xuất khẩu không đủ bù đắp được sự tăng mạnh mẽ của nhập khẩu

54

ở Việt Nam trong mấy năm qua. Điều này là do tiền VND đã bị lên giá ở mức nhẹ
trong thời kỳ 2002-2004, trong khi đồng bản tệ của đa phần các nước đang phát
triển bị phá giá, ở các cấp độ khác nhau. Hơn nữa trong giai đoạn này nhu cầu đầu
tư toàn xã hội có xu hướng tăng đạt mức trung bình 35%/năm so với GDP, trong
khi đó tỷ lệ tiết kiệm so với GDP có phần giảm hơn so với những năm trước. Mức
chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư ở âm 3,7%/năm, đây cũng chính là nguyên nhân
dẫn đến tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai xấu hơn giai đoạn trước. Với chính
sách tài khóa mở rộng, các mức thuế suất thuế GTGT được điều chỉnh giảm, thực
hiện mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi hay miễn giảm thuế nhằm khuyến
khích đầu tư, cắt giảm thuế nhập khẩu trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN với
95% tổng số các mặt hàng đã được cắt giảm thuế với mức thuế suất tối đa không
quá 20% đối với hàng hoá nhập khẩu từ ASEAN. Trong giai đoạn này thâm hụt
ngân sách có tăng hơn so với giai đoạn trước tuy không nhiều là nhờ vào các biện
pháp đồng bộ trong việc kê khai và nộp thuế một cách minh bạch và rõ ràng. Tuy
nhiên với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh
đặc biệt là kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị cho sản xuất tăng ở mức
20%/năm nên thâm hụt tài khoản vãng lai có xu hướng tăng nhanh hơn so với thâm
hụt ngân sách. Tuy vậy tốc độ tăng GDP hàng năm cao hơn so với giai đoạn trước
đạt mức trung bình 7,4%/năm mặc dù tỷ lệ lạm phát có dấu hiệu tăng ở mức trung
bình 7,5% nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Trong những năm từ 2005 – nay, nền kinh tế Việt Nam được mở rộng và
hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, nhu cầu nhập khẩu tăng nhanh hơn vốn
và hàng hoá trung gian. Kim ngach nhập khẩu tăng từ 36,76 tỷ USD (năm 2005) lên
84 tỷ USD (năm 2010) trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,45 tỷ USD (năm
2005) và 71,6 tỷ USD (năm 2010), đã dẫn đến thâm hụt thương mại liên tục gia
tăng thâm hụt cán cân vãng lai tăng đột biến, đạt mức kỉ lục là 11,92% so với GDP
vào năm 2008. Bên cạnh đó do cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu từ năm
2007, luồng vốn vào Việt Nam đã giảm mạnh, thoái đầu tư và rút vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài diễn ra ở mức nhất định, tạo ra hiện tượng thâm hụt kép trên cả tài

55

khoản vãng lai và tài khoản tài chính. Hơn thế nữa nhu cầu đầu tư trong giai đoạn
hội nhập tăng cao với tỷ lệ đầu tư so với GDP trung bình giai đoạn này ở mức
40%/năm và chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư vẫn còn thiếu hụt ở mức âm
9,4%/năm. Nhu cầu nhập khẩu để chế biến hàng xuất khẩu (gồm cả máy móc thiết
bị và nguyên nhiên vật liệu), phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, nhu cầu nhập khẩu
hàng tiêu dùng kể cả hàng tiêu dùng xa xỉ (một bộ phận dân cư cải thiện được thu
nhập) … trong những năm qua tăng nhanh đáng kể. Tỷ trọng nhập khẩu của nhóm
hàng máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn từ 70% - 80%
trong tổng kim ngạch nhập khẩu và có xu hướng tăng do nhu cầu thúc đẩy xuất
khẩu cũng như nhu cầu đáp ứng sản xuất – kinh doanh trong nước. Do vậy mức
thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn này
tăng đạt mức khoảng 6,29%/năm. Đây là mức thâm hụt cao nhất trong hơn 10 năm
trở lại đây, được coi là đáng báo động vì theo chuẩn mực quốc tế (khả năng chịu
đựng của cán cân vãng lai nằm trong khoảng 5% GDP). Tương tự, cán cân thương
mại Việt Nam trong thời gian qua cũng ở mức 14-15% so với GDP trong khi mức
chuẩn mực quốc tế là 10%. Thâm hụt lớn về thương mại và cán cân vãng lai trong
những năm gần đây chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng bền vững của nền kinh
tế, đặc biệt sẽ tạo nên áp lực giảm giá đồng nội tệ.
Nhìn chung, tình trạng thâm hụt của cán cân vãng lai của Việt Nam trong
nhiều năm qua chủ yếu bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại. Nguyên nhân
sâu xa của thực trạng thâm hụt ở cán cân thương mại trong thời gian qua tại Việt
Nam là do năng lực sản xuất hàng xuất khẩu Việt Nam còn quá thấp so với khu
vực, trong khi đó nhu cầu nhập khẩu để chế biến xuất khẩu với giá trị gia tăng thấp,
nhu cầu nhập khẩu cho xây dựng cơ sở hạ tầng (tăng theo FDI) làm cho tăng trưởng
nhập khẩu Việt Nam luôn vượt quá tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Trong thời gian
tới kim ngạch nhập khẩu sẽ có xu hướng tăng nhanh hơn khả năng xuất khẩu nếu
năng lực sản xuất của Việt Nam không được cải thiện theo hướng chú trọng vào giá
trị tăng thêm khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong WTO về việc cắt
giảm thuế nhập khẩu trung bình từ 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5 – 7 năm

56

kể từ ngày gia nhập. Đồng thời, theo các chuyên gia kinh tế, nguồn gốc sâu xa của
tình trạng trên đó chính là năng lực xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam chưa thực sự
tham gia vào chuỗi cung ứng của khu vực cũng như trên thế giới. Giá trị gia tăng
trong nhóm hàng xuất khẩu thấp và chỉ tập trung vào một số mặt hàng chủ lực
chính nên rất dễ bị tổn thương khi có các cú “shock” từ bên ngoài. Hơn thế nữa nhu
cầu đầu tư nhắm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng trong điều kiện tỷ lệ tiết kiệm của
nền kinh tế còn thấp cũng là một nhân tố quan trọng làm thâm hụt cán cân tài khoản
vãng lai trong thời gian qua ở Việt Nam.
Bắt nguồn sâu xa từ những nguyên nhân kể trên là do chính sách điều hành
của chính phủ. Chính sách tài khóa cũng sẽ tác động đến thâm hụt tài khoản vãng
lai. Tùy theo mục tiêu tăng trưởng hay yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, chính phủ sẽ
có những biện pháp thích hợp như mở rộng hay thắt chặt chính sách tài khóa làm
ảnh hưởng đến nhu cầu nhập khẩu và xuất khẩu, đồng thời cũng ảnh hưởng đến nhu
cầu đầu tư hay tiết kiệm của nền kinh tế và như thế sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến diễn
biến của cán cân tài khoản vãng lai.
3.4. Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa chính sách tài khóa đến tài
khoản vãng lai của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010
Để củng cố mối quan hệ giữa cán cân tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách
xét về mặt phân tích định tính đã nêu như trên, chúng tôi tiến hành phân tích định
lượng bằng khảo sát thực nghiệm mối quan hệ giữa chính sách tài khóa đến tài
khoản vãng lai của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010
3.4.1. Cơ sở lý thuyết
Từ những lý thuyết kinh tế đến thực tiễn nghiên cứu cụ thể đã được cống bố,
cùng với thực trạng diễn biến của chính sách tài khóa và cán cán tài khoản vãng lai
Việt Nam từ năm 1990 đến nay, rõ ràng chính sách tài khóa của một quốc gia có tác
động nhất định đến tình trạng cân bằng của cán cân tài khoản vãng lai. Tuy nhiên
chính sách tài khóa không phải là một biến số kinh tế duy nhất tác động đến tài

57

khoản vãng lai mà thực tiễn tài khoản vãng lai chịu ảnh hưởng của các biến số kinh
tế khác nữa.
Theo quan điểm của phương pháp tiếp cận các nhân tố ngắn hạn tác động
đến tài khoản vãng lai xuất hiện từ những năm 1980, Feldstein( (1992, 1994) sử
dụng đồng nhất thức kinh tế vĩ mô với quan điểm thu nhập quốc dân được sử dụng
cho mục đích đầu tư và tiết kiệm, vậy cán tài khoản vãng lai là hiệu số giữa tiết
kiệm và đầu tư. Điều này có nghĩa rằng bất cứ một sự sụt giảm nào trong tổng tiết
kiệm quốc gia sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong tổng đầu tư quốc gia và xuất khẩu ròng.
Trong khi đó tổng tiết kiệm quốc gia luôn bằng hiệu số giữa tiết kiệm khu vực tư
nhân và thâm hụt ngân sách nên bất cứ môt sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách
dẫn đến sự sụt giảm trong tổng tiết kiệm quốc gia nếu không có sự bù đắp bằng gia
tăng trong tiết kiệm khu vực tư nhân. Do đó bất cứ một sự gia tăng nào trong thâm
hụt ngân sách mà không được bù đắp bằng mức tiết kiệm khu vực tư nhân cao hơn
thì hoặc đầu tư khu vực tư nhân hoặc hay và xuất khẩu ròng sẽ sụt giảm. Sự sụt
giảm trong tiết kiệm thường được bù đắp bởi vay từ nước ngoài hoặc từ các dòng
vốn từ nước ngoài đưa vào nền kinh tế.
Feldstein và Horioka (1980) đã xem xét liệu rằng trong điều kiện vốn được
luân chuyển hoàn hảo thì đối với quốc gia có nền kinh tế nhỏ, mở thì nguồn vốn từ
bên ngoài tài trợ cho nhu cầu đầu tư trong nước có co giãn hoàn toàn theo tỷ suất
lợi nhuận của thị trường quốc tế. Nếu điều này xãy ra thì bất cứ sự thay đổi nào
trong tiết kiệm trong nước cũng sẽ không ảnh hưởng đến đầu tư. Điều này có nghĩa
rằng mối quan hệ tương quan của nhân tố tỷ lệ đầu tư trên GDP đến tỷ lệ tiết kiệm
trên GDP là không đáng kể. Tuy nhiên, khi Feldstein và Horika tiến hành nghiên
cứu thực nghiệm về vấn đền này với số liệu của 16 quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế với số liệu thu thập từ năm 1960 - 1974 bằng mô hình hồi quy
với mẫu dữ liệu chéo để ước lượng mức độ dao động trong ngắn hạn có dẫn đến
những tác động trong dài hạn hay không thì kết quả nhận được là bác bỏ giả thuyết
này. Do vậy rõ ràng rằng tỷ lệ tiết kiệm trên GDP có tác động nhất định đến tỷ lệ
đầu tư theo lý thuyết này. Với các nước thuộc OECD có nền kinh tế mở lớn qua