Tải bản đầy đủ
2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

Tải bản đầy đủ

44

hướng thị trường hơn. Qua mười lăm năm đổi mới, chính sách tài khóa của Việt
Nam mang những dấu hiệu riêng phản ánh nhu cầu kinh tế xã hội của từng giai
đoạn. Chính sách tài chính, vì thế vừa là động lực vừa là sản phẩm của hoạt động
kinh tế xã hội.
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới (1987 – 1990), nhằm ổn định tình
hình kinh tế xã hội, chính sách tài khóa mở rộng được thực thi, đẩy mạnh tiêu dùng
kích thích cung cầu của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách trong giai đoạn này còn
khá cao. Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm trong giai đoạn này ở mức 7,3%
so với GDP
Bảng 3.4: Thâm hụt ngân sách nhà nước năm 1987 - 1990
Chỉ tiêu
Thâm hụt ngân sách
Tỷ lệ so với GDP

Đơn vị

1987

1988

1989

1990

Tỷ đồng

130,4

1.072

1.081

3.033

4,9

8,1

8,1

7,9

%

Nguồn: Bộ Tài chính
Ở giai đoạn sau (1991 – 1997), tình hình Việt Nam đã có nhiều chuyển biến
tích cực, sản xuất và lưu thông hàng hoá đã có động lực mới, tình trạng thiếu lương
thực đã được giải quyết căn bản, lạm phát siêu mã đã được đẩy lùi, tuy nhiên lạm
phát cao vẫn còn. Cơ cấu chi NSNN đã dần dần thay đổi theo hướng tích cực.
Nguồn thu trong nước đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào
phát hành tiền cho chi thường xuyên đã chấm dứt. Hệ thống thuế của Việt Nam đã
bắt đầu cải cách, đổi mới tương đối đồng bộ, cơ cấu tương đối hợp lý, bước đầu đã
phát huy được nhiều tác dụng tích cực như đảm bảo ổn định và phát triển nguồn thu
ngân sách Nhà nước, đảm bảo sự bình đẳng của các thành phần kinh tế tham gia
đóng thuế. Trong giai đoạn này, chính phủ đã thực thi chính sách tài khóa thắt chặt
– lượng thu mà chi – khống chế bội chi ở mức thấp nhất để kiểm soát lạm phát.
Thâm hụt ngân sách giảm đáng kể là do kết quả của những biện pháp cứng rắn như
cắt giảm chi tiêu chính phủ, chi đúng đối tượng có hiệu quả, xóa bỏ dần các loại trợ

45

cấp qua giá, lương, trợ cấp cho xí nghiệp quốc doanh. Nhờ đó, tình hình tài chính
và kinh tế vĩ mô đã được duy trì ổn định; tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao, lạm phát
được đẩy lùi từ lạm phát phi mã với mức tăng giá 3 chỉ sô của những năm 1986 –
1989, tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn này được khống chế ở mức trung bình 8,4%.
Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm từ 1991 đến 1997 ở mức 3,7% so với
GDP.
Bảng 3.5: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng GDP
và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1991 - 1997
Năm

Đơn
vị

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

Tỷ lệ thâm hụt
ngân sách so
với GDP

%

2,50

3,80

4,30

4,70

4,10

3,00

4,00

Tỷ lệ tăng GDP %

5,80

8,70

8,10

8,80

9,50

9,30

8,20

6,00

8,70

8,10

8,80

9,60

9,30

5,80

Tỷ lệ lạm phát

%

Nguồn: Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê
Tuy nhiên những năm cuối thập kỷ, bối cảnh kinh tế xã hội thay đổi do ảnh
hưởng tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực, nền kinh tế Việt Nam
gặp không ít khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm (giảm dần từ năm 1996, đến
năm 2000 nền kinh tế mới có dấu hiệu tăng), chính sách tài chính thắt chặt đã tỏ ra
không phù hợp và có dấu hiệu kìm hãm sự phát triển. Để chặn đà giảm sút của tốc
độ tăng trưởng, hạn chế sự suy giảm của qui mô và tốc độ đầu tư, tiêu dùng, chính
sách tài khóa giai đoạn 1998 – 2001 đã được điều chỉnh theo hướng chuyển từ thắt
chặt sang nới lỏng – đẩy mạnh các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng – bằng
các biện pháp tăng tỷ lệ và mức chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, tăng
mức bội chi, tăng lương tối thiểu. Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm ở giai
đoạn này (từ 1997 đến 2001) ở mức 4,5% so với GDP
Bảng 3.6: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng GDP

46

và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1998 – 2001
Năm

Đơn vị

1998

1999

2000

2001

Tỷ lệ thâm hụt ngân
sách so với GDP

%

3,80

4,90

4,98

4,67

Tỷ lệ tăng GDP

%

5,80

4,80

6,80

6,90

Tỷ lệ lạm phát

%

4,80

6,80

6,80

7,00

Nguồn: Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê
Giai đoạn từ 2002 - 2007, Chính phủ đang thực thi chính sách tài khóa với
quan điểm thúc đẩy sự hình thành và phát triển đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, nâng
cao tiềm lực tài chính quốc gia, chính sách tài chính gắn liền với hội nhập kinh tế,
tài chính quốc tế. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi
bình quân hằng năm đạt 18,5%. Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm ở giai
đoạn này (từ 2002 đến 2007) ở mức 4,9% so với GDP
Trong năm 2008 với tình hình lạm phát có xu hướng tăng cao liên tục, chính
phủ đã thực thi một loạt các gói chính sách từ tiền tệ đến tài chính với mục tiêu kìm
hãm và giảm lạm phát. Chính sách tài khóa được điều hành theo hướng thắt chặt chi
tiêu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư công và
đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước; giảm mạnh chi phí hành chính trong các cơ
quan nhà nước, đi đôi với triển khai thực hiện tốt chính sách tiền lương, chính sách
đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu... bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, hỗ trợ, thúc đẩy
lẫn nhau để đạt hiệu quả cao. Thâm hụt ngân sách năm 2008 ở mức khoảng 4,5% so
với GDP.
Vừa trải qua nhiệm vụ chống lạm phát trong năm 2008, sang năm 2009, nền
kinh tế Việt Nam lại phải đối mặt với những khó khăn do suy giảm từ kinh tế toàn
cầu vào cuối năm 2008 - đầu năm 2009, cộng với những diễn biến phức tạp của
thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh …, chính phủ đã áp dụng chính sách tài khóa mở rộng
để kích cầu. Chính sách tài khóa - tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác được thực

47

hiện một cách linh hoạt và đồng bộ. Năm 2009, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà
nước đạt mức kỷ lục - 161 nghìn tỷ đồng và có xu hướng giảm trong năm 2010 đạt 141,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư cả nước.
Trước tình hình kinh tế gặp nhiều bất lợi, chính phủ đã sử dụng nhiều biện
pháp nhằm kích thích kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân. Tháng 11/2008, “năm
nhóm giải pháp” nhằm hỗ trợ hoạt động kinh tế được công bố. Gói kích thích kinh
tế bao gồm miễn, giảm và hoãn nộp các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đã được thực hiện. Tổng số thuế miễn,
giảm, giãn trong năm 2009 ước tính đạt khoảng 20.000 tỷ đồng. Gói kích cầu này
cũng bao gồm biện pháp trợ cấp tiền mặt cho các hộ nghèo nhân dịp Tết Nguyên
đán, thời điểm những người lao động di cư trở về nhà đón Tết. Các biện pháp kích
cầu tiếp theo được đưa ra vào tháng 2/2009, bao gồm chương trình hỗ trợ lãi suất
ngắn hạn được áp dụng để tái cấp vốn cho các khoản nợ mà doanh nghiệp đã phải
vay với các điều khoản khó khăn trong giai đoạn bình ổn. Đồng thời Bộ Tài chính
đã tập trung ứng trước ngân sách nhà nước, tăng chi từ vốn trái phiếu Chính phủ,
chuyển vốn đầu tư thuộc kế hoạch năm 2008 sang năm 2009. Nhờ đó nền kinh tế
Việt Nam đã vượt qua đáy khủng hoảng vào quý 1/2009 với tốc độ tăng trưởng
kinh tế năm 2009 đạt 5,3%, tỷ lệ lạm phát đã giảm còn 6,88% từ 23% năm 2008,
đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế có cao hơn đạt 6,8% nhưng tỷ lệ lạm phát
cũng có dấu hiệu tăng ở mức 9,19%; thị trường chứng khoán và các hoạt động dịch
vụ tài chính, ngân hàng được phục hồi từng bước.

Hình 3.2: Thâm hụt ngân sách Việt Nam 1990 – 2010

48

(tỷ lệ phần trăm thâm hụt ngân sách so với GDP)

Thâm hụt ngân sách (% so với GDP)
9,0%

Thâm hụt ngân sách
(% so với GDP)

8,0%
7,0%
6,0%
5,0%
4,0%
3,0%
2,0%
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

2010

Năm

Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Tài chính
Rõ ràng rằng việc thực thi chính sách tài khóa thắt chặt hay mở rộng với
những qui mô, biện pháp khác nhau ở từng giai đoạn đều hướng tới xây dựng một
nền tài chính an toàn, lành mạnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống,
ổn định xã hội.
3.3. Thực trạng tài khoản vãng lai tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010
Tài khoản vãng lai của Việt nam liên tục bị thâm hụt liên tục trong nhiều
năm qua (trừ năm 1999 – 2001). Đáng chú ý là mức thâm hụt vào năm 1994 đạt đến
mức báo động (hơn 11% so với GDP). Là một nước đang phát triển, Việt Nam rất
cần các khoản đầu tư to lớn để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, tuy nhiên do nền
kinh tế có xuất phát điểm thấp, thu nhập thấp nên tổng tiết kiệm trong nước không
bao giờ bù đắp nổi tổng đầu tư quốc gia. Để bù đắp khoảng thâm hụt này, bình

49

quân mỗi năm Việt Nam sẽ phải đi vay nước ngoài một khoản vay tương ứng
khoảng từ 4% - 7% GDP. Do vậy, thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam trong
một thời gian dài là sự thiếu hụt giữa tiết kiệm và đầu tư. Đây cũng là một nguyên
nhân chính khiến nợ công của Việt Nam đang ở mức cao so với nhiều nước trong
khu vực.
Hình 3.3: Thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam (1990 – 2010)
(tỷ lệ phần trăm thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP)

14.0%
12.0%
10.0%

% thâm hụt TKVL so với GDP

8.0%
6.0%
4.0%

Thâm hụt TK
vãng lai (% so
với GDP)

2.0%
0.0%
-2.0%
-4.0%
-6.0%
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

2010

Năm

Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Hiện trạng cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu bao gồm cán cân thương
mại hàng hóa và cán cân chuyển khoản, còn cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập
tương đối nhỏ. Xét về nội dung cấu thành trong cán cân tài khoản vãng lai, thâm
hụt tài khoản vãng lai Việt Nam trong những năm qua chủ yếu là do thâm hụt cán
cân thương mại hàng hóa. Điều này xảy ra là do nhu cầu nhập khẩu các máy móc
thiết bị, nhu cầu nhập khẩu cho mục tiêu đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng tăng,
năng lực sản xuất hàng hóa dịch vụ xuất khẩu bị hạn chế.